Brighton & Hove Albion F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Brighton & Hove Albion)
Brighton & Hove Albion
Brighton & Hove Albion logo.svg
Tên đầy đủBrighton & Hove Albion Football Club
Biệt danhThe Seagulls, Albion
Thành lập24 tháng 6 năm 1901; 121 năm trước (1901-06-24)
SânSân vận động Falmer
Sức chứa31,800[1]
Chủ tịch điều hànhTony Bloom
Người quản lýAndrew Crofts(HLV tạm thời)
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2021–22Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 9 trên 20
Trang webTrang web của câu lạc bộ

Câu lạc bộ bóng đá Brighton & Hove Albion (tiếng Anh: Brighton & Hove Albion Football Club /ˈbrtən ən ˈhv/) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại thành phố Brighton and Hove, East Sussex, Anh, thường được gọi đơn giản là Brighton. Câu lạc bộ thi đấu tại Ngoại hạng Anh, giải đấu cao nhất trong hệ thống các giải bóng đá Anh, các trận đấu của họ diễn ra trên sân vận động 30,750 chỗ ngồi sân Falmer, còn được gọi theo tên nhà tài trợ là Sân vận động American Express Community, hay ngắn gọn là Amex.

Đội có biệt danh là "Seagulls" hay "Albion". Đội có truyền thống thi đấu với màu áo xanh với sọc trắng, trong những năm 1970 đổi sang toàn trắng và trở lại màu truyền thống trong giai đoạn thành công nhất lịch sử những năm 1980.[2] Crystal Palace được coi là đối thủ chính của đội, mặc dù sân bóng của hai đội cách nhau 40 dặm.[3][4]

Được thành lập năm 1901, Brighton thi đấu những mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên ở Southern League trước khi được chọn để thi đấu tại Football League năm 1920. Câu lạc bộ có giai đoạn thi đấu đầy hứa hẹn trong giai đoạn 1979 tới 1983 khi họ thi đấu tại First Division vào tới Chung kết Cúp FA 1983, để thua Manchester United sau trận đá lại.[5] Họ sau đó xuống hạng vào cuối mùa.

Do sự quản lý kém Brighton suýt xuống hạng từ Football League xuống Conference trong năm 1997 và 1998. Ban giám đốc sau đó cứu Brighton khỏi nợ nần, sau khi lên hạng liên tiếp họ trở lại hạng Nhất năm 2002, và kể từ đó họ thi đấu ở hạng nhất và hạng nhì kể từ đó đến mùa 2016–17, nơi họ giành quyền lên Premier League lần đầu tiên trong lịch sử ngày 17 tháng 4 năm 2017. Kết thúc 34 năm vắng bóng tại giải đấu cao nhất của Brighton.

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 6 tháng 8 2022[6]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Tây Ban Nha Robert Sánchez
2 HV Ghana Tariq Lamptey
4 HV Anh Adam Webster
5 HV Anh Lewis Dunk (đội trưởng)[7]
6 HV Anh Levi Colwill (mượn từ Chelsea)
7 HV Anh Solly March
8 TV Zambia Enock Mwepu
9 Pháp Neal Maupay
10 TV Argentina Alexis Mac Allister
11 Bỉ Leandro Trossard
13 TV Đức Pascal Groß
14 TV Anh Adam Lallana
15 TV Ba Lan Jakub Moder
16 TM Hà Lan Kjell Scherpen
17 TV Colombia Steven Alzate
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 Anh Danny Welbeck
19 Ecuador Jeremy Sarmiento
20 Paraguay Julio Enciso
21 Đức Deniz Undav
22 TV Nhật Bản Kaoru Mitoma
23 TM Anh Jason Steele
25 TV Ecuador Moisés Caicedo
26 HV Anh Matt Clarke
27 TV Ba Lan Kacper Kozłowski
28 Cộng hòa Ireland Evan Ferguson
29 HV Hà Lan Jan Paul van Hecke
31 România Florin Andone
34 HV Hà Lan Joël Veltman
38 TM Anh Tom McGill

Cầu thủ đang cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Cộng hòa Ireland Shane Duffy (tại Fulham đến ngày 31 tháng 5 2023)[8]
HV Ba Lan Michał Karbownik (tại Fortuna Düsseldorf đến ngày 30 tháng 6 2023)[9]
TV Đức Reda Khadra (tại Sheffield United đến ngày 30 tháng 6 2023)[10]
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Anh Taylor Richards (tại Queens Park Rangers đến ngày 31 tháng 5 2023)[11]
Cộng hòa Ireland Aaron Connolly (tại Venezia đến ngày 30 tháng 6 2023)[12]
Thụy Sĩ Andi Zeqiri (tại Basel đến ngày 30 tháng 6 2023)[13]

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Chris Hughton
Trợ lý HLV Paul Trollope
HLV đội 1 Paul Nevin
HLV thủ môn Ben Roberts
HLV thủ môn đội trẻ Casper Ankergren
HLV đội học viện John Morling
HLV đội dự bị Simon Rusk
HLV đội trẻ Ian Buckman
HLV đội trẻ Vic Bragg
Trưởng bộ phận y tế Adam Brett
Bác sĩ CLB Dr. Stephen Lewis
Nhà khoa học thể thao Martin Springham
Trợ lý vật lý trị liệu Paul Watson
Trợ lý vật lý trị liệu Sam Blanchard
HLV thể lực Thomas Barnden

Ban lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Chủ tịch Tony Bloom
CEO Paul Barber
Giám đốc Ray Bloom
Derek Chapman
Robert Comer
Adam Franks
Marc Sugarman
Peter Godfrey
Giám đốc Paul Barber
Giám đốc tài chính Malcolm Foreman
Chủ tịch danh dự Dick Knight
Thư ký câu lạc bộ Derek Allan

Nguồn: Who's Who

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí của Brighton & Hove Albion

Quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

League[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (3) 1957–58, 2001–02, 2010–11
Vô địch (2) 1964–65, 2000–01
  • Southern Football League
Vô địch (1) 1909–10

Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (1): 1910
Vô địch: (2) 1959–60, 1960–61[note 1]

[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn lịch sử Brighton mặc áo mùa xanh & trắng, thường có sọc, kết hợp với quần và tất trắng và xanh.[15]

Từ năm 2014 áo của câu lạc bộ được cung cấp bởi Nike. Trước đó là các nhà sản xuất Bukta (1971-74. 1975-80), Admiral (1974-75, 1994-97), Umbro (1975-77), Adidas (1980-87), Spall (1987-89), Sports Express (1989-91), Ribero (1991-94), Superleague (1997-99), và Erreà (1999-2014). Nhà tài trợ áo đấu hiện tại của họ là American Express. Trước đó là British Caledonian Airways (1980-83), Phoenix Brewery (1983-86), NOBO (1986-91), TSB Bank (1991-93), Sandtex (1993-98), Donatello (1998-99), Skint Records (1999-2008), IT First (2008-11), và BrightonandHoveJobs.com (2011-13).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ đồng danh hiệu với Chichester City năm 1960–61
  1. ^ “Premier League Handbook 2020/21” (PDF). Premier League. tr. 8. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2021.
  2. ^ “Brighton & Hove Albion”. Historical Football Kits. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  3. ^ “Club Rivalries Uncovered Results” (PDF). FootballFanCensus. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  4. ^ Burnton, Simon (2011) How Brighton v Crystal Palace grew into an unlikely rivalry, The Guardian, 27 September (Accessed Dec 2012)
  5. ^ “1983 FA Cup Final”. Fa-CupFinals.co.uk. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.
  6. ^ “First team”. Brighton & Hove Albion F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020.
  7. ^ Cleeves, Kieran (19 tháng 8 năm 2018). “Hughton's admiration for Mourinho”. Brighton & Hove Albion F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2018.
  8. ^ “Shane Duffy joins Fulham on season-long loan”. Brighton & Hove Albion F.C. 5 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2022.
  9. ^ “Michal Karbownik completes loan move to Fortuna Dusseldorf”. Brighton & Hove Albion F.C. 4 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2022.
  10. ^ “Reda Khadra joins Sheffield United on loan”. Brighton & Hove Albion F.C. 26 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2022.
  11. ^ “Richards joins QPR on loan”. Brighton & Hove Albion F.C. 22 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2022.
  12. ^ “Aaron Connolly joins Venezia on season-long loan”. Brighton & Hove Albion F.C. 14 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2022.
  13. ^ “Andi Zeqiri makes loan move to FC Basel”. Brighton & Hove Albion F.C. 2 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2022.
  14. ^ “R.U.R. Cup Final Results – Sussex County Football Association”. Sussexcountyleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.
  15. ^ “Brighton & Hove Albion”. Historical Football Kits. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Brighton and Hove Albion F.C.