Eden Hazard

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Eden Hazard
Hazard vs Norwich (crop).jpg
Hazard chơi cho Chelsea vào tháng 10 năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Eden Micheal Hazard
Chiều cao 1,72 m (5 ft 7 12 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Tiền vệ công, Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Chelsea
Số áo 10
CLB trẻ
1998–2003 Royal Stade Brainois
2003–2005 Tubize
2005–2007 Lille
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2012 Lille 147 (36)
2012– Chelsea 132 (37)
Đội tuyển quốc gia
2006 U-15 Bỉ 5 (1)
2006 U-16 Bỉ 4 (2)
2006–2008 U-17 Bỉ 17 (2)
2007–2009 U-19 Bỉ 11 (6)
2008– Bỉ 62 (12)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải vô địch quốc gia và cập nhật lúc 16 tháng 8, 2015.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 27 tháng 2, 2016

Eden Micheal Hazard (sinh ngày 7 tháng 1 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá người Bỉ hiện đang chơi ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Chelsea tại Ngoại hạng Anh cũng như thi đấu cho đội tuyển Bỉ ở các giải đấu cấp độ đội tuyển. Vị trí thi đấu của anh thường là tiền vệ cánh trái.

Hazard bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Tubize. Sở hữu kỹ thuật cá nhân điêu luyện, tốc độ cao, đi bóng lắt léo, lừa bóng, dứt điểm tốt ngay từ khi chưa đến 20 tuổi vì vậy những sự so sánh như: "Cristiano Ronaldo mới", "Tiểu Messi", và thậm chí là "truyền nhân của Zidane", đó là những mỹ từ mà dư luận Thế giới đang ưu ái dành cho Eden Hazard.[1][2][3][4][5][6][7]

Kể từ khi được các tuyển trạch viên Lille phát hiện từ CLB Bỉ Tubize vào năm 2005, sự nghiệp của Hazard không biết đến 2 từ "chững lại". Đến Lille năm 14 tuổi, ra mắt ở đội một năm 16 tuổi, trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ tuổi nhất trong lịch sử CLB, với bàn thắng ra mắt trong chiến thắng 3-0 trước St. Etienne khi 17 tuổi, đoạt danh hiệu cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Ligue 1 mùa trước, trở thành một nhân tố không thể thay thế ở cả ĐT Bỉ và CLB Lille.

Đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Eden Hazard sinh ra ở La Louvière,nhưng anh lớn lên ở Braine-le-Comte,một huyện nhỏ ở vùng Wallonia.Mẹ anh là Carine và cha là Thierry đều là cầu thủ bóng đá tại Bỉ.Cha anh dành phần lớn sự nghiệp của mình chơi ở CLB nghiệp dư R.A.A. Louviéroise ở giải Hạng hai Bỉ.Ông chơi ở vị trí Tiền vệ phòng ngự.Mẹ anh chơi ở vị trí Tiền đạo ở giải Hạng nhất Bỉ nữ.Cô ngừng chơi bóng khi đã mang thai Hazard được ba tháng.Sau khi nghỉ hưu,cả Carine và Thierry đều trở thành giáo viên thể thao.

Hazard là người lớn nhất trong bốn đứa con.Anh có ba anh em,tất cả đều là cầu thủ.Cậu em trai thứ 2 của anh, Thorgan Hazard, đang thi đấu cho Borussia Mönchengladbach theo dạng cho mượn từ câu lạc bộ Chelsea. Cậu em trai thứ 3 Ethan, 14 tuổi và em út Kylian, 6 tuổi, đều đang chơi cho đội trẻ của Tubize, đội bóng mà Hazard đã từng chơi trước khi chuyển sang Lille vào năm 2005.

Hazard hiện có một cô bạn gái tên là Natasha.Ngày 19 tháng 12 năm 2010,cô đã sinh ra một bé trai và đặt tên là Yannis.Tháng 2 năm 2013,cô sinh đứa con thứ hai tên là Leo.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Lille[sửa | sửa mã nguồn]

Hazard gia nhập Lille vào năm 2005 và dành 2 năm để học trong trường thể thao của CLB.Ngày 28 tháng 5, 2007 anh chính thức có hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên của mình khi đặt bút ký vào một hợp đồng với thời hạn 3 năm với Lille khi đó anh mới 16 tuổi.

Sau 5 năm chơi bóng cùng Lille,anh được rất nhiều các CLB hàng đầu săn đón,có thể kể đến Manchester United,Real Madrid,Chelsea,...

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 5 năm 2012,trên tài khoản Twitter của mình,Eden Hazard khẳng định anh sẽ chuyển tới câu lạc bộ Chelsea vào mùa hè 2012.Giá chuyển nhượng của Hazard là 32 triệu Bảng,tại đây anh sẽ mặc áo số 17 của José Bosingwa để lại.Số tiền mà Chelsea phải bỏ ra để Lille bán ngôi sao người Bỉ lên tới 32 triệu bảng. Trước đây, Hazard chưa từng nghĩ đến việc cập bến Stamford Bridge khi Chelsea có thành tích không tốt tại mặt trận quốc nội khiến họ tụt lại trong cuộc đua giành vé dự Champions League mùa tới. Tuy nhiên, với việc vượt qua Bayern Munich ở trận chung kết Champions League, Chelsea sẽ dự giải đấu danh giá nhất châu Âu mùa sau với tư cách nhà đương kim vô địch. Viễn cảnh này khiến Hazard cảm thấy rất hứng thú với việc gia nhập đội bóng Tây London.

Mùa giải 2012-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Eden Hazard trong trận giao hữu gặp A.S. Roma tại Washington D.C. (tháng 8 năm 2013)

Ngày 4 tháng 6, trang chủ chính thức của Chelsea chính thức xác nhận anh gia nhập câu lạc bộ.

Ngày 12 tháng 8,Anh có trận đấu đầu tiên cho Chelsea trong trận tranh Siêu cúp Anh với Manchester City,trận đấu mà Chelsea đã thất bại 3-2.Một tuần sau, anh có trận đầu tiên tại giải ngoại hạng Anh, anh đã thi đấu rất xuất sắc, anh đã kiến tạo 1 bàn thắng và đem về 1 quả penalty cho Chelsea, chung cuộc Chelsea thắng 2-0 trước Wigan Athletic,sau đó anh được Goal.com bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.

Ở trận đấu tiếp theo với Reading, anh cũng lại đem về 1 quả penalty và lại tiếp tục kiến tạo 1 bàn thắng, cuối cùng Chelsea giành chiến thắng kịch tính 4-2 trước CLB Reading, anh tiếp tục được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.Ba ngày sau, Fernando Torres đã kiếm về một quả penalty và Hazard là người thực hiện thành công, đây cũng là bàn thắng đầu tiên của anh trong màu áo Chelsea tại giải. Chính sau đó anh cũng đã có một cú đánh gót điệu nghệ cho Torres ấn định chiến thắng 2-0 cho Chelsea trước Newcastle United.

"Hãy nhìn xem, Hazard mới chỉ 22 tuổi nhưng anh ấy đã thi đấu tốt như thế nào. Hazard là một cầu thủ giỏi và luôn biết cách vượt qua áp lực."

Frank Lampard, nói về Eden Hazard.

Hazard có trận đấu Champions League đầu tiên với Chelsea ở trận mở màn của vòng bảng với Juventus,kết quả Chelsea thua 3-0.Ngày 6 tháng 10,anh ghi bàn thắng thứ hai cho Chelsea trong chiến thắng 4-1 trước Norwich.Anh đứng thứ 58 trong top 100 cầu thủ xuất sắc nhất thế giới được bầu chọn bởi tờ Guardian.[8]

Vào tháng 1 năm 2013,Hazard ghi một siêu phẩm từ khoảng cách hơn 25 mét trong chiến thắng 4-0 của Chelsea trước Stoke City.Ngày 23 tháng 1,anh bị truất quyền thi đấu ở bán kết League Cup với Swansea vì sút vào bụng một cậu bé chần chừ không trả bóng vào sân.Sau đó,anh thổ lộ trên Chelsea TV:"Cậu bé đó đã dùng cả người để che trái bóng và tôi không còn cách nào khác buộc phải dùng chân để khều bóng. Dù vậy tôi thành thực xin lỗi cậu bé và gia đình"[9]

Ngày 16 tháng 5,Chelsea đánh bại Benfica 2-1 để vô địch chiếc cúp Europa League đầu tiên trong lịch sử đội bóng,Hazard có danh hiệu đầu tiên trong màu áo câu lạc bộ.

Phong cách chơi bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Hazard lừa bóng qua hậu vệ của Norwich City.

Hazard chủ yếu chơi như một Tiền vệ tấn công hoặc một tiền vệ cánh và đã được công nhận là một tài năng của bóng đá châu Âu[10].Ở Lille dưới sự chỉ đạo của HLV Rudi Garcia,anh thường đóng vai trò là người kiến tạo trong sơ đồ 4-3-3 của đội và thường xuyên dạt ra 2 cánh vì anh thuận cả 2 chân.Sau sự ra đi của Yohan CabayeGervinho trong năm 2011,mùa giải 2011-2012 Garcia chỉ đạo anh chơi ở vị trí của một Tiền vệ tấn công trung lộ,và cũng cho anh tập trung đá cánh nếu cần thiết.Hai điểm mạnh nhất của anh là tốc độkỹ thuật.

Đồng đội của anh và là đội trưởng của Lille Rio Mavuba ca ngợi Hazard:Mùa bóng này Eden đã chứng tỏ cậu ấy là cầu thủ xuất sắc nhất Ligue 1. Tôi đã từng thấy nhiều cầu thủ xuất chúng trong sự nghiệp nhưng ở độ tuổi của Eden thì cậu ấy là người duy nhất[11]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 21 tháng 2, 2016[12][13]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp League Cup Châu Âu Giải khác Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Lille 2007–08 4 0 0 0 0 0 4 0
2008–09 30 4 3 1 2 1 35 6
2009–10 37 5 1 0 2 1 12 4 52 10
2010–11 38 7 5 3 2 2 9[a] 0 54 12
2011–12 38 20 3 1 1 0 6 0 1[b] 1 49 22
Tổng cộng 147 36 12 5 7 4 27 4 1 1 194 50
Chelsea 2012–13 34 9 6 1 5 2 14[c] 1 3[d] 0 62 13
2013–14 35 14 3 0 1 0 10[e] 3 49 17
2014–15 38 14 1 0 6 2 7[f] 3 52 19
2015–16 23 0 2 2 1 0 7 0 1[g] 0 34 2
Tổng cộng 129 37 12 3 13 4 38 7 4 0 196 51
Tổng cộng sự nghiệp 276 74 24 8 20 8 65 11 5 1 390 101
  1. ^ All appearances in Europa League
  2. ^ appearance in Trophée des champions
  3. ^ One appearance in UEFA Super Cup, 6 appearances in UEFA Champions League, 7 appearances and one goal in Europa League
  4. ^ One appearance in Community Shield, 2 appearances in FIFA Club World Cup
  5. ^ One appearance and one goal in UEFA Super Cup, 9 appearances and 3 goals in UEFA Champions League
  6. ^ All appearances in UEFA Champions League
  7. ^ Appearance in FA Community Shield

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 7 tháng 6 năm 2014.[14]
Đội tuyển quốc gia Bỉ
Năm Số trận Bàn thắng
2008 1 0
2009 9 0
2010 7 0
2011 8 1
2012 8 1
2013 9 3
2014 12 1
2015 8 6
Tổng cộng 62 12

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 10, 2011 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Kazakhstan
2–0
4–1
Vòng loại Euro 2012
2. 25 tháng 5, 2012 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Montenegro
2–1
2–2
Giao hữu
3. 6 tháng 2, 2013 Sân vận động Jan Breydel, Bruges, Bỉ  Slovakia
1–0
2–1
Giao hữu
4. 22 tháng 3, 2013 Philip II Arena, Skopje, Macedonia  Macedonia
2–0
2–0
Vòng loại World Cup 2014
5. 26 tháng 3, 2013 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Macedonia
1–0
1–0
Vòng loại World Cup 2014
6. 1 tháng 6, 2014 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Thụy Điển
2–0
2–0
Giao hữu
7. 28 tháng 3 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Síp
4–0
5–0
Vòng loại Euro 2016
8. 7 tháng 6, 2015 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Pháp
4–1
4–3
Giao hữu
9. 3 tháng 9, 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Bosna và Hercegovina
3–1
3–1
Vòng loại Euro 2016
10. 6 tháng 9, 2015 Sân vận động GSP, Nicosia, Síp  Síp
1–0
1–0
Vòng loại Euro 2016
11. 10 tháng 10, 2015 Sân vận động quốc gia Andorra, Andorra la Vella, Andorra  Andorra
3–1
4–1
Vòng loại Euro 2016
12. 13 tháng 10, 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Israel
3–0
3–1
Vòng loại Euro 2016

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Lille
Chelsea FC

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải thưởng Bravo: 2011
  • Cầu thủ xuất sắc nhất mùa của Ligue 1: 2011,2012
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa của Ligue 1: 2009
  • Đội hình xuất sắc nhất mùa của Ligue 1: 2010,2011,2012
  • Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của UNFP: tháng ba 2010,tháng ba 2012,tháng ba 2012
  • Đội hình xuất sắc nhất mùa của Premier League: [[Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2012-2013, 2013-2014, 2014-2015
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA: 2014
  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA: 2015
  • Quả bóng vàng FIFA: 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015
  • Chiếc giày vàng châu Âu UEFA: 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Eden Hazard ESPN Profile”. ESPN. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011. 
  2. ^ Lyttleton, Ben (ngày 18 tháng 4 năm 2011). “Ten top Ligue 1 talents who could be on the move this summer”. Sports Illustrated. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011. 
  3. ^ Benammar, Emily (ngày 1 tháng 4 năm 2010). “Eden Hazard, the Lille winger dubbed 'the next Lionel Messi”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  4. ^ “Scout Report: Arsenal and Manchester United target Eden Hazard”. Football Transfer Tavern. Ngày 8 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  5. ^ “Could Lille’s Eden Hazard go to Emirates? Liverpool eye Heskey”. The First Post. Ngày 23 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ “Foreign correspondent: Eden Hazard”. Ligue de Football Professionnel. Ngày 2 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2011. 
  7. ^ “Eden Hazard, un genio del desborde”. Marca (bằng tiếng Spanish). Ngày 1 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ “Top 100 cầu thủ bóng đá hàng đầu thế giới của báo Guardian”. BongDa.com.vn. Ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  9. ^ Hazard nhận thẻ đỏ vì đá cậu bé nhặt bóng
  10. ^ Bóng đá Bỉ
  11. ^ Hazard,ngôi sao mới của bóng đá châu Âu Việt-Time.com
  12. ^ “Eden Hazard Premier League Player Profile”. Premier League official website. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2012. 
  13. ^ Eden Hazard tại Soccerway
  14. ^ Eden Hazard tại National-Football-Teams.com