Siêu cúp Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
FA Community Shield
FA Community Shield.JPG
Năm bắt đầu 1908
Khu vực  England
Số đội tham dự 2
Đương kim vô địch Arsenal (14 lần)
Câu lạc bộ thành công nhất Manchester United (20 lần)
Trang chủ FA Community Shield
Soccerball current event.svg Mùa giải hiện tại

Siêu cúp Anh (tiếng Anh: FA Community Shield) là trận đấu hàng năm của nước Anh thường diễn ra đầu mùa giải mới giữa đội vô địch Giải bóng đá ngoại hạng Anh và đội vô địch cúp FA.[1] Nếu mùa giải trước đó một đội vừa vô địch Giải bóng đá ngoại hạng Anhcúp FA thì sẽ đấu với đội nhì bảng Giải bóng đá ngoại hạng Anh. Tên Community Shield là cái tên mới cho cái tên Charity Shield vốn đã có lịch sử 94 năm, việc thay đổi tên này bắt đầu từ giải đấu năm 2002. Trận siêu cúp đầu tiên diễn ra vào năm 1908, đấu lại sau trận hòa 1-1, Manchester United, lúc ấy là đương kim vô địch quốc gia đã thắng đội đoạt chức quán quân giải miền nam Queens Park Rangers với tỷ số đậm 4-0[2].

Đương kim vô địch là Arsenal F.C khi đánh bại Chelsea F.C. với tỉ số 1-0 trong trận Siêu cúp Anh 2015.

Hiện nay Manchester United F.C. đang là đội bóng giành được nhiều siêu cúp Anh nhất với 20 lần, lần gần đây nhất là năm 2013 khi họ đánh bại Wigan Athletic F.C. với tỉ số 2-0[3].

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các đội bóng thành công nhất: Manchester United (16 chiến thắng, 4 chia sẻ), Arsenal (13 chiến thắng, 1 chia sẻ), Liverpool (10 chiến thắng, 5 chia sẻ) và Everton (8 chiến thắng, 1 chia sẻ).
  • Giành chiến thắng với tỷ số cao nhất: Manchester United thắng 8–4 trước Swindon Town trong trận Siêu cúp Anh 1911.[1]
  • Everton giữ kỷ lục chiến thắng liên tiếp: 4 lần từ năm 1984 đến năm 1987. Tuy nhiên, Năm 1986 bị chia sẻ danh hiệu với Liverpool. Manchester United giữ kỷ lục thất bại liên tiếp: 4 từ năm 1998 đến 2001. Trong thời gian này Manchester United giữ kỷ lục chuỗi trận thi đấu liên tiếp nhiều nhất: 6 lần từ năm 1996 đến năm 2001 trong đó có 2 chiến thắng.
  • Thủ môn Pat Jennings của Tottenham ghi bàn vào lưới Manchester United từ vòng cấm của mình trong trận tranh Charity Shield 1967, cả hai đội bóng chia sẻ danh hiệu khi tỷ số hòa 3-3.[1]
  • Leicester CityBrighton & Hove Albion là hai câu lạc bộ duy nhất chỉ giành danh hiệu mà không đoạt Cúp FA hay chức vô địch Quốc gia. Leicester là nhà vô địch giải hạng Hai Anh (xem ở dưới) và Brighton vô địch Southern League.

Nơi thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Sân trung lập và sân khách mời
Sân Số lần Năm
Stamford Bridge, London
10
1908, 1909, 1910, 1911, 1923, 1927, 1930, 1950,[1] 1955, 1970
Highbury, London
7
1924, 1934, 1935, 1938, 1948, 1949, 1953
White Hart Lane, London
6
1912, 1920, 1921, 1925, 1951, 1961
Old Trafford, Manchester
6
1922, 1928, 1952, 1957, 1965, 1967
Maine Road, Manchester
5
1926, 1937, 1956, 1968, 1973
Villa Park, Birmingham
3
1931, 1972, 2012
Goodison Park, Liverpool
3
1933, 1963, 1966
The Den, London
2
1913, 1929
Molineux, Wolverhampton
2
1954, 1959

Những sân in nghiêng là những sân không còn tồn tại.

Nơi thi đấu lâu dài[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1974, Siêu cup Anh được thi đấu trên một sân trung lập hơn là sân nhà của một câu lạc bộ nào đó.[4]

Sân trung lập[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lịch thì trận đấu sẽ diễn ra trên sân trung lập hoặc sân nhà của một đội bóng tham gia. Đã có tổng cộng 17 sân được sử dụng cho trận đấu này cùng với 3 sân nói ở trên. Sân trung lập đầu tiên tổ chức là Stamford Bridge năm 1908 còn sân cuối cùng là Villa Park năm 2012, do Wembley và Thiên niên kỷ tổ chúc bóng đá tại Olympic 2012. Các sân vận động được cân nhắc là St James' Park, và Sân vận động Ánh sáng nhưng Villa Park đã được chọn.[5]

Có 8 sân chỉ tổ chức một lần là: St James' Park năm 1932, Roker Park năm 1936, Burnden Park năm 1958, Turf Moor năm 1960, Portman Road năm 1962, Anfield năm 1964, Elland Road năm 1969 và Filbert Street năm 1971. 9 sân khác tổ chức hơn một lần.

Các đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Theo năm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số lượng[sửa | sửa mã nguồn]

[6]

Đội Vô địch
(vô địch/chia sẻ)
Năm (* là năm đội đó chia sẻ danh hiệu)
Manchester United 20 (16/4) 1908, 1911, 1952, 1956, 1957, 1965*, 1967*, 1977*, 1983, 1990*, 1993, 1994, 1996, 1997, 2003, 2007, 2008, 2010, 2011, 2013
Liverpool 15 (10/5) 1964*, 1965*, 1966, 1974, 1976, 1977*, 1979, 1980, 1982, 1986*, 1988, 1989, 1990*, 2001, 2006
Arsenal 14 (13/1) 1930, 1931, 1933, 1934, 1938, 1948, 1953, 1991*, 1998, 1999, 2002, 2004, 2014, 2015
Everton 9 (8/1) 1928, 1932, 1963, 1970, 1984, 1985, 1986*, 1987, 1995
Tottenham Hotspur 7 (4/3) 1921, 1951, 1961, 1962, 1967*, 1981*, 1991*
Chelsea 4 1955, 2000, 2005, 2009
Manchester City 4 1937, 1968, 1972, 2012
Wolverhampton Wanderers 4 (1/3) 1949*, 1954*, 1959, 1960*
Leeds United 2 1969, 1992
Burnley 2 (1/1) 1960*, 1973
West Bromwich Albion 2 (1/1) 1920, 1954*
Blackburn Rovers 1 1912
Bolton Wanderers 1 1958
Brighton & Hove Albion 1 1910
Cardiff City 1 1927
Derby County 1 1975
Huddersfield Town 1 1922
Leicester City 1 1971
Newcastle United 1 1909
Nottingham Forest 1 1978
Sheffield Wednesday 1 1935
Sunderland 1 1936
Aston Villa 1 (0/1) 1981*
Portsmouth 1 (0/1) 1949*
West Ham United 1 (0/1) 1964*

Theo số lượng (các đội khác)[sửa | sửa mã nguồn]

[6]

Đội Vô địch
(vô địch/chia sẻ)
Năm (* là năm đó chia sẻ danh hiệu)
Chuyên nghiệp Anh XI 4 1913, 1923, 1924, 1929
Nghiệp dư Anh XI 2 1925, 1926
Tuyển Anh World Cup 1950 1 1950

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “The FA Community Shield history”. The FA Cup & Competitions. The FA. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  2. ^ Siêu Cup nước Anh đổi tên
  3. ^ “Where the money goes”. The FA. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ “History of the Charity Shield”. BBC. Ngày 9 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010. 
  5. ^ Stone, Simon (ngày 16 tháng 2 năm 2011). “Old Trafford in pole for 2012 Community Shield”. The Independent (London). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011. 
  6. ^ a ă List of Charity/Community Shield matches at RSSSF

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]