Ligue 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ligue 1
Ligue 1 Uber Eats.svg
Cơ quan tổ chứcLigue de Football Professionnel (LFP)
Thành lập1932; 90 năm trước (1932) (chính thức)
2002 (với tên gọi Ligue 1)
Quốc giaPháp (19 đội)
(Các) câu lạc
bộ khác từ
Monaco (1 đội )
Liên đoànUEFA
Số đội20
Cấp độ trong
hệ thống
1
Xuống hạng đếnLigue 2
Cúp trong nướcCoupe de France
Trophée des Champions
Cúp quốc tếUEFA Champions League
UEFA Europa League
UEFA Europa Conference League
Đội vô địch hiện tạiParis Saint-Germain (lần thứ 10)
(2021–22)
Vô địch nhiều nhấtSaint-Étienne

Paris Saint-Germain

(Mỗi đội 10 lần)
Thi đấu nhiều nhấtMickaël Landreau (618)
Vua phá lướiDelio Onnis (299)
Đối tác truyền hìnhDanh sách các đài truyền hình
Trang web
Ligue 1 2022-2023

Giải bóng đá vô địch quốc gia Pháp (tiếng Pháp: Ligue 1),[a] còn được gọi là Ligue 1 Uber Eats vì lý do tài trợ bởi Uber Eats,[1][2][3] là giải đấu chuyên nghiệp dành cho các câu lạc bộ bóng đá nam của Pháp. Đứng đầu hệ thống giải đấu bóng đá Pháp, đây là giải đấu bóng đá bậc nhất của quốc gia. Được điều hành bởi Ligue de Football Professionnel, Ligue 1 bao gồm 20 câu lạc bộ và hoạt động theo hệ thống thăng hạng và xuống hạng từ và đến Ligue 2.

Mùa giải kéo dài từ tháng 8 đến tháng 5. Các câu lạc bộ chơi hai trận với các câu lạc bộ khác ở giải đấu – một ở sân nhà và một ở sân khách – tổng cộng lên đến 38 trận đấu trong suốt chiều dài mùa giải. Phần lớn các trận đấu được diễn ra vào các ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, với một vài trận đấu được diễn ra vào các đêm ngày thường.

Ligue 1 được khởi tranh vào ngày 11 tháng 9 năm 1932 với tên gọi National trước khi chuyển sang tên gọi Division 1 sau một năm tồn tại. Giải tiếp tục hoạt động dưới tên gọi đó cho đến năm 2002, khi giải lấy tên hiện tại. AS Saint-Étienne là câu lạc bộ thành công nhất với 10 chức vô địch ở Pháp trong khi Olympique Lyonnais là câu lạc bộ giành được nhiều danh hiệu liên tiếp nhất (7 danh hiệu từ năm 2002 đến 2008). Với 71 mùa giải có mặt ở Ligue 1, Olympique de Marseille giữ kỷ lục góp mặt ở hạng đấu cao nhất nhiều mùa nhất, trong khi Paris Saint-Germain giữ kỷ lục giải đấu với 47 mùa giải liên tiếp ở hạng đấu cao nhất (từ năm 1974 đến nay). Nhà vô địch hiện tại là Paris Saint-Germain, đội bóng đã vô địch mùa giải 2021–22. Câu lạc bộ nước ngoài AS Monaco đã vô địch giải đấu nhiều lần, khiến giải đấu này trở thành một giải đấu xuyên biên giới.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Tính chuyên nghiệp trong bóng đá Pháp đã không tồn tại cho đến tháng 7 năm 1930, khi Hội đồng Quốc gia của Liên đoàn bóng đá Pháp bỏ phiếu ủng hộ việc thông qua nó. Những người sáng lập giải đấu bóng đá chuyên nghiệp Pháp là Georges Bayrou, Emmanuel Gambardella và Gabriel Hanot; giải chính thức đi vào hoạt động với mùa giải đầu tiên là 1932 - 1933.

Để tạo ra thành công một giải đấu bóng đá chuyên nghiệp trong nước, Liên đoàn đã giới hạn giải đấu ở 20 Câu lạc bộ. Để tham gia giải đấu, các CLB phải tuân theo ba tiêu chí quan trọng:

  • CLB chắc chắn đã có những kết quả tích cực trong quá khứ.
  • CLB phải có khả năng thu đủ doanh thu để cân bằng tài chính.
  • CLB phải có khả năng chiêu mộ thành công ít nhất 8 cầu thủ chuyên nghiệp.

Nhiều câu lạc bộ không đồng ý với các tiêu chí chủ quan, đáng chú ý nhất là Strasbourg FC, RC Roubaix, Amiens SCStade Français; trong khi những câu lạc bộ khác như Rennes do sợ phá sản, và Olympique Lillois do xung đột lợi ích, đã miễn cưỡng trở thành chuyên nghiệp. Chủ tịch của Olympique Lillois, Henri Jooris, cũng là chủ tịch của Ligue du Nord, lo ngại giải đấu của ông sẽ sụp đổ và đề xuất nó trở thành giải đấu thứ hai của giải đấu mới. Cuối cùng, nhiều CLB đã giành được vị thế chuyên nghiệp, mặc dù việc thuyết phục các câu lạc bộ ở nửa phía bắc của đất nước trở nên khó khăn hơn; Strasbourg, RC Roubaix và Amiens từ chối chấp nhận giải đấu mới, trong khi ngược lại Mulhouse, AC Roubaix, MetzFives chấp nhận giải đấu chuyên nghiệp. Ở miền nam nước Pháp, các câu lạc bộ như Olympique de Marseille, Hyères FC, SO Montpellier, SC Nîmes, Cannes, AntibesNice rất ủng hộ giải đấu mới và chấp nhận vị thế chuyên nghiệp của họ mà không tranh cãi.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Division 1 champions (trước WW2)
Mùa giải Vô địch
1932-1933 Olympique Lillois
1933-1934 Sète
1934-1935 FC Sochaux
1935-1936 Racing Club de France
1936-1937 Marseille
1937-1938 FC Sochaux
1938-1939 Sète
Trận đấu giữa FC SèteOlympique de Marseille vào năm 1934.

Mùa giải đầu tiên của giải đấu chuyên nghiệp, được gọi là National,được tổ chức vào năm 1932-1933. 20 thành viên khai mạc của National là: Antibes,CA Paris, Cannes, Club Français, AC Roubaix, Fives, Hyères FC, Olympique de Marseille, Metz, Mulhouse, Nice, SC Nîmes, Olympique Alès, Olympique Lillois, Racing Club de France, Red Star Olympique, Rennes, FC Sochaux, Sète,và SO Montpellier. 20 CLB được chia đều vào hai nhóm với ba câu lạc bộ cuối cùng của mỗi nhóm bị xuống hạng Division 2. Hai người chiến thắng của mỗi nhóm sau đó sẽ đối mặt với nhau trong một trận chung kết được tổ chức tại một địa điểm trung lập. Trận chung kết đầu tiên được tổ chức vào ngày 14/5/1933, đội đứng đầu của bảng A, Olympique Lillois gặp đội nhì bảng B là Cannes (đội đầu bảng B là Antibes bị Liên đoàn bóng đá Pháp nghi ngờ hối lộ nên đã bị truất quyền thi đấu). Sau đó Olympique Lillois đã lên ngôi vô địch với chiến thắng 4-3. Sau mùa giải đó, giải đấu quyết định giữ lại 14 câu lạc bộ và không thăng hạng bất kỳ đội nào từ giải hạng hai. Giải đấu cũng đồng ý đổi tên từ National thành Đơn giản là Division 1. Trong mùa giải 1934-1935, giải đấu đã tổ chức một hệ thống thăng hạng và xuống hạng hợp pháp, nâng tổng số câu lạc bộ ở giải hạng nhất lên con số 16 và duy trì đến mùa giải 1938-1939.

Zlatan Ibrahimović, cầu thủ giữ kỷ lục ghi bàn nhiều nhất và có hat-trick nhanh nhất lịch sử Ligue 1.

Thế chiến II, bóng đá đã bị đình chỉ bởi chính phủ Pháp và Ligue de Football Professionnel, mặc dù các câu lạc bộ thành viên của nó tiếp tục chơi trong các giải đấu khu vực. Trong "giải vô địch chiến tranh", như họ được gọi, tính chuyên nghiệp đã bị bãi bỏ bởi chế độ Vichy và các câu lạc bộ buộc phải tham gia vào các giải đấu khu vực, được chỉ định là Zone SudZone Nord. Do không liên kết với hai giải đấu, LFP và FFF không công nhận chức vô địch mà các câu lạc bộ giành được và do đó mùa giải từ năm 1939-1945 là không tồn tại theo quan điểm của hai tổ chức. Sau khi kết thúc chiến tranh và giải phóng nước Pháp, bóng đá chuyên nghiệp trở lại Pháp. Giải hạng nhất đã tăng phân bổ các câu lạc bộ lên 18 đội. Đến mùa giải 1965-1966 khi con số được tăng lên 20.

Năm 1964, quy tắc trung bình bàn thắng đã được thay thế bằng quy tắc hiệu số bàn thắng bại. Năm 2002, giải đấu đổi tên từ Division 1 thành Ligue 1 như hiện nay. Vào năm 2011, quỹ đầu tư Qatar Investment Authority (QSI) của ông chủ người QatarNasser Al-Khelaïfi đã mua lại CLB Paris Saint-Germain, qua đó CLB này đã có một tiềm lực tài chính dồi dào, trở thành CLB bóng đá giàu có nhất thế giới cho đến năm 2021.[5]

Các đội vô địch trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Số lần vô địch theo câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây thống kê số lần vô địch theo câu lạc bộ, không tính khoảng thời gian từ 1939–45 do giải bị gián đoạn, tổ chức theo từng vùng.

Câu lạc bộ Số lần Năm vô địch
AS Saint-Étienne
10
1957, 1964, 1967, 1968, 1969, 1970, 1974, 1975, 1976, 1981
Paris Saint-Germain F.C.
10
1986, 1994, 2013, 2014, 2015, 2016, 2018, 2019, 2020, 2022
Olympique de Marseille
9
1937, 1948, 1971, 1972, 1989, 1990, 1991, 1992, 2010
AS Monaco FC
8
1961, 1963, 1978, 1982, 1988, 1997, 2000, 2017
FC Nantes
8
1965, 1966, 1973, 1977, 1980, 1983, 1995, 2001
Olympique Lyonnais
7
2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008
Stade de Reims
6
1949, 1953, 1955, 1958, 1960, 1962
Girondins de Bordeaux
6
1950, 1984, 1985, 1987, 1999, 2009
Lille OSC
4
1946, 1954, 2011, 2021
OGC Nice
4
1951, 1952, 1956, 1959
FC Sète
2
1934, 1939
Sochaux-Montbéliard
2
1935, 1938
RC Lens
1
1998
AJ Auxerre
1
1996
Strashbourg F.C.
1
1979
CO Roubaix-Tourcoing
1
1947
RCF Paris
1
1936
Montpellier
1
2012
Olympique Lillois
1
1933

Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ chuyển nhượng với số tiền cao nhất mà một CLB Pháp thực hiện trong lịch sử giải vô địch là việc AS Monaco bán tiền đạo người Pháp Kylian Mbappé cho CLB Paris Saint-Germain vào năm 2018 với số tiền 145 triệu Euro. Đối với những thương vụ chuyển nhượng bên ngoài nước Pháp, kỷ lục giải đấu được Paris Saint-Germain nắm giữ với việc mua thành công tiền đạo người BrazilNeymar Jr vào năm 2017 với tổng số tiền là 222 triệu Euro; vụ chuyển nhượng này cũng là cao nhất trong lịch sử bóng đá thế giới.[6]

Xếp hạng 10 cầu thủ đắt giá nhất
Xếp hạng Cầu thủ Phí chuyển nhượng Năm Từ Đến
1 Brasil Neymar 222 M€ 2017 FC Barcelona Paris Saint-Germain
2 Pháp Kylian Mbappé 145 M€ 2018 AS Monaco Paris Saint-Germain
3 Uruguay Edinson Cavani 64,5 M€ 2013 S.S.C Napoli Paris Saint-Germain
4 Argentina Ángel Di María 63 M€ 2015 Manchester United Paris Saint-Germain
5 Maroc Achraf Hakimi 60 M€ 2021 Inter Milan Paris Saint-Germain
6 Argentina Mauro Icardi 50 M€ 2020 Inter Milan Paris Saint-Germain
7 Brasil David Luiz 49,5 M€ 2014 Chelsea FC. Paris Saint-Germain
8 Colombia James Rodríguez 45 M€ 2013 FC Porto AS Monaco
9 Colombia Radamel Falcao 43 M€ 2013 Atlético Madrid AS Monaco
10 Brasil Thiago Silva 42 M€ 2012 AC Milan Paris Saint-Germain
Argentina Javier Pastore 42 M€ 2011 Palermo FC Paris Saint-Germain

Nguồn lực tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Việc kiểm soát tài chính của các câu lạc bộ được thực hiện bởi Tổng cục Kiểm soát Quản lý Quốc gia (DNCG) từ năm 1980. Cơ quan này có chức năng kiểm soát và có phương tiện để xử phạt, bao gồm cả quyền giáng chức các câu lạc bộ hoặc cấm họ thăng chức. DNCG đã ban hành các biện pháp trừng phạt giáng chức hành chính đầu tiên vào năm 1991.

Cho đến những năm 1970, hầu như tất cả doanh thu của câu lạc bộ đến từ các phòng vé. Trong năm 2005-2006, doanh thu của 20 CLB Ligue 1 đến từ 57% bản quyền truyền hình và chỉ 15% từ các phòng vé. Quảng cáo luôn có mặt xung quanh các sân vận động và bắt đầu xuất hiện trên áo đấu của các cầu thủ vào tháng 10 năm 1969. Loại hình doanh thu này chiếm 18% ngân sách của các CLB ưu tú trong năm 2005-2006. Các công cụ phái sinh và trợ cấp từ chính quyền địa phương (3%). Những khoản trợ cấp tương tự này chiếm một phần tư doanh thu vào đầu những năm 1980. Chúng hiện đang được quy định chặt chẽ bởi các quy định của châu Âu.

Doanh thu tích lũy của các câu lạc bộ tại Ligue 1 (triệu Euro, không bao gồm chuyển nhượng)
Nguồn : Báo cáo thường niên bởi DNCG (1995-2018)

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải gồm 20 đội: 30 trận của PSG (2015-16)
  • giải gồm 18 đội: 25 trận của Saint-Étienne (1969-70)
  • Thắng nhiều trận trên sân nhà nhất trong một mùa giải: 19 trận của AS Saint-Étienne (1974-75)
  • Thắng nhiều trận trên sân khách nhất trong một mùa giải: 15 trận của PSG (2015-16).
  • Thua ít trận nhất trong một mùa giải: 1 trận của Nantes (1994-95)
  • Tham gia giải nhiều lần nhất: FC Sochaux-Montbéliard, 57 mùa bóng (tính cả 2005-2006)
  • Tham gia giải liên tục nhiều lần nhất: Nantes, 43 mùa bóng, từ 1963 (tính cả 2005-06)
  • Tổng số bàn thắng trong một mùa giải:
  • giải gồm 20 đội: 1946-47 (1.344 bàn, 3,51 bàn/trận)
  • giải gồm 18 đội: 1948-49 (1.138 bàn, 3,71 bàn/trận)
  • Câu lạc bộ ghi bàn nhiều nhất trong một mùa giải:
  • giải gồm 20 đội: 1959-60 RC Paris, 118 bàn
  • giải gồm 20 đội: 1948-49 Lille OSC và 2015-16 PSG,102 bàn
  • Thủng lưới ít nhất trong một mùa giải: 2015-16 PSG, 19 bàn
  • Hiệu số bàn thằng-thua cao nhất trong một mùa giải:
  • giải gồm 20 đội: 2015-16, PSG +83
  • giải gồm 18 đội: 1948-49 Lille OSC, +62
  • Chiến thắng lớn nhất: 12-1, Sochaux - Valenciennes, 1935-36
  • Tổng số thẻ vàng nhiều nhất trong một mùa giải: 1,654 thẻ ở mùa bóng 2002-03
  • Tổng số thẻ đỏ nhiều nhất trong một mùa giải: 131 thẻ ở mùa bóng 2002-03
  • Câu lạc bộ bị nhiều thẻ đỏ nhất trong một mùa giải: 1998-99 Bastia, 2002-03 Paris Saint-Germain, và 2003-04 Lens, 13
  • Huấn luyện viên: Guy Roux, AJ Auxerre (1961-2000 và 2001-2005), 890 trận
  • Tổng số khán giả: 8.086.774 khán giả (2004-2005, 20 đội)
  • Khán giả trung bình: 23.154 khán giả/trận (2000-2001, 18 đội)
  • Khán giả cao nhất trong một trận: 77 840, LilleLyon, 2007–08[7].

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc Cúp vô địch Ligue 1: L'Hexagoal.

Chiếc cúp Ligue 1 hiện tại, L'Hexagoal,được phát triển bởi Ligue de Football Professionnel (LFP) và được thiết kế và tạo ra bởi Pablo Reinoso. Các danh hiệu đã được trao cho nhà vô địch của Pháp kể từ cuối mùa giải 2006-07,thay thế cho chiếc cúp Ligue 1 trước đó chỉ tồn tại trong 5 năm. Cái tên Hexagoal bắt nguồn từ một cuộc thi chính thức được tạo ra bởi LFP và kênh truyền hình Pháp TF1 để xác định tên cho chiếc cúp mới. Hơn 9.000 đề xuất đã được gửi đến và vào ngày 20 tháng 5 năm 2007, thành viên Liên đoàn bóng đá Pháp Frédéric Thiriez tuyên bố rằng, sau một cuộc bỏ phiếu trực tuyến, thuật ngữ Hexagoal đã nhận được một nửa số phiếu bầu. Câu lạc bộ đầu tiên vinh dự được nâng cúp mới là Olympique Lyonnais, sau khi lên ngôi vô địch trong mùa giải 2007 - 2008.

Giải thưởng hàng tháng và hàng năm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài chiếc cúp của CLB chiến thắng và các huy chương cá nhân của cầu thủ nhận được sau mỗi mùa giải, Ligue 1 cũng trao giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất tháng hàng tháng. Sau mùa giải, giải thưởng UNFP được tổ chức và các giải thưởng như Cầu thủ xuất sắc nhất năm, Huấn luyện viên của năm và Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm từ cả Ligue 1 và Ligue 2 được trao.

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các câu lạc bộ không cho phép các đài phát thanh phát sóng trực tiếp các trận đấu. Tuy nhiên, một số trận đấu hiếm hoi vẫn được phát sóng, chẳng hạn như trận chung kết đầu tiên vào ngày 14 tháng 5 năm 1933 [8] được tường thuật trực tiếp bởi Radio - Paris, Le Poster ParisienRadio PTT. Từ mùa giải 1935-1936, Liên đoàn đã cho phép phát sóng các trận đấu trên cơ sở bị trì hoãn nửa giờ sau tiếng còi cuối cùng với các bình luận khắc trên đĩa. Từ tháng 11 năm 1937, các chương trình phát sóng trực tiếp các trận đấu đã diễn ra gần như hàng tuần. Radio 37 là đài phát thanh tích cực nhất về mặt phát sóng.

Trong Chiến tranh, chỉ có 2 trận đấu được phát sóng trực tiếp vào Chủ nhật. Sau giải phóng, các bộ đàm hoạt động mà không bị ràng buộc. Đài phát thanh Luxembourg được thành lập từ ngày 1/11/1953 với một hệ thống đa kênh trực tiếp để theo dõi tất cả các trận đấu của cùng một ngày.[9]. Tuy nhiên nhóm các nhà đài đã bị cấm phát sóng trực tiếp hiệp 1 vào tháng 3 năm 1954 với lý do khuyến khích khán giả đến sân vận động. Các đài đã điều chỉnh trong khi chờ đợi kết thúc hiệp 1 để tóm tắt nó và tiếp tục với việc phát sóng trực tiếp vào hiệp 2.

Bản quyền truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển của phí bản quyền truyền hình
Giai đoạn Phí bản quyền
1984-1985 5 MF
1998-1999 700 MF
1999-2000 800 MF
2001-2002 238 M€
2003-2004 267 M€
2004-2005 375 M€
2005-2006 546 M€
2006-2007 600 M€
2007-2008 653 M€
2008-2012 668 M€
2012-2016 607 M€
2016-2020 727 M€
2020-2021 681 M€
2021-2024 663 M€

Số lượng tiền bản quyền truyền hình cho Ligue 1 và Ligue 2 tăng mạnh trong những năm 1990 và 2000. Năm 1999, kênh Canal+, đài truyền hình duy nhất của giải kể từ năm 1984 đã trả 700 triệu Franc để sở hữu bản quyền của giải đấu này.[10] Với sự xuất hiện của một đối thủ cạnh tranh là TPS, tiền bản quyền tăng lên nhanh chóng cho đến khi đạt mức trung bình 600 triệu Euro mỗi năm trong giai đoạn 2005-2008.

Với sự xuất hiện của Orange trên thị trường, số tiền thuế đạt tổng cộng 668 triệu Euro mỗi năm trong giai đoạn từ 2008-2012. Sau khi giảm xuống còn 607 triệu Euro từ năm 2012 đến năm 2016 do sự biến mất của TPS và sự rút lui của Orange, giải đấu mới liên quan đến sự xuất hiện của BeIN Sports trên thị trường Pháp, cho phép LFP thu được 748,5 triệu Euro trong giai đoạn 2016 đến 2020.[11]

Khán giả[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục khán giả trên Canal+ được ghi nhận tại trận đấu giữa Olympique de MarseilleOlympique Lyonnais ngày 17/5/2009 với được 2,93 triệu người xem trực tiếp. Kỷ lục trước đó thuộc về các trận đấu Olympique de Marseille - Paris Saint-Germain (1991) và Olympique Lyonnais - Olympique de Marseille (2008) với 2,91 triệu người xem.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ tiếng Pháp: [liɡ œ̃]; "League 1"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ligue de Football Professionnel [@Ligue1_ENG] (ngày 19 tháng 6 năm 2020). “July, 1st 2020 @UberEats Discover the new Ligue 1 Uber Eats logo!” (Tweet). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020 – qua Twitter.
  2. ^ Gartland, Dan (ngày 13 tháng 6 năm 2019). “An Uber Eats Driver Will Deliver the Matchball for Every Ligue 1 Game”. Sports Illustrated. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ “Uber Eats nouveau partenaire-titre de la Ligue 1”. L’Equipe (bằng tiếng Pháp). ngày 12 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.
  4. ^ “Prince Albert II, boss Leonardo Jardim hail Monaco's Ligue 1 title”. ESPN. ngày 18 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  5. ^ Ông chủ Câu lạc bộ Paris Saint-Germain
  6. ^ Thương vụ chuyển nhượng đắt giá nhất lịch sử bóng đá thế giới
  7. ^ Chi tiết trận đấu Lille-Lyon (tiếng Pháp)
  8. ^ Le Petit Parisien, Bản mẫu:Numéro du 14 mai 1933, tr. 6, sur gallica.bnf.fr.
  9. ^ « Cahiers d'histoire de la radiodiffusion », op.cit., tr. 90.
  10. ^ . 05 août 2011 http://www.maxifoot.fr/football/article-13165.htm. Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur= (gợi ý |author=) (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp); |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp).
  11. ^ . 4 avril 2014 http://www.leparisien.fr/ligue-1-2010-2011-football/droits-tv-du-foot-la-ligue-espere-decrocher-le-gros-lot-04-04-2014-3740193.php. Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |éditeur= (gợi ý |editor=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp); |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]