Bước tới nội dung

Crystal Palace F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Crystal Palace
Tên đầy đủCâu lạc bộ Bóng đá Crystal Palace
Biệt danhNhững chú đại bàng, Glaziers, Palace
Thành lập10 tháng 9 năm 1905; 120 năm trước (1905-09-10)
SânSelhurst Park
Sức chứa26.309
Các đồng chủ tịchJason Wong
Người quản lýOliver Glasner
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024–25Ngoại hạng Anh, thứ 12 trên 20
Websitehttp://www.cpfc.co.uk/
Mùa giải hiện nay

Crystal Palace F.C. là 1 câu lạc bộ bóng đá Anh ở phía nam Luân Đôn, Anh. Mùa giải 2012-2013, Palace vô địch giải Hạng nhất Anh, thăng hạng và lên chơi ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau khi đánh bại Watford F.C. ở trận play-off.[1] Màu sắc của đội là đỏ và xanh mặc dù có một chút màu rượu nho, xanh nhạt của Aston Villa F.C. ở những năm đầu,những năm sau đó Palace có áo màu trắng lấy cảm hứng từ Real Madrid F.C.. Câu lạc bộ được các công nhân thành lập vào năm 1905 tại Cung điện Thủy tinhLuân Đôn.

Giai đoạn thành công gần đây nhất của câu lạc bộ là giai đoạn 1988-1989 khi họ giành vị trí thứ ba ở Giải hạng hai và sau đó được thăng lên Giải hạng nhất. Đội tiến sâu vào chung kết Cúp FA năm 1990 và chỉ chịu thua trong trận replay gặp Manchester United. Họ xếp thứ ba ở Giải hạng nhất mùa bóng 1990-1991. Crystal Palace là thành viên sáng lập Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (1992-1993) nhưng lại bị xuống hạng cuối giải đấu đó. Tính đến nay, đội đã xen kẽ bị giáng hạng và thăng hạng lên Giải Ngoại hạng đến 4 lần. Lần xuống hạng gần đây nhất là mùa bóng 2004-2005.

Ban đầu sân nhà của Crystal Palace là ở The Crystal Palace, nhưng do Chiến tranh thế giới lần thứ nhất buộc họ phải dời đi nơi khác, và họ đã có một mùa giải chơi ở hai sân nhà là Herne Hill VelodromeThe Nest. Từ năm 1925, sân nhà của Palace là ở Selhurst Park.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Crystal Palace vốn là một đội bóng nghiệp dư được thành lập vào năm 1861 và là một trong những CLB đầu tiên thi đấu ở Cúp FA,vào được tới bán kết, và bị đánh bại bởi CLB Royal Engineers A.F.C.. Đội biến mất khỏi Cúp FA (không được thi đấu) khi để thua Wanderers 3-0 ở vòng hai Cúp FA 1875-1876, nhưng đây không phải là lần cuối Palace chơi ở FA Cup. Năm 1985, sân nhà của trận chung kết Cúp FA là ở The Crystal Palace, các ông chủ đã có ý tưởng để cho đội bóng được chơi ở Cúp FA một lần nữa.

Ban đầu, biệt danh của CLB là "The Glazier", được đặt vào ngày 10 tháng 9 năm 1905 theo sự chỉ dẫn của trợ lý thư ký Aston Villa Edmun Goodman. CLB được chơi cho Giải bóng đá hạng nhất Anh cùng với ChelseaSouthampton. Đội rớt hạng xuống Giải hạng nhì Anh ở mùa 1905-1906, nhưng đã giành chức vô địch ở mùa giải đầu tiên và được thăng hạng trở lại.

Đội hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến ngày 2 tháng 2 năm 2026[2][3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Anh Dean Henderson (đội trưởng)
2 HV Colombia Daniel Muñoz
3 HV Anh Tyrick Mitchell
5 HV Pháp Maxence Lacroix (đội phó)
7 Sénégal Ismaïla Sarr
8 TV Colombia Jefferson Lerma
9 Anh Eddie Nketiah
10 TV Tây Ban Nha Yéremy Pino
11 Wales Brennan Johnson
12 Nigeria Christantus Uche (cho mượn từ Getafe)
14 Pháp Jean-Philippe Mateta
17 HV Anh Nathaniel Clyne
18 TV Nhật Bản Kamada Daichi
19 TV Anh Will Hughes (đội phó)
20 TV Anh Adam Wharton
22 Na Uy Jørgen Strand Larsen
Số VT Quốc gia Cầu thủ
23 HV Pháp Jaydee Canvot
24 HV Croatia Borna Sosa
26 HV Hoa Kỳ Chris Richards
28 TV Mali Cheick Doucouré
29 Bờ Biển Ngà Evann Guessand (cho mượn từ Aston Villa)
31 TM Anh Remi Matthews
34 HV Maroc Chadi Riad
38 HV Anh Caleb Kporha
42 TV Anh Kaden Rodney
44 TM Argentina Walter Benítez
55 TV Bắc Ireland Justin Devenny
59 HV Trinidad và Tobago Rio Cardines
60 HV Cộng hòa Ireland George King
72 HV Anh Dean Benamar
73 Anh Benjamin Casey
86 Anh Joél Drakes-Thomas

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Anh Owen Goodman (cho Huddersfield Town mượn đến hết mùa giải 2025–26)

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Anh Owen Goodman (cho Barnsley mượn đến hết mùa giải 2025–26)
TM Anh Joe Whitworth (cho Exeter City mượn đến hết mùa giải 2025–26)
HV Cộng hòa Ireland Tayo Adaramola (cho Sheffield Wednesday mượn đến hết mùa giải 2025–26)
HV Anh Danny Imray (cho West Brom mượn đến hết mùa giải 2025–26)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Brasil Matheus França (cho Vasco da Gama mượn đến hết mùa giải 2025–26)
TV Anh David Ozoh (cho Derby County mượn đến hết mùa giải 2025–26)
Anh Romain Esse (cho Coventry City mượn đến hết mùa giải 2025–26)
Anh Jesurun Rak-Sakyi (cho Stoke City until end of 2025-26 season)

Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình được bầu chọn bởi người hâm mộ.[4]

Cầu thủ của năm

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Người chiến thắng
1972 Scotland John McCormick
1973 Scotland Tony Taylor
1974 Anh Peter Taylor
1975 Anh Derek Jeffries
1976 Anh Peter Taylor
1977 Anh Kenny Sansom
1978 Scotland Jim Cannon
1979 Anh Kenny Sansom
1980 Anh Paul Hinshelwood
1981 Anh Paul Hinshelwood
1982 Anh Paul Barron
1983 Cộng hòa Ireland Jerry Murphy
1984 Anh Billy Gilbert
1985 Scotland Jim Cannon
1986 Scotland George Wood
Năm Người chiến thắng
1987 Scotland Jim Cannon
1988 Anh Geoff Thomas
1989 Anh Ian Wright
1990 Anh Mark Bright
1991 Anh Geoff Thomas
1992 Cộng hòa Ireland Eddie McGoldrick
1993 Anh Andy Thorn
1994 Wales Chris Coleman
1995 Anh Richard Shaw
1996 Anh Andy Roberts
1997 Scotland David Hopkin
1998 Anh Marc Edworthy
1999 Anh Hayden Mullins
2000 Anh Andy Linighan
2001 Trung Quốc Phạm Chí Nghị
Năm Người chiến thắng
2002 Scotland Dougie Freedman
2003 Anh Hayden Mullins
2004 Anh Andrew Johnson
2005 Anh Andrew Johnson
2006 Barbados Emmerson Boyce
2007 Guyana Leon Cort
2008 Argentina Julián Speroni
2009 Argentina Julián Speroni
2010 Argentina Julián Speroni
2011 Anh Nathaniel Clyne
2012 Na Uy Jonathan Parr
2013 Úc Mile Jedinak
2014 Argentina Julián Speroni
2015 Anh Scott Dann
2016 Bờ Biển Ngà Wilfried Zaha
Năm Người chiến thắng
2017 Bờ Biển Ngà Wilfried Zaha
2018 Bờ Biển Ngà Wilfried Zaha
2019 Anh Aaron Wan-Bissaka
2020 Ghana Jordan Ayew
2021 Tây Ban Nha Vicente Guaita
2022 Anh Conor Gallagher
2023 Mali Cheick Doucouré
2024 Pháp Jean-Philippe Mateta
2025 Colombia Daniel Muñoz

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Palace lên hạng Lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine, Đài tiếng nói Việt Nam
  2. ^ "First-Team Squad". Crystal Palace Football Club.
  3. ^ "Palace confirm 22/23 squad numbers - with Doucouré, Richards, Ebiowei and Johnstone - News". Crystal Palace F.C. (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2022.
  4. ^ "Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại". CPFC. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “upper-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="upper-alpha"/> tương ứng