Crystal Palace F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Crystal Palace
200px
Tên đầy đủ Câu lạc bộ Bóng đá Crystal Palace
Biệt danh Những chú đại bàng, Glaziers, Palace
Thành lập 10 tháng 9, 1905; 111 năm trước
Sân vận động Selhurst Park
Sức chứa sân 26.309
Các đồng chủ tịch Jason Wong
Quản lý Frank de Boer
Giải đấu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
Mùa giải 2015-16 Giải bóng đá Ngoại Hạng Anh, thứ 15
Website Trang chủ của câu lạc bộ
Sân khách

Crystal Palace F.C. là 1 câu lạc bộ bóng đá Anh ở phía nam Luân Đôn, Anh. Mùa giải 2012-2013, Palace vô địch giải Hạng nhất Anh, thăng hạng và lên chơi ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau khi đánh bại Watford F.C. ở trận play-off[1].Màu sắc của đội là đỏ và xanh mặc dù có một chút màu rượu nho, xanh nhạt của Aston Villa F.C. ở những năm đầu,những năm sau đó Palace có áo màu trắng lấy cảm hứng từ Real Madrid F.C.. Câu lạc bộ được các công nhân thành lập vào năm 1905 tại Cung điện Thủy tinhLuân Đôn.

Giai đoạn thành công gần đây nhất của câu lạc bộ là giai đoạn 1988-1989 khi họ giành vị trí thứ ba ở Giải hạng hai và sau đó được thăng lên Giải hạng nhất. Đội tiến sâu vào chung kết Cúp FA năm 1990 và chỉ chịu thua trong trận replay gặp Manchester United. Họ xếp thứ ba ở Giải hạng nhất mùa bóng 1990-1991. Crystal Palace là thành viên sáng lập Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (1992-1993) nhưng lại bị xuống hạng cuối giải đấu đó. Tính đến nay, đội đã xen kẽ bị giáng hạng và thăng hạng lên Giải Ngoại hạng đến 4 lần. Lần xuống hạng gần đây nhất là mùa bóng 2004-2005.

Ban đầu sân nhà của Crystal Palace là ở The Crystal Palace, nhưng do Chiến tranh thế giới lần thứ nhất buộc họ phải dời đi nơi khác, và họ đã có một mùa giải chơi ở hai sân nhà là Herne Hill VelodromeThe Nest. Từ năm 1925, sân nhà của Palace là ở Selhurst Park.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Crystal Palace vốn là một đội bóng nghiệp dư được thành lập vào năm 1861 và là một trong những CLB đầu tiên thi đấu ở Cúp FA,vào được tới bán kết, và bị đánh bại bởi CLB Royal Engineers A.F.C.. Đội biến mất khỏi Cúp FA (không được thi đấu) khi để thua Wanderers 3-0 ở vòng hai Cúp FA 1875-1876, nhưng đây không phải là lần cuối Palace chơi ở FA Cup. Năm 1985, sân nhà của trận chung kết Cúp FA là ở The Crystal Palace, các ông chủ đã có ý tưởng để cho đội bóng được chơi ở Cúp FA một lần nữa.

Ban đầu, biệt danh của CLB là "The Glazier", được đặt vào ngày 10 tháng 9 năm 1905 theo sự chỉ dẫn của trợ lý thư ký Aston Villa Edmun Goodman. CLB được chơi cho Giải bóng đá hạng nhất Anh cùng với ChelseaSouthampton. Đội rớt hạng xuống Giải hạng nhì Anh ở mùa 1905-1906, nhưng đã giành chức vô địch ở mùa giải đầu tiên và được thăng hạng trở lại.

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 22 tháng 8 năm 2015.[2]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Argentina TM Julián Speroni
2 Anh HV Joel Ward
3 Jamaica HV Adrian Mariappa
4 Na Uy HV Brede Hangeland
6 Anh HV Scott Dann (Đội phó 3)
7 Pháp TV Yohan Cabaye
9 Anh Fraizer Campbell
10 Cộng hòa Dân chủ Congo TV Yannick Bolasie
11 Anh TV Wilfried Zaha
12 Anh TM Alex McCarthy
13 Wales TM Wayne Hennessey
14 Hàn Quốc TV Lee Chung-yong
15 Úc TV Mile Jedinak (Đội trưởng)
Số áo Vị trí Cầu thủ
16 Anh Dwight Gayle
18 Scotland TV James McArthur
19 Anh HV Zeki Fryers
21 Anh Connor Wickham
22 Anh TV Jordon Mutch
23 Sénégal HV Pape Souaré
26 Mali TV Bakary Sako
27 Cộng hòa Ireland HV Damien Delaney (Đội phó)
28 Wales TV Joe Ledley
29 Maroc Marouane Chamakh
32 Ghana Kwesi Appiah
34 Anh HV Martin Kelly
42 Anh TV Jason Puncheon
Pháp Loïc Rémy (cho mượn từ Chelsea)

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
5 Cộng hòa Ireland HV Paddy McCarthy (tới Preston North End đến ngày 2 tháng 1 năm 2016)
20 Wales TV Jonathan Williams (tới Nottingham Forest đến ngày 2 tháng 1 năm 2016)
36 Anh TV Hiram Boateng (tới Plymouth Argyle đến ngày 2 tháng 1 năm 2016)
37 Anh TV Sullay Kaikai (tới Shrewsbury Town)
41 Anh TV Jake Gray (tới Hartlepool United đến ngày 5 tháng 12 năm 2015)
43 Anh Keshi Anderson (tới Doncaster Rovers đến tháng 1 năm 2016)
Số áo Vị trí Cầu thủ
44 Anh HV Luke Croll (tới Plymouth Argyle đến ngày 2 tháng 1 năm 2016)
45 Anh HV Ryan Inniss (tới Port Vale đến hết mùa giải 2015–16)
Anh HV Jack Hunt (tới Sheffield Wednesday đến hết mùa giải 2015–16)
Anh HV Jerome Binnom-Williams (tới Burton Albion đến hết mùa giải 2015–16)
Scotland TM Chris Kettings (tới Bromley đến hết mùa giải 2015–16)
Anh HV Christian Scales (tới Crawley Town)

Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình được bầu chọn bởi người hâm mộ.[3]

Cầu thủ của năm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Người chiến thắng
1972 Scotland John McCormick
1973 Scotland Tony Taylor
1974 Anh Peter Taylor
1975 Anh Derek Jeffries
1976 Anh Peter Taylor
1977 Anh Kenny Sansom
1978 Scotland Jim Cannon
1979 Anh Kenny Sansom
1980 Anh Paul Hinshelwood
1981 Anh Paul Hinshelwood
1982 Anh Paul Barron
1983 Cộng hòa Ireland Jerry Murphy
1984 Anh Billy Gilbert
1985 Scotland Jim Cannon
1986 Scotland George Wood
Năm Người chiến thắng
1987 Scotland Jim Cannon
1988 Anh Geoff Thomas
1989 Anh Ian Wright
1990 Anh Mark Bright
1991 Anh Geoff Thomas
1992 Cộng hòa Ireland Eddie McGoldrick
1993 Anh Andy Thorn
1994 Wales Chris Coleman
1995 Anh Richard Shaw
1996 Anh Andy Roberts
1997 Scotland David Hopkin
1998 Anh Marc Edworthy
1999 Anh Hayden Mullins
2000 Anh Andy Linighan
2001 Trung Quốc Phạm Chí Nghị
Năm Người chiến thắng
2002 Scotland Dougie Freedman
2003 Anh Hayden Mullins
2004 Anh Andrew Johnson
2005 Anh Andrew Johnson
2006 Barbados Emmerson Boyce
2007 Guyana Leon Cort
2008 Argentina Julián Speroni
2009 Argentina Julián Speroni
2010 Argentina Julián Speroni
2011 Anh Nathaniel Clyne
2012 Na Uy Jonathan Parr
2013 Úc Mile Jedinak

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Palace lên hạng, Đài tiếng nói Việt Nam
  2. ^ “Crystal Palace FC Player Profiles”. Crystal Palace F.C. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  3. ^ “Đội hình xuất sắc nhất:mọi thời đại”. CPFC. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.