Crystal Palace F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Crystal Palace
Tập tin:Chelsea FC logo.png
Tên đầy đủCâu lạc bộ Bóng đá Crystal Palace
Biệt danhNhững chú đại bàng, Glaziers, Palace
Thành lập10 tháng 9 năm 1905; 116 năm trước (1905-09-10)
SânSelhurst Park
Sức chứa26.309
Các đồng chủ tịchJason Wong
Người quản lýRoy Hodgson
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2019-20Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 14 trên 20
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

Crystal Palace F.C. là 1 câu lạc bộ bóng đá Anh ở phía nam Luân Đôn, Anh. Mùa giải 2012-2013, Palace vô địch giải Hạng nhất Anh, thăng hạng và lên chơi ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau khi đánh bại Watford F.C. ở trận play-off[1].Màu sắc của đội là đỏ và xanh mặc dù có một chút màu rượu nho, xanh nhạt của Aston Villa F.C. ở những năm đầu,những năm sau đó Palace có áo màu trắng lấy cảm hứng từ Real Madrid F.C.. Câu lạc bộ được các công nhân thành lập vào năm 1905 tại Cung điện Thủy tinhLuân Đôn.

Giai đoạn thành công gần đây nhất của câu lạc bộ là giai đoạn 1988-1989 khi họ giành vị trí thứ ba ở Giải hạng hai và sau đó được thăng lên Giải hạng nhất. Đội tiến sâu vào chung kết Cúp FA năm 1990 và chỉ chịu thua trong trận replay gặp Manchester United. Họ xếp thứ ba ở Giải hạng nhất mùa bóng 1990-1991. Crystal Palace là thành viên sáng lập Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (1992-1993) nhưng lại bị xuống hạng cuối giải đấu đó. Tính đến nay, đội đã xen kẽ bị giáng hạng và thăng hạng lên Giải Ngoại hạng đến 4 lần. Lần xuống hạng gần đây nhất là mùa bóng 2004-2005.

Ban đầu sân nhà của Crystal Palace là ở The Crystal Palace, nhưng do Chiến tranh thế giới lần thứ nhất buộc họ phải dời đi nơi khác, và họ đã có một mùa giải chơi ở hai sân nhà là Herne Hill VelodromeThe Nest. Từ năm 1925, sân nhà của Palace là ở Selhurst Park.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Crystal Palace vốn là một đội bóng nghiệp dư được thành lập vào năm 1861 và là một trong những CLB đầu tiên thi đấu ở Cúp FA,vào được tới bán kết, và bị đánh bại bởi CLB Royal Engineers A.F.C.. Đội biến mất khỏi Cúp FA (không được thi đấu) khi để thua Wanderers 3-0 ở vòng hai Cúp FA 1875-1876, nhưng đây không phải là lần cuối Palace chơi ở FA Cup. Năm 1985, sân nhà của trận chung kết Cúp FA là ở The Crystal Palace, các ông chủ đã có ý tưởng để cho đội bóng được chơi ở Cúp FA một lần nữa.

Ban đầu, biệt danh của CLB là "The Glazier", được đặt vào ngày 10 tháng 9 năm 1905 theo sự chỉ dẫn của trợ lý thư ký Aston Villa Edmun Goodman. CLB được chơi cho Giải bóng đá hạng nhất Anh cùng với ChelseaSouthampton. Đội rớt hạng xuống Giải hạng nhì Anh ở mùa 1905-1906, nhưng đã giành chức vô địch ở mùa giải đầu tiên và được thăng hạng trở lại.

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 8 tháng 9 năm 2021[2][3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Anh Jack Butland
2 HV Anh Joel Ward
3 HV Hà Lan Tyrick Mitchell
4 TV Serbia Luka Milivojević (Đội trưởng)
5 HV Anh James Tomkins
6 HV Anh Marc Guéhi
6 HV Anh Marc Guéhi
7 TV Pháp Michael Olise
8 HV Sénégal Cheikhou Kouyaté
9 Ghana Jordan Ayew
10 TV Anh Eberechi Eze
11 Bờ Biển Ngà Wilfried Zaha
12 TV Anh Will Hughes
13 TM Tây Ban Nha Vicente Guaita
14 Pháp Jean-Philippe Mateta (mượn từ Mainz 05)
15 TV Ghana Jeffrey Schlupp
Số VT Quốc gia Cầu thủ
16 HV Đan Mạch Joachim Andersen
17 HV Anh Nathaniel Clyne
18 TV Scotland James McArthur (Đội phó)
19 TM Anh Remi Matthews
20 Bỉ Christian Benteke
22 Pháp Odsonne Édouard
23 TV Anh Conor Gallagher (Mượn từ Chelsea)
34 HV Anh Martin Kelly
36 HV Anh Nathan Ferguson
40 TV Scotland Scott Banks
43 HV Anh Reece Hannam
44 TV Hà Lan Jaïro Riedewald
46 Anh Robert Street
49 TV Anh Jesurun Rak-Sakyi

Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình được bầu chọn bởi người hâm mộ.[4]

Cầu thủ của năm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Người chiến thắng
1972 Scotland John McCormick
1973 Scotland Tony Taylor
1974 Anh Peter Taylor
1975 Anh Derek Jeffries
1976 Anh Peter Taylor
1977 Anh Kenny Sansom
1978 Scotland Jim Cannon
1979 Anh Kenny Sansom
1980 Anh Paul Hinshelwood
1981 Anh Paul Hinshelwood
1982 Anh Paul Barron
1983 Cộng hòa Ireland Jerry Murphy
1984 Anh Billy Gilbert
1985 Scotland Jim Cannon
1986 Scotland George Wood
Năm Người chiến thắng
1987 Scotland Jim Cannon
1988 Anh Geoff Thomas
1989 Anh Ian Wright
1990 Anh Mark Bright
1991 Anh Geoff Thomas
1992 Cộng hòa Ireland Eddie McGoldrick
1993 Anh Andy Thorn
1994 Wales Chris Coleman
1995 Anh Richard Shaw
1996 Anh Andy Roberts
1997 Scotland David Hopkin
1998 Anh Marc Edworthy
1999 Anh Hayden Mullins
2000 Anh Andy Linighan
2001 Trung Quốc Phạm Chí Nghị
Năm Người chiến thắng
2002 Scotland Dougie Freedman
2003 Anh Hayden Mullins
2004 Anh Andrew Johnson
2005 Anh Andrew Johnson
2006 Barbados Emmerson Boyce
2007 Guyana Leon Cort
2008 Argentina Julián Speroni
2009 Argentina Julián Speroni
2010 Argentina Julián Speroni
2011 Anh Nathaniel Clyne
2012 Na Uy Jonathan Parr
2013 Úc Mile Jedinak

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Palace lên hạng[liên kết hỏng], Đài tiếng nói Việt Nam
  2. ^ “First-team 2018/19”. Crystal Palace F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018.
  3. ^ “2017/18 Squad Numbers Announced”. Crystal Palace F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
  4. ^ “Đội hình xuất sắc nhất:mọi thời đại”. CPFC. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.