Hull City A.F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hull City Tigers
Tập tin:Hull City Crest 2014.svg
Tên đầy đủ Hull City Tigers Association Football Club
Biệt danh The Tigers
Thành lập 1904
Sân vận động Sân vận động KCOM
Kingston-upon Hull
Sức chứa sân 25.404[1]
Chủ tịch Assem Allam
Huấn luyện viên Nigel Adkins
Giải đấu Football League Championship
2016-17 Premier League, hạng 18 (xuống hạng)
Website Trang chủ của câu lạc bộ
Sân khách
Khác
Mùa giải hiện nay

Hull City Tigers (Tên đầy đủ: Hull City Tigers Association Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá Anh tại Yorkshire. Hull City được thành lập vào năm 1904. Mùa giải đầu tiên của Hull với tư cách là câu lạc bộ chuyên nghiệp bao gồm chỉ có một trận đấu giao hữu. Vì có màu áo thi đấu là màu vàng và có sọc đen nên câu lạc bộ còn được mệnh danh là 'The Tigers', nghĩa là 'Những chú hổ'. Dưới triều đại của Phil Brown, Hull City đã được phát triển rất nhiều về mọi mặt trong trận chiến trụ hạng mùa giải 2006-2007 và đủ điều kiện để tham gia trận play-offs sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 3. Họ đã thắng Watford 6-1 tại bán kết và thắng Bristol City 1-0 với bàn thắng của Dean Windass tại trận chung kết được tổ chức tại sân vận động Wembley, Anh.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động KCOM về đêm

Trong mùa giải 1904-1905, Hull chơi trên sân The Boulevard, nhưng sau này sân được sử dụng cho môn Bóng bầu dục nên họ phải xây một sân vận động mới. Và sân vận động mới có tên là Anlaby Road được khánh thành vào năm 1906. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, sân vận động bị phá hủy bởi chiến dịch Blitz, và câu lạc bộ đã xây thêm một sân vận động mới là Boothferry Road. Vào ngày 31 tháng 8 năm 1946, sân vận động được đổi tên thành Boothferry Park. Sau này Hull City chuyển đến sân vận động KC tại Yorkshire.

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 27 tháng 02 năm 2018

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Scotland TM Allan McGregor
2 Anh TV Moses Odubajo
3 Cộng hòa Séc HV Ondřej Mazuch
4 Úc HV Jackson Irvine
5 Jamaica HV Michael Hector
7 Ba Lan TV Kamil Grosicki
8 Cộng hòa Ireland TV David Meyler
9 Mali Nouha Dicko
10 Uruguay Abel Hernández
11 Tây Ban Nha TV Jon Toral
12 Scotland TM David Marshall
13 Anh TM William Mannion
14 Na Uy Adama Diomande
Số áo Vị trí Cầu thủ
15 Brasil TV Evandro Goebel
16 Thụy Điển TV Sebastian Larsson
17 Anh TV James Weir
18 Anh TV Daniel Batty
19 Anh Will Keane
20 Anh Jarrod Bowen
21 Anh HV Michael Dawson
22 Na Uy TV Markus Henriksen
23 Anh Greg Luer
24 Anh HV Max Clark
25 Anh Fraizer Campbell
26 Anh TV Greg Olley
27 Anh HV Josh Clackstone
28 Anh HV Stephen Kingsley
29 Anh HV Fikayo Tomori
30 Anh HV Brian Lenihan
34 Nigeria HV Ola Aina
35 Anh TV Kevin Stewart
36 Anh TM Callum Burton
49 Anh TV Harry Wilson
50 Anh HV Angus MacDonald
74 Thụy Sĩ TV Tizag Henry

Cầu thủ của Năm[sửa | sửa mã nguồn]

Michael Turner, Cầu thủ của Năm trong mùa giải 2007-08 và 2008-09
Năm Winner
1999–2000 Anh Mark Greaves[2]
2000–01 Jamaica Ian Goodison
2001–02 Anh Gary Alexander
2002–03 Bắc Ireland Stuart Elliott
2003–04 Cộng hòa Ireland Damien Delaney
2004–05 Bắc Ireland Stuart Elliott
2005–06 Wales Boaz Myhill
2006–07 Anh Andy Dawson
2007–08 Anh Michael Turner
2008–09 Anh Michael Turner
2009–10 Cộng hòa Ireland Stephen Hunt
2010–11 Cộng hòa Ireland Anthony Gerrard
2011–12 Slovenia Robert Koren
2012–13 Ai Cập Ahmed Elmohamady[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Kingston Communications Stadium - Facts”. Kingston Communications. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ Beill, Andy (ngày 27 tháng 8 năm 2002). “Greaves Goes”. Hull City Mad. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ “Who were the winners at our official awards evening?”. Hull City A.F.C. Ngày 20 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]