Barnsley F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Barnsley
Barnsley FC.svg
Tên đầy đủBarnsley Football Club
Biệt danh
  • The Tykes[1]
  • The Colliers[1]
  • The Reds[1]
  • The Super Reds
Thành lập1887; 134 năm trước (1887)
SânOakwell
Sức chứa23.287[2]
Chủ sở hữuInternational Investment Consortium (80%)
James Cryne (20%)
Chủ tịch điều hànhChien Lee (đồng chủ tịch)
Paul Conway (đồng chủ tịch)
Người quản lýDaniel Stendel
Giải đấuChampionship
2019-20Championship, thứ 21 trên 24
Trang webTrang web của câu lạc bộ

Câu lạc bộ bóng đá Barnsley là mọt câu lạc bộ bóng đá Anh nằm ở thị trấn Barnsley, South Yorkshire. Đội bóng thành lập năm 1887 dưới cái tên Barnsley St.Peter's. Màu sắc của câu lạc bộ là đỏ và trắng. Đội đang chơi trên sân nhà Oakwell kể từ năm 1888 đến nay. Hiện tại đội bóng đang thi đấu ở League One (hạng nhì Anh).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Barnsley là đội bóng thi đấu ở giải đấu cấp độ thứ 2 nhiều hơn bất kì đội bóng nào trong lịch sử và đã sản sinh ra rất nhiều nhân tài tìm đến thành công ở các đội bóng khác. Ví dụ như Tommy Taylor, là cây săn bàn nổi bật của Barnsley đầu những năm 1950, sau đó chuyển đến Manchester United và giành được 2 danh hiệu vô địch mùa giải (cũng như ghi 16 bàn trong 19 lần ra sân ở đội tuyển Anh) trước khi bỏ mạng tại thảm họa Munich. Thương vụ của Taylor đến Manchester United khi đó đạt kỉ lục lên đến 29.999 bảng Anh.

Thời quá khứ[sửa | sửa mã nguồn]

Barnsley được thành lập vào năm 1887 bởi mục sư Tiverton Pleedy, thi đấu ở Sheffield and District League từ năm 1890 và sau đó là Midland League từ năm 1895. Họ gia nhập Football League năm 1898, và gặp khó khăn ở Division Two trong 10 năm đầu tiên vì lý do tài chính. Năm 1910, CLB vào đến trận chung kết FA Cup, và thất bại trước Newcastle United ở trận đấu lại. Tuy nhiên, sau đó họ lại vào đến chung kết FA Cup năm 1912 và đánh bại West Bromwich Albion 1–0 ở trận đấu lại để lần đầu tiên và duy nhất cho đến hiện tại vô địch giải đấu này.

Khi mùa giải khởi động lại sau Thế chiến thứ I, mùa giải 1919-20 đã mang lại nhiều thay đổi đáng kể cho giải đấu. Sự khác biệt lớn đó chính là số đội ở First Division tăng từ 20 lên 22 đội. Đội bóng đứng cuối ở mùa trước là Tottenham Hotspur và đúng lý họ bị xuống hạng. Vị trí bổ sung đầu tiên ở First Division thuộc về Chelsea, khi họ đứng thứ 2 từ dưới lên và cũng nằm trong nhóm xuống hạng. Derby County và Preston North End thăng hạng từ Second Division. do đó vẫn còn thiếu một đội bóng nữa. Kết thúc mùa trước ở Second Division ở vị trí thứ 3 (1914–15), Barnsley tràn đầy hi vọng để có vị trí đầu tiên trong lịch sử ở First Division, tuy nhiên thay vào đó Football League đề nghị các đội bóng bỏ phiếu bầu. Henry Norris, người sau đó trở thành chủ tịch của Arsenal, dời đội Woolwich Arsenal từ phía bắc sông Thames về đến Highbury, và cần First Division để thu hút fan hâm mộ đến với ngôi nhà mới của họ. Ông ta sau đó làm một số chuyện mờ ám, bao gồm cả việc bị cáo buộc đã hối lộ một số đội bóng để ủng hộ cho Arsenal. Họ thắng cuộc bỏ phiếu và Barnsley phải chôn mình ở giải đấu cấp 2 của bóng đá Anh thêm tận 8 thập kỷ sau đó.

Tuy nhiên từ những năm đầu đội bóng đã có cơ hội rất gần để thi đấu ở cấp cao nhất, chẳng hạn như năm 1922, họ đánh mất cơ hội thăng hạng khi chỉ thua duy nhất 1 bàn trong hiệu số bàn thắng bại. Từ thập niên 30 đến 50 của thế kỉ XX họ lên xuống ở giải Second Division và Third Division, và thập niên 60 đến 70 họ trôi nổi ở Third Division và Fourth Division, không thể dù chỉ một lần tạo kì tích vươn lên thi đấu ở hai cấp cao nhất của bóng đá Anh nữa.

Từ thập niên 80 đến đầu thập niên 90, CLB đã thi đấu khởi sắc hơn, thăng hạng và một lần nữa lại đứng vững tại Division Two như họ đã từng làm vào thời kì đầu tiên của lịch sử CLB, dần dần đạt đến vị thứ có thể tranh một suất để lần đầu tiên thi đấu ở cấp cao nhất của bóng đá Anh.

Thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn một thập kỉ Barnsley đã trải qua bao nhiêu thăng trầm. Đến cuối mùa giải 1996-97, lần đầu tiên trong lịch sử Barnsley thi đấu ở cấp cao nhất của bóng đá Anh. Tuy nhiên, họ xuống hạng ngay mùa sau đó cho dù đã cố gắng rất nhiều để trụ hạng.

Các năm sau đó Barnsley thi đấu không thành công, khi việc rớt hạng xuống Division Two và vấn đề tài chính đe dọa đến sự tồn tại của CLB. Barnsley chịu tổn thất rất nặng nề do khủng hoảng ITV Digital, dẫn đến việc CLB phá sản năm 2002. Nhờ Peter Doyle, một người sau đó làm thị trưởng của Barnsley, mà CLB tránh khỏi việc phá sản. Doyle sau đó rời khỏi CLB, giao quyền lại cho Gordon Shepherd và doanh nhân địa phương Patrick Cryne. Và cũng có sự thay đổi liên tục các HLV, có khi lên đến không ít 10 HLV trong 10 năm.

Barnsley có cơ hội thi đấu trận chung kết play-off ở Wembley trước khi sân được đóng cửa để sửa chữa, năm 2006, đội bóng giành chiến thắng trận chung kết play-off tại sân Millennium StadiumCardiff, nơi họ đánh bại Swansea City 4–3 trên chấm phạt đền (2–2 sau 2 hiệp phụ) để thăng hạng thi đấu ở Championship. HLV lúc đó là Andy Ritchie, người đang dẫn dắt mùa đầu tiên ở Barnsley thay thế cho Paul Hart.

Đội bóng đã gặp khó khăn trong mùa đầu tiên trở lại với Championship. Vào tháng 11 năm 2006, khi Barnsley đang ở khu vực xuống hạng, Ritchie bị sa thải và thay thế bởi Simon Davey. Davey giúp đội bóng thoát khỏi khu vực nguy hiểm trong nửa cuối mùa giải, kết thúc ở vị trí thứ 20. Mùa tiếp theo, Barnsley với nhiều sự thay đổi đã có hành trình lịch sử tại FA Cup, đánh bại gã khổng lồ của Premier League Liverpool 2–1 ở Anfield và đương kim vô địch Chelsea 1–0 để lọt vào bán kết kể từ năm 1912, tuy nhiên họ nhận thất bại sát nút 1–0 trước Cardiff City tại Wembley.

Barnsley mùa đó tránh khỏi vị trí xuống hạng khỏi Championship trong gang tấc. Sau sự khởi đầu thất bại ở mùa giải 2009–10, Simon Davey bị sa thải và cựu HLV của Rotherham UnitedMark Robinslên nắm quyền.

Sau mùa giải 2010-11 khó khăn, vào tháng 5 năm 2011, Mark Robins từ chức do vấn đề tài chính. Ông được thay thế bởi HLV Rochdale Keith Hill và trợ lý David Flitcroft. Barnsley kết thúc mùa giải 2011–12 với tư cách là một trong hai đội bóng duy nhất thu được lợi nhuận tại Football Championship, trớ trêu thay họ được ở lại bởi vì Portsmouth bị trừ 10 điểm do phá sản. Mùa tiếp theo phong độ của CLB không được cải thiện, Keith Hill bị sa thải ngay trước khi bước qua năm mới.David Flitcroft trở thành HLV tạm quyền, và sau một chuỗi trận cải thiện thành tích (kết hợp với việc Sean O'Driscoll và Terry Butchertừ chối tiếp quản CLB), ông đã được tin tưởng lâu dài cho vị trí HLV.

Mốc thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Số mùa giải trải qua ở cấp độ 1 của hệ thống giải bóng đá Anh: 1
  • Số mùa giải trải qua ở cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá Anh: 76
  • Số mùa giải trải qua ở cấp độ 3 của hệ thống giải bóng đá Anh: 20
  • Số mùa giải trải qua ở cấp độ 4 của hệ thống giải bóng đá Anh: 10

Barnsley là đội bóng thi đấu ở giải đấu cấp độ thứ hai của hệ thống giải bóng đá Anh nhiều hơn bất kì đội bóng nào khác vào ngày 3 tháng 1 năm 2011, Barnsley trở thành đội bóng đầu tiên có 1,000 trận thắng ở cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá Anh với trận thắng 2–1 trên sân nhà trước Coventry City. Barnsley cũng là đội bóng đầu tiên thi đấu 3,000 trận tại cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá Anh (1,028 thắng, 747 hòa, 1,224 thua).

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 1 tháng 7 năm 2019[cần dẫn nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
4 TV Úc Kenny Dougall
8 TV Bắc Ireland Cameron McGeehan
9 Anh Cauley Woodrow
12 HV Guadeloupe Dimitri Cavaré
13 TM Anh Jack Walton
14 TV Anh Jared Bird
15 TV Anh Jordan Green
19 Wales Kieffer Moore
20 TV Anh Callum Styles
21 TV Đức Mike-Steven Bähre
22 HV Anh Jordan Williams
23 HV Tây Ban Nha Daniel Pinillos
26 TV Sénégal Mamadou Thiam
Số VT Quốc gia Cầu thủ
27 TV Anh Alex Mowatt
28 HV Wales Ben Williams
29 Nigeria Victor Adeboyejo
33 TV Anh Jacob Brown
TM Anh Bradley Collins
TM Áo Samuel Şahin-Radlinger
HV Đan Mạch Mads Andersen
HV Sénégal Bambo Diaby
HV Phần Lan Aapo Halme
HV Anh Toby Sibbick
TV Anh Luke Thomas
TV Anh Mallik Wilks
Anh George Miller

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Jack Rollin; Glenda Rollin biên tập (2008). Sky Sports Football Yearbook 2008–2009. Headline Book Publishing. tr. 72. ISBN 9780755318209. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018.
  2. ^ “Barnsley Football Ground Guide”. The Internet Football Ground Guide. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017.