Eden Hazard

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Eden Hazard
Eden Hazard 2018.jpg
Hazard chơi cho Đội tuyển Bỉ tại World Cup 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Eden Michael Hazard
Ngày sinh 7 tháng 1, 1991 (28 tuổi)
Nơi sinh La Louvière, Bỉ
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền vệ tấn công, Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Real Madrid
Số áo 7
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1998–2003 Royal Stade Brainois
2003–2005 Tubize
2005–2007 Lille
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2012 Lille 147 (36)
2012–2019 Chelsea 245 (85)
2019– Real Madrid 7 (1)
Đội tuyển quốc gia
2006 U-15 Bỉ 5 (1)
2006 U-16 Bỉ 4 (2)
2006–2008 U-17 Bỉ 17 (2)
2007–2009 U-19 Bỉ 11 (6)
2008– Bỉ 104 (30)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 9 tháng 11 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 13 tháng 10 năm 2019

Eden Michael Hazard (sinh ngày 7 tháng 1 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá người Bỉ hiện đang chơi ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Real Madrid tại La Liga cũng như thi đấu cho đội tuyển Bỉ ở các giải đấu cấp độ đội tuyển. Anh là đội trưởng đội tuyển Bỉ. Vị trí thi đấu của anh thường là tiền đạo cánh trái.[1]Anh là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới hiện tại.

Hazard bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Tubize. Sở hữu kỹ thuật cá nhân điêu luyện, tốc độ cao, đi bóng lắt léo, lừa bóng, dứt điểm tốt ngay từ khi chưa đến 20 tuổi vì vậy những sự so sánh như: "Cristiano Ronaldo mới", "Tiểu Messi", và thậm chí là "truyền nhân của Zidane", đó là những mỹ từ mà dư luận Thế giới đang ưu ái dành cho Eden Hazard.[2][3][4][5][6][7][8]

Kể từ khi được các tuyển trạch viên Lille phát hiện từ CLB của BỉTubize vào năm 2005, sự nghiệp của Hazard không biết đến 2 từ "chững lại". Đến Lille năm 14 tuổi, ra mắt ở đội một năm 16 tuổi, trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ tuổi nhất trong lịch sử CLB này, với bàn thắng ra mắt trong chiến thắng 3-0 trước St. Etienne khi 17 tuổi, đoạt danh hiệu cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Ligue 1 ngay mùa giải đó. Mùa hè 2012, anh chuyển đến thi đấu tại câu lạc bộ Chelsea và trở thành một nhân tố không thể thay thế ở cả Chelsea và đội tuyển Bỉ.

Đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Eden Hazard sinh ra ở La Louvière, nhưng anh lớn lên ở Braine-le-Comte, một huyện nhỏ ở vùng Wallonia. Mẹ anh là Carine và cha là Thierry đều là cầu thủ bóng đá tại Bỉ. Cha anh dành phần lớn sự nghiệp của mình chơi ở CLB nghiệp dư R.A.A. Louviéroise ở giải Hạng hai Bỉ. Ông chơi ở vị trí Tiền vệ phòng ngự. Mẹ anh chơi ở vị trí Tiền đạo ở giải Hạng nhất Bỉ nữ. Cô ngừng chơi bóng khi đã mang thai Hazard được ba tháng. Sau khi nghỉ hưu, cả Carine và Thierry đều trở thành giáo viên thể thao.

Hazard là người lớn nhất trong bốn đứa con. Anh có ba anh em, tất cả đều là cầu thủ. Cậu em trai thứ hai của anh, Thorgan Hazard, đang thi đấu cho Borussia Dortmund theo dạng cho mượn từ câu lạc bộ Chelsea. Cậu em trai thứ 3 Ethan, 14 tuổi và em út Kylian, 6 tuổi, đều đang chơi cho đội trẻ của Tubize, đội bóng mà Hazard đã từng chơi trước khi chuyển sang Lille vào năm 2005.

Hazard hiện có một cô bạn gái tên là Natasha. Ngày 19 tháng 12 năm 2010, cô đã sinh ra một bé trai và đặt tên là Yannis. Tháng 2 năm 2013, cô sinh đứa con thứ hai tên là Leo.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Lille[sửa | sửa mã nguồn]

Hazard gia nhập Lille vào năm 2005 và dành 2 năm để học trong trường thể thao của CLB.Ngày 28 tháng 5 năm 2007 anh chính uyên nng với thời hạn 3 năm với Lille khi đó anh mới 16 tuổi.

Sau 5 năm chơi bóng cùng Lille,anh được rất nhiều các CLB hàng đầu săn đón,có thể kể đến Manchester United,Real Madrid,Chelsea,...

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 5 năm 2012, trên tài khoản Twitter của mình, Eden Hazard khẳng định anh sẽ chuyển tới câu lạc bộ Chelsea vào mùa hè 2012. Giá chuyển nhượng của Hazard là 32 triệu Bảng, tại đây anh sẽ mặc áo số 17 của José Bosingwa để lại. Số tiền mà Chelsea phải bỏ ra để Lille bán ngôi sao người Bỉ lên tới 32 triệu bảng. Trước đây, Hazard chưa từng nghĩ đến việc cập bến Stamford Bridge khi Chelsea có thành tích không tốt tại mặt trận quốc nội khiến họ tụt lại trong cuộc đua giành vé dự Champions League mùa tới. Tuy nhiên, với việc vượt qua Bayern Munich ở trận chung kết Champions League, Chelsea sẽ dự giải đấu danh giá nhất châu Âu mùa sau với tư cách nhà đương kim vô địch. Viễn cảnh này khiến Hazard cảm thấy rất hứng thú với việc gia nhập đội bóng Tây London.

Mùa giải 2012-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Eden Hazard trong trận giao hữu gặp A.S. Roma tại Washington D.C. (tháng 8 năm 2013)

Ngày 4 tháng 6, trang chủ chính thức của Chelsea chính thức xác nhận anh gia nhập câu lạc bộ.

Ngày 12 tháng 8, Anh có trận đấu đầu tiên cho Chelsea trong trận tranh Siêu cúp Anh với Manchester City,trận đấu mà Chelsea đã thất bại 3-2. Một tuần sau, anh có trận đầu tiên tại giải ngoại hạng Anh, anh đã thi đấu rất xuất sắc, anh đã kiến tạo 1 bàn thắng và đem về 1 quả penalty cho Chelsea, chung cuộc Chelsea thắng 2-0 trước Wigan Athletic,sau đó anh được Goal.com bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.

Ở trận đấu tiếp theo với Reading, anh cũng lại đem về 1 quả penalty và lại tiếp tục kiến tạo 1 bàn thắng, cuối cùng Chelsea giành chiến thắng kịch tính 4-2 trước CLB Reading, anh tiếp tục được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.Ba ngày sau, Fernando Torres đã kiếm về một quả penalty và Hazard là người thực hiện thành công, đây cũng là bàn thắng đầu tiên của anh trong màu áo Chelsea tại giải. Chính sau đó anh cũng đã có một cú đánh gót điệu nghệ cho Torres ấn định chiến thắng 2-0 cho Chelsea trước Newcastle United.

"Hãy nhìn xem, Hazard mới chỉ 22 tuổi nhưng anh ấy đã thi đấu tốt như thế nào. Hazard là một cầu thủ giỏi và luôn biết cách vượt qua áp lực."

Frank Lampard, nói về Eden Hazard.

Hazard có trận đấu Champions League đầu tiên với Chelsea ở trận mở màn của vòng bảng với Juventus,kết quả Chelsea thua 3-0. Ngày 6 tháng 10, anh ghi bàn thắng thứ hai cho Chelsea trong chiến thắng 4-1 trước Norwich.Anh đứng thứ 58 trong top 100 cầu thủ xuất sắc nhất thế giới được bầu chọn bởi tờ Guardian.

Vào tháng 1 năm 2013, Hazard ghi một siêu phẩm từ khoảng cách hơn 25 mét trong chiến thắng 4-0 của Chelsea trước Stoke City. Ngày 23 tháng 1, anh bị truất quyền thi đấu ở bán kết League Cup với Swansea vì sút vào bụng một cậu bé chần chừ không trả bóng vào sân. Sau đó, anh thổ lộ trên Chelsea TV: "Cậu bé đó đã dùng cả người để che trái bóng và tôi không còn cách nào khác buộc phải dùng chân để khều bóng. Dù vậy tôi thành thực xin lỗi cậu bé và gia đình"[9]

Ngày 16 tháng 5, Chelsea đánh bại Benfica 2-1 để vô địch chiếc cúp Europa League đầu tiên trong lịch sử đội bóng, Hazard có danh hiệu đầu tiên trong màu áo câu lạc bộ.

Mùa giải 2018-2019[sửa | sửa mã nguồn]

Hazard ghi bàn ngay trong lần đầu tiên ra sân ở đội hình xuất phát từ quả sút phạt 11m, mang về chiến thắng 2-1 cho Chelsea trước Newcastle United hôm 26 tháng 8. Ngày 15 tháng 9, anh lập một cú hat-trick giúp đội nhà lội ngược dòng thắng Cardiff City 4-1. Hazard ra sân từ băng ghế dự bị hôm 26 tháng 9 và ghi một bàn solo qua hai hậu vệ giúp Chelsea thắng ngược Liverpool trên sân Anfield ở cúp Liên đoàn Anh. Ở trận đấu với Southampton trong khuôn khổ vòng 8 giải Ngoại hạng Anh, Hazard ghi bàn mở tỉ số cùng một đường chuyền kiến tạo ấn định tỉ số 3-0 ngay trên sân khách giúp Chelsea tạm giành ngôi đầu bảng. Đây là bàn thắng thứ 8 trên tổng số 9 trận của anh chơi cho Chelsea mùa này. Vào ngày 16 tháng 12, Hazard đã có được một đường chuyền cho Pedro trước khi tự mình ấn định chiến thắng 2-1 trước Brighton & Hove Albion ở Premier League, ba ngày sau, anh được Sarri cho ra sân từ băng ghế dự bị trước khi ghi bàn quyết định giúp Chelsea đánh bại Bournemouth để vào bán kết Cúp Liên Đoàn. Vào Ngày lễ Tặng quà Hazard đã ghi một cú đúp trước Watford giúp Chelsea giành chiến thắng trước Watford ngay trên Vicarage Road, đáng chú ý bàn đầu trong số hai bàn được ghi cũng chính là bàn thắng thứ 100 của anh cho The Blues và bàn thắng thứ 150 trong cả sự nghiệp của Hazard.

Ngày 2/2/2019, Hazard lại lập cú đúp trong chiến thắng hủy diệt 5-0 trước Huddersfield Town. Hai tháng sau ở vòng 33 Ngoại hạng Anh, Hazard sắm vai người hùng trong chiến thắng 2-0 trước West Ham, trận đấu mà anh ghi hai bàn thắng duy nhất, đáng chú ý bàn đầu tiên ở phút 24, Hazard có pha đi bóng solo từ giữa sân qua đến 6 cầu thủ của West Ham trước khi dứt điểm gọn bằng chân trái vào lưới thủ thành Fabianski, giúp Chelsea vượt tạm thời vượt TottenhamArsenal để leo lên vị trí thứ 3. Kết thúc mùa giải, Chelsea của Hazard về đích ở vị trí thứ ba chung cuộc. Riêng với cá nhân mình, anh đã có đến 31 đóng góp trực tiếp vào bàn thắng, nhiều nhất tại giải Ngoại hạng Anh và ẵm danh hiệu Vua kiến tạo của giải với 15 đường chuyền thành bàn.

Vào ngày 9/5, Hazard thực hiện thành công cú penalty quyết định hạ Eintracht Frankfurt với tỉ số 4-3 trên chấm luân lưu trên sân Stamford Bridge đưa Chelsea vào chung kết Europa League. Đêm 29/5 tại Baku, Chelsea đã đánh bại Arsenal với tỉ số 4-1 để đăng quang Europa League sau 6 năm, trận đấu mà Hazard đã ghi đến 2 bàn đồng thời kiến tạo 1 bàn cho Pedro. Sau trận, anh đã bật mí với truyền thông rắng đây có thể là lần cuối cùng anh khoác lên mình màu áo Chelsea.


Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 14/6/2019, Hazard đã đồng ý chuyển tới Benabeu với mức giá 100 triệu Bảng khi còn 1 năm hợp đồng. Chuyển sang Real Madrid Hazard sẽ hưởng lương khủng 400.000 Euro /tuần.

Phong cách chơi bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Hazard lừa bóng qua hậu vệ của Norwich City.

Hazard chủ yếu chơi như một Tiền vệ tấn công, tiền đạo hộ công hoặc một tiền đạo cánh và đã được công nhận là một tài năng của bóng đá châu Âu[10].Ở Lille dưới sự chỉ đạo của HLV Rudi Garcia, anh thường đóng vai trò là người kiến tạo trong sơ đồ 4-3-3 của đội và thường xuyên dạt ra 2 cánh vì anh thuận cả hai chân. Sau sự ra đi của Yohan CabayeGervinho trong năm 2011, mùa giải 2011-2012 Garcia chỉ đạo anh chơi ở vị trí của một Tiền vệ tấn công trung lộ, và cũng cho anh tập trung đá cánh nếu cần thiết.Hai điểm mạnh nhất của anh là tốc độkỹ thuật.

Đồng đội của anh và là đội trưởng của Lille Rio Mavuba ca ngợi Hazard: Mùa bóng này Eden đã chứng tỏ cậu ấy là cầu thủ xuất sắc nhất Ligue 1. Tôi đã từng thấy nhiều cầu thủ xuất chúng trong sự nghiệp nhưng ở độ tuổi của Eden thì cậu ấy là người duy nhất[11]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 9 tháng 11 năm 2019[12][13]
Câu lạc bộ Mùa giải Vô địch quốc gia Cúp League Cup Châu Âu Giải khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Lille Ligue 1 2007–08 4 0 0 0 0 0 4 0
Ligue 1 2008–09 30 4 3 1 2 1 35 6
Ligue 1 2009–10 37 5 1 0 2 1 12 4 52 10
Ligue 1 2010–11 38 7 5 3 2 2 9[a] 0 54 12
Ligue 1 2011–12 38 20 3 1 1 0 6 0 1[b] 1 49 22
Tổng cộng 147 36 12 5 7 4 27 4 1 1 194 50
Chelsea Premier League 2012–13 34 9 6 1 5 2 14[c] 1 3[d] 0 62 13
Premier League 2013–14 35 14 3 0 1 0 10[e] 3 49 17
Premier League 2014–15 38 14 1 0 6 2 7[f] 3 52 19
Premier League 2015–16 30 4 2 2 1 0 8 0 1[g] 0 42 6
Premier League 2016–17 36 16 4 1 3 0 43 17
Premier League 2017–18 34 12 5 1 4 1 8 3 0 0 51 17
Premier League 2018–19 37 16 2 0 5 3 8 2 0 0 52 21
Tổng cộng 245 85 23 5 25 8 53 11 6 1 352 110
Real Madrid La Liga 2019–20 7 1 0 0 4 0 0 0 11 1
Tổng cộng 7 1 0 0 4 0 0 0 11 1
Tổng cộng sự nghiệp 399 122 36 11 31 11 84 15 7 2 557 161
  1. ^ All appearances in Europa League
  2. ^ appearance in Trophée des champions
  3. ^ One appearance in UEFA Super Cup, 6 appearances in UEFA Champions League, 7 appearances and one goal in Europa League
  4. ^ One appearance in Community Shield, 2 appearances in FIFA Club World Cup
  5. ^ One appearance and one goal in UEFA Super Cup, 9 appearances and 3 goals in UEFA Champions League
  6. ^ All appearances in UEFA Champions League
  7. ^ Appearance in FA Community Shield

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 13 tháng 10 năm 2019.[14]
Đội tuyển quốc gia Bỉ
Năm Số trận Bàn thắng
2008 1 0
2009 9 0
2010 7 0
2011 8 1
2012 8 1
2013 9 3
2014 12 1
2015 8 6
2016 14 5
2017 5 4
2018 17 6
2019 6 3
Tổng cộng 104 30

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 10 năm 2011 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Kazakhstan
2–0
4–1
Vòng loại Euro 2012
2. 25 tháng 5 năm 2012 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Montenegro
2–1
2–2
Giao hữu
3. 6 tháng 2 năm 2013 Sân vận động Jan Breydel, Bruges, Bỉ  Slovakia
1–0
2–1
Giao hữu
4. 22 tháng 3 năm 2013 Philip II Arena, Skopje, Macedonia  Bắc Macedonia
2–0
2–0
Vòng loại World Cup 2014
5. 26 tháng 3 năm 2013 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Bắc Macedonia
1–0
1–0
Vòng loại World Cup 2014
6. 1 tháng 6 năm 2014 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Thụy Điển
2–0
2–0
Giao hữu
7. 28 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Síp
4–0
5–0
Vòng loại Euro 2016
8. 7 tháng 6 năm 2015 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Pháp
4–1
4–3
Giao hữu
9. 3 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Bosna và Hercegovina
3–1
3–1
Vòng loại Euro 2016
10. 6 tháng 9 năm 2015 Sân vận động GSP, Nicosia, Síp  Síp
1–0
1–0
Vòng loại Euro 2016
11. 10 tháng 10 năm 2015 Sân vận động quốc gia Andorra, Andorra la Vella, Andorra  Andorra
3–1
4–1
Vòng loại Euro 2016
12. 13 tháng 10 năm 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Israel
3–0
3–1
Vòng loại Euro 2016
13. 4 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Na Uy
2–2
3–2
Giao hữu
14. 26 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Municipal, Toulouse, Pháp  Hungary
3–0
4–0
Euro 2016
15. 7 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Bosna và Hercegovina
3–0
4–0
Vòng loại World Cup 2018
16. 10 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Algarve, Faro/Loulé, Bồ Đào Nha  Gibraltar
6–0
6–0
Vòng loại World Cup 2018
17. 12 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Estonia
3–0
8–1
Vòng loại World Cup 2018
18. 31 tháng 8 năm 2017 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Gibraltar
6–0
9–0
Vòng loại World Cup 2018
19. 10 tháng 10 năm 2017 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Síp
1–0
4–0
Vòng loại World Cup 2018
20.
3–0
21. 10 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  México
1–0
3–3
Giao hữu
22. 6 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Ai Cập
2–0
3–0
Giao hữu
23. 10 tháng 10 năm 2017 Otkrytiye Arena, Moscow, Nga  Tunisia
1–0
5–2
World Cup 2018
24.
4–1
25. 14 tháng 7 năm 2018 Sân vận động Krestovsky, Saint Petersburg, Nga  Anh
2–0
2–0
World Cup 2018
26. 7 tháng 9 năm 2018 Hampden Park, Glasgow, Scotland  Scotland
2–0
4–0
Giao hữu
27. 11 tháng 9 năm 2018 Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland  Iceland
1–0
2–0
UEFA Nations League 2018–19
28. 21 tháng 3 năm 2018 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Nga
2–1
3–1
Vòng loại Euro 2020
29.
3–1
30. 24 tháng 3 năm 2018 Sân vận động GSP, Nicosia, Síp  Síp
1–0
2–0
Vòng loại Euro 2020

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Lille
Chelsea FC

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia Bỉ

Cá nhân

  • Quả bóng bạc World Cup 2018

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hazard, new Real Madrid player”. 
  2. ^ “Eden Hazard ESPN Profile”. ESPN. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011. 
  3. ^ Lyttleton, Ben (ngày 18 tháng 4 năm 2011). “Ten top Ligue 1 talents who could be on the move this summer”. Sports Illustrated. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011. 
  4. ^ Benammar, Emily (ngày 1 tháng 4 năm 2010). “Eden Hazard, the Lille winger dubbed 'the next Lionel Messi”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  5. ^ “Scout Report: Arsenal and Manchester United target Eden Hazard”. Football Transfer Tavern. Ngày 8 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ “Could Lille’s Eden Hazard go to Emirates? Liverpool eye Heskey”. The First Post. Ngày 23 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  7. ^ “Foreign correspondent: Eden Hazard”. Ligue de Football Professionnel. Ngày 2 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2011. 
  8. ^ “Eden Hazard, un genio del desborde”. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ngày 1 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010. 
  9. ^ Hazard nhận thẻ đỏ vì đá cậu bé nhặt bóng
  10. ^ Bóng đá Bỉ
  11. ^ Hazard,ngôi sao mới của bóng đá châu Âu Việt-Time.com
  12. ^ “Eden Hazard Premier League Player Profile”. Premier League official website. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2012. 
  13. ^ Eden Hazard tại Soccerway
  14. ^ Eden Hazard tại National-Football-Teams.com