Brighton & Hove Albion F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Brighton & Hove Albion
Brighton & Hove Albion logo.svg
Tên đầy đủBrighton & Hove Albion Football Club
Biệt danhThe Seagulls, Albion
Thành lập24 tháng 6 năm 1901; 120 năm trước (1901-06-24)
SânSân vận động Falmer
Sức chứa30,750
Chủ tịch điều hànhTony Bloom
Người quản lýGraham Potter
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2019-20Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 15 trên 20
Trang webTrang web của câu lạc bộ

Câu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion (tiếng Anh: Brighton & Hove Albion Football Club /ˈbrtən ən ˈhv/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại thành phố Brighton and Hove, East Sussex, Anh, thường được gọi đơn giản là Brighton. Mùa 2017–18, câu lạc bộ sẽ thi đấu tại Ngoại hạng Anh, giải đấu cao nhất trong hệ thống các giải bóng đá Anh, các trận đấu của họ diễn ra trên sân vận động 30,750 chỗ ngồi sân Falmer, còn được gọi theo tên nhà tài trợ là Sân vận động American Express Community, hay ngắn gọn là Amex. Họ sẽ có lần đầu ra mắt tại Ngoại hạng Anh vào mùa giải 2017–18 sau khi giành vé lên hạng trực tiếp từ EFL Championship.

Đội có biệt danh là "Seagulls" hay "Albion". Đội có truyền thống thi đấu với màu áo xanh với sọc trắng, trong những năm 1970 đổi sang toàn trắng và trở lại màu truyền thống trong giai đoạn thành công nhất lịch sử những năm 1980.[1] Crystal Palace được coi là đối thủ chính của đội, mặc dù sân bóng của hai đội cách nhau 40 dặm.[2][3]

Được thành lập năm 1901, Brighton thi đấu những mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên ở Southern League trước khi được chọn để thi đấu tại Football League năm 1920. Câu lạc bộ có giai đoạn thi đấu đầy hứa hẹn trong giai đoạn 1979 tới 1983 khi họ thi đấu tại First Division vào tới Chung kết Cúp FA 1983, để thua Manchester United sau trận đá lại.[4] Họ sau đó xuống hạng vào cuối mùa.

Do sự quản lý kém Brighton suýt xuống hạng từ Football League xuống Conference trong năm 1997 và 1998. Ban giám đốc sau đó cứu Brighton khỏi nợ nần, sau khi lên hạng liên tiếp họ trở lại hạng Nhất năm 2002, và kể từ đó họ thi đấu ở hạng nhất và hạng nhì kể từ đó đến mùa 2016–17, nơi họ giành quyền lên Premier League lần đầu tiên trong lịch sử ngày 17 tháng 4 năm 2017. Kết thúc 34 năm vắng bóng tại giải đấu cao nhất của Brighton.

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 8 tháng 9 năm 2021[5]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Tây Ban Nha Robert Sánchez
2 HV Anh Tariq Lamptey
3 HV Tây Ban Nha Marc Cucurella
4 HV Anh Adam Webster (Đội phó)
5 HV Anh Lewis Dunk (Đội trưởng)[6]
7 Cộng hòa Ireland Aaron Connolly
8 TV Mali Yves Bissouma
9 Pháp Neal Maupay
10 TV Argentina Alexis Mac Allister
11 TV Bỉ Leandro Trossard
12 TV Zambia Enock Mwepu
13 TV Đức Pascal Groß
Số VT Quốc gia Cầu thủ
14 TV Anh Adam Lallana
15 TV Ba Lan Jakub Moder
16 TM Hà Lan Kjell Scherpen
17 TV Colombia Steven Alzate
18 Anh Danny Welbeck
20 HV Anh Solly March
23 TM Anh Jason Steele
24 HV Cộng hòa Ireland Shane Duffy
33 HV Anh Dan Burn
34 HV Hà Lan Joël Veltman
Hà Lan Jürgen Locadia

Cầu thủ đang cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
6 HV Ba Lan Michał Karbownik (cho mượn tại Olympiacos đến hết mùa 2021-2022)
19 Thụy Sĩ Andi Zeqiri (cho mượn tại FC Augsburg đến hết mùa 2021-2022)
21 România Florin Andone (cho mượn tại Cádiz đến hết mùa 2021-2022)
25 TV Ecuador Moisés Caicedo (cho mượn tại Beerschot đến hết mùa 2021-2022)
26 TV Đức Reda Khadra (cho mượn tại Blackburn Rovers đến hết mùa 2021-2022)
27 HV Na Uy Leo Skiri Østigård (cho mượn tại Stoke City đến hết mùa 2021-2022)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
29 HV Hà Lan Jan Paul van Hecke (cho mượn tại Blackburn Rovers đến hết mùa 2021-2022)
31 TM Anh Christian Walton (cho mượn tại Ipswich Town đến 31 tháng 5 2022)
HV Anh Matt Clarke (on loan at West Bromwich Albion đến hết mùa 2021-2022)
TV Nhật Bản Kaoru Mitoma (cho mượn tại Royale Union Saint-Gilloiseđến hết mùa 2021-2022)
TV Cộng hòa Ireland Jayson Molumby (cho mượn tại West Bromwich Albion đến hết mùa 2021-2022)
Sénégal Abdallah Sima (cho mượn tại Stoke City đến hết mùa 2021-2022)

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Chris Hughton
Trợ lý HLV Paul Trollope
HLV đội 1 Paul Nevin
HLV thủ môn Ben Roberts
HLV thủ môn đội trẻ Casper Ankergren
HLV đội học viện John Morling
HLV đội dự bị Simon Rusk
HLV đội trẻ Ian Buckman
HLV đội trẻ Vic Bragg
Trưởng bộ phận y tế Adam Brett
Bác sĩ CLB Dr. Stephen Lewis
Nhà khoa học thể thao Martin Springham
Trợ lý vật lý trị liệu Paul Watson
Trợ lý vật lý trị liệu Sam Blanchard
HLV thể lực Thomas Barnden

Ban lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Chủ tịch Tony Bloom
CEO Paul Barber
Giám đốc Ray Bloom
Derek Chapman
Robert Comer
Adam Franks
Marc Sugarman
Peter Godfrey
Giám đốc Paul Barber
Giám đốc tài chính Malcolm Foreman
Chủ tịch danh dự Dick Knight
Thư ký câu lạc bộ Derek Allan

Nguồn: Who's Who

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí của Brighton & Hove Albion

Quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

League[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (3) 1957–58, 2001–02, 2010–11
Vô địch (2) 1964–65, 2000–01
  • Southern Football League
Vô địch (1) 1909–10

Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (1): 1910
Vô địch: (2) 1959–60, 1960–61[note 1]

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn lịch sử Brighton mặc áo mùa xanh & trắng, thường có sọc, kết hợp với quần và tất trắng và xanh.[8]

Từ năm 2014 áo của câu lạc bộ được cung cấp bởi Nike. Trước đó là các nhà sản xuất Bukta (1971-74. 1975-80), Admiral (1974-75, 1994-97), Umbro (1975-77), Adidas (1980-87), Spall (1987-89), Sports Express (1989-91), Ribero (1991-94), Superleague (1997-99), và Erreà (1999-2014). Nhà tài trợ áo đấu hiện tại của họ là American Express. Trước đó là British Caledonian Airways (1980-83), Phoenix Brewery (1983-86), NOBO (1986-91), TSB Bank (1991-93), Sandtex (1993-98), Donatello (1998-99), Skint Records (1999-2008), IT First (2008-11), và BrightonandHoveJobs.com (2011-13).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ đồng danh hiệu với Chichester City năm 1960–61
  1. ^ “Brighton & Hove Albion”. Historical Football Kits. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  2. ^ “Club Rivalries Uncovered Results” (PDF). FootballFanCensus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  3. ^ Burnton, Simon (2011) How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry, The Guardian, 27 September (Accessed Dec 2012)
  4. ^ “1983 FA Cup Final”. Fa-CupFinals.co.uk. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  5. ^ “First team”. Brighton & Hove Albion F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018.
  6. ^ Cleeves, Kieran (19 tháng 8 năm 2018). “Hughton's admiration for Mourinho”. Brighton & Hove Albion F.C. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2018.
  7. ^ “R.U.R. Cup Final Results – Sussex County Football Association”. Sussexcountyleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.
  8. ^ “Brighton & Hove Albion”. Historical Football Kits. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Brighton and Hove Albion F.C.