Leeds United F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Leeds United A.F.C.)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Leeds United
Leeds United Logo.png
Tên đầy đủLeeds United Football Club
Biệt danhThe Whites
The Peacocks
Tên ngắn gọnLeeds
Thành lập17 tháng 10 năm 1919; 102 năm trước (1919-10-17)
SânElland Road
Sức chứa37,890[1]
Tọa độ53°46′40″B 1°34′20″T / 53,77778°B 1,57222°T / 53.77778; -1.57222
Chủ sở hữuAser Group Holding (90%)
49ers Enterprises (10%)[2]
Chủ tịch điều hànhAndrea Radrizzani
Huấn luyện viênMarcelo Bielsa
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2019-20Championship, thứ 1 trên 24 (thăng hạng)
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

Leeds United là một câu lạc bộ bóng đá lâu đời ở Leeds, Tây Yorkshire, Anh. Trong quá khứ, Leeds United từng là một câu lạc bộ rất mạnh và giàu thành tích. Đội đã vô địch giải hạng nhất Anh (giải Ngoại hạng hiện nay) năm 1969 và về nhì trong 3 mùa giải sau đó. Tại Cúp FA, Leeds thua Chelsea trong trận đá lại của trận chung kết năm 1970. Mùa giải sau, Leeds giành danh hiệu cao quý này nhưng tiếp tục nhận "trái đắng" trong mùa giải tiếp sau đó khi để đội bóng hạng nhì Sunderland đánh bại trong trận đấu cuối cùng với tỷ số 1-0.

Ở đấu trường châu Âu, Leeds cũng được xem là một "đại gia" với 2 chức vô địch Fairs Cup (bây giờ là Europa League) trong năm 1968 và 1971 và thua Celtic trong trận bán kết năm 1970, cùng với đó là lọt vào trận chung kết cúp C1 năm 1975, trận đấu họ đã để thua trước Bayern Munich. Năm 2001, Leeds đã từng vào đến bán kết Champions League và bị loại bởi Valencia.

Huấn luyện viên Don Revie đã phát triển đội bóng trở thành một thế lực thực sự với việc thu thập nhiều cầu thủ tài năng vào thời điểm đó như Billy Bremner, Jack Charlton hay Norman "Bites Yer Legs" Hunter. Hàng công có sự góp mặt của những chân sút "chết chóc" là Allan Clarke và Mick Jones cùng Peter Lorimer, người được nhớ đến như là cầu thủ có nhiều pha dứt điểm hiểm hóc nhất. Hàng công này hợp cùng hàng tiền vệ với sự góp mặt của Johnny Giles, Eddie Gray và đội trưởng Bremner trở thành một bộ khung tấn công khủng khiếp vào thời điểm đó.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 31 tháng 8 năm 2021[3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Pháp Illan Meslier
2 HV Anh Luke Ayling (đội phó)
3 HV Tây Ban Nha Junior Firpo
4 TV Anh Adam Forshaw
5 HV Đức Robin Koch
6 HV Scotland Liam Cooper (đội trưởng)
7 TV Anh Ian Poveda
9 Anh Patrick Bamford
10 TV Brasil Raphinha
11 Wales Tyler Roberts
13 TM Na Uy Kristoffer Klaesson
14 HV Tây Ban Nha Diego Llorente
15 HV Bắc Ireland Stuart Dallas
Số VT Quốc gia Cầu thủ
17 TV Angola Hélder Costa
19 Tây Ban Nha Rodrigo
20 Anh Daniel James
21 HV Hà Lan Pascal Struijk
22 TV Anh Jack Harrison
23 TV Anh Kalvin Phillips
30 Anh Joe Gelhardt
35 HV Anh Charlie Cresswell
38 TV Hà Lan Crysencio Summerville
42 Anh Sam Greenwood
43 TV Ba Lan Mateusz Klich
46 TV Anh Jamie Shackleton
47 TV Anh Jack Jenkins

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Leeds United”. The Football League. ngày 19 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014.
  2. ^ “San Francisco 49ers Enterprises Become Minority Investor”. Leeds United Football Club. ngày 24 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2018.
  3. ^ “First team”. Leeds United F.C. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2020.