FC Metz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Metz
Logo
Tên đầy đủFootball Club de Metz
Biệt danhLes Grenats (tiếng Anh: The Maroons)[1],
Les Graoullys
Thành lập1932; 90 năm trước (1932)
SânSân vận động Saint-Symphorien
Sức chứa25.636[2]
Chủ tịchBernard Serin
Huấn luyện viênLászló Bölöni
Giải đấuLigue 2
2021-22Thứ 19 trên 20 (xuống hạng)
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

Football Club de Metz, hay còn được gọi là FC Metz hoặc đơn giản chỉ là Metz, là một đội bóng chuyên nghiệp của Pháp có trụ sở ở Metz, Lorraine. Đội được thành lập vào năm 1932. Sân vận động Saint-Symphorien là sân nhà của đội. Hiện tại đội đang chơi ở Ligue 2.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

FC Metz được thành lập vào năm 1932 bởi sự sáp nhập của hai câu lạc bộ thể thao nghiệp dư, và ngay sau đó trở thành một đội bóng chuyên nghiệp; đội là một trong những đội bóng chuyên nghiệp lâu đời nhất ở Pháp. Nguồn gốc của đội bắt nguồn từ câu lạc bộ SpVgg Metz, được thành lập vào năm 1905 khi thành phố Metz là một phần của Đế quốc Đức. SpVgg Metz đã chơi ở giải hạng nhất Westkreis-Liga trong mùa giải năm 1913–14, trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, giải đấu phải tạm dừng. Một số cầu thủ của câu lạc bộ này là một phần của Cercle Athlétique Messin vào năm 1919, sau đó trở thành FC Metz vào năm 1932. Đội là một trong những câu lạc bộ thành công nhất trong Division d'Honneur - Lorraine, giành chức vô địch vào các năm 1920, 1921, 1922, 1924, 1926, 1927, 1929 và 1931.

Câu lạc bộ đã chơi ở giải hạng hai phía bắc của Pháp từ năm 1933, vô địch giải đấu vào năm 1935 và lần đầu tiên được thăng hạng lên Ligue 1. Đội bóng này đã trở thành một bên giữa bảng ở giải hạng nhất cho đến khi chiến tranh bùng nổ làm ảnh hưởng đến lối chơi một lần nữa. FCM đã không tham gia các giải đấu cấp khu vực từ năm 1939–40.

Trong Thế chiến thứ 2, Moselle département bị sáp nhập bởi Đức, câu lạc bộ phải chơi bằng cái tên là FV Metz ở giải đấu Gauliga Westmark. Trong ba mùa giải từ năm 1941 đến năm 1944, câu lạc bộ luôn luôn cán đích ở vị trí thứ nhì.

Mặc dù thành phố Metz bị quân đồng minh chiếm đóng vào mùa thu năm 1944, câu lạc bộ đã không tham gia giải bóng đá giải VĐQG Pháp vào năm 1944–45 mà trở lại Ligue 1 vào năm 1945–46, đứng thứ 17 trong số 18 câu lạc bộ. Việc mở rộng giải đấu lên 20 câu lạc bộ có nghĩa là đội không bị xuống hạng và thi đấu ở giải đấu cao nhất cho đến năm 1950, khi họ cán đích ở vị trí cuối cùng, kết thúc những mùa giải ở Ligue 1. Metz được cho phép ở lại Ligue 1 như một đặc ân do tình hình thảm khốc của nó sau chiến tranh: sân vận động bị hư hại, gần như không thể sửa chữa. Đội đã phải bắt đầu lại từ đầu một lần nữa.

Câu lạc bộ đã trở lại ngay lập tức, đứng thứ nhì tại Ligue 2, sau Lyon và trở lại hạng đấu cao nhất. FC Metz đã trở lại mạnh mẽ, với việc cán đích ở vị trí thứ 5 trong mùa giải đầu tiên. Sau đó, câu lạc bộ một lần nữa phải chiến đấu trụ hạng qua từng mùa giải, đứng thứ 19 vào năm 1958 và phải trở lại Ligue 2. Phải mất 3 năm ở giải đấu đó thì họ mới có thể trở lại Ligue 1 vào năm 1961, nhưng chỉ kéo dài đúng một năm. FC Metz đã trải qua năm mùa giải tiếp theo ở giải hạng hai.

FC Metz lên hạng nhất của bóng đá Pháp một lần nữa vào năm 1967; đội thi đấu ở đó cho đến khi bị xuống hạng vào năm 2001, mặc dù họ đã trở lại ngay lập tức và trở lại Ligue 1 vào mùa tiếp theo.

Sau khi thua trận lượt đi tại Cúp C1 châu Âu 1984–85 với tỷ số 4–2 trước Barcelona tại Sân vận động Saint-Symphorien, nhiều người nghĩ rằng FC Metz sẽ bị vùi dập trên sân Camp Nou. Tuy nhiên, cú hat-trick của tiền đạo người Nam Tư, Tony Kurbos đã giúp họ có được chiến thắng 4–1 trong trận lượt về để đưa đội bóng Pháp tiến vào vòng trong với tổng tỉ số 6–5.

Năm 1998, đội đã tranh suất tham dự UEFA Champions League, nhưng để thua ở vòng ba trước đội bóng Phần Lan HJK Helsinki. Năm 2006, FC Metz bị xuống hạng, xếp cuối bảng, mặc dù thường xuyên có sự hiện diện của một gương mặt vô cùng triển vọng, Miralem Pjanić, người sau này chuyển đến gã khổng lồ Lyon, với mức phí 7,5 triệu euro. Vào cuối mùa giải 2011–12, Metz đứng thứ 18 tại Ligue 1 và phải xuống hạng sau trận hòa 1-1 trên sân nhà vào ngày 20 tháng 5 năm 2012 trước Tours. Tuy nhiên, ngày 31 tháng 8 năm 2012 (giờ địa phương), họ đã bị đánh xuống hạng 3 - Championnat National vì không đảm bảo được ngân sách hoạt động. Metz chỉ trải qua một mùa giải ở cấp độ này, xây dựng lại một đội bóng với cựu cầu thủ nổi tiếng Albert Cartier làm huấn luyện viên, giành quyền thăng hạng lên Ligue 2, và sau đó ngay lập tức về nhất và giành quyền thăng hạng lên Ligue 1. Thật không may, đội bóng lại xuống hạng ở Ligue 2, nhưng đã giành được thăng hạng trong mùa giải tiếp theo. Lần này, Metz đã kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 14, trụ lại thêm một mùa giải nữa ở Ligue 1. Trong mùa giải 2017–18 Ligue 1, Metz đã trải qua một chuỗi trận kinh hoàng, thua 11 trong số 12 trận đầu tiên. Câu lạc bộ có sự tiến triển sau đó nhưng đứng cuối bảng và phải trở lại Ligue 2.

Vào ngày 26 tháng 4 năm 2019, Metz đã được thăng hạng trở lại Ligue 1 với việc xếp thứ nhất tại Ligue 2. Sự thăng hạng đã được định đoạt bằng chiến thắng 2-1 trước Red Star.

Sân nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Sân nhà của đội là Sân vận động Saint-Symphorien, có sức chứa 25,636 chỗ ngồi.

Thành tích ở Cúp Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Giải đấu Vòng đấu Đối thủ Sân nhà Sân khách Tổng tỉ số
1968-69 Inter-Cities Fairs Cup Vòng 1 Đức Hamburger SV 1–4 2–3 3–7 Symbol delete vote.svg
1969-70 Inter-Cities Fairs Cup Vòng 1 Ý Napoli 1–1 1–2 2–3 Symbol delete vote.svg
1984–85 UEFA Cup Winners' Cup Vòng 1 Tây Ban Nha Barcelona 2–4 4–1 6–5 Symbol keep vote.svg
Vòng 2 Cộng hòa Dân chủ Đức Dynamo Dresden 0–0 1–3 1–3 Symbol delete vote.svg
1985-86 UEFA Cup Vòng 1 Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Hajduk Split 2-2 1-5 3–7 Symbol delete vote.svg
1988-89 UEFA Cup Winners' Cup Vòng 1 Bỉ Anderlecht 1–3 0–2 1–5 Symbol delete vote.svg
1995 UEFA Intertoto Cup
Vòng bảng (Bảng 6) Iceland Keflavík Không có 2-1 Thứ 1 Symbol keep vote.svg
Scotland Partick Thistle 1-0 Không có
Croatia NK Zagreb Không có 1-0
Áo Linzer ASK 1-0 Không có
Vòng 1/8 România Ceahlăul Không có 0-2 2–0 Symbol keep vote.svg
Tứ kết Pháp Strasbourg 0–2 Không có 0–2 Symbol delete vote.svg
1996–97 UEFA Cup Vòng 1 Áo Tirol Innsbruck 1–0 0–0 1–0 Symbol keep vote.svg
Vòng 2 Bồ Đào Nha Sporting CP 2–0 1–2 3–2 Symbol keep vote.svg
Vòng 3 (Vòng 1/8) Anh Newcastle United 1–1 0–2 1–3 Symbol delete vote.svg
1997–98 UEFA Cup Vòng 1 Bỉ R.E. Mouscron 4-1 2-0 6–1 Symbol keep vote.svg
Vòng 2 Đức Karlsruher SC 0–2 1–1 1–3 Symbol delete vote.svg
1998–99 UEFA Champions League Vòng sơ loại thứ 2 Phần Lan HJK 1–1 0–1 1–2 Symbol delete vote.svg
UEFA Cup Vòng 1 Cộng hòa Liên bang Nam Tư Red Star Belgrade 2–1 1–2 3–3(3–4 p) Symbol delete vote.svg
1999 UEFA Intertoto Cup Vòng 2 Slovakia MŠK Žilina 3–0 1–2 4–2 Symbol keep vote.svg
Vòng 3 Bỉ Lokeren 0–1 2–1 2–2 (a) Symbol keep vote.svg
Bán kết Ba Lan Polonia Warsaw 5–1 1–1 6-2 Symbol keep vote.svg
Chung kết Anh West Ham 1–3 1–0 2–3 Symbol delete vote.svg

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng hai (1): 1997–98
Vô địch (4): 1934–35, 2006–07, 2013–14, 2018–19
Vô địch (2): 1983–84, 1987–88
Á quân (1): 1937–38
Vô địch (2): 1985–86, 1995–96
Á quân (1): 1998–99
Á quân (1): 1999

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
3 HV Pháp Matthieu Udol
4 HV Mali Boubakar Kouyaté
5 HV Guiné-Bissau Fali Candé
6 TV Pháp Kévin N'Doram
7 Sénégal Ibrahima Niane
9 Gruzia Georges Mikautadze
10 TV Pháp Youssef Maziz
11 Hà Lan Anthony Musaba (cho mượn tại Monaco)
14 TV Sénégal Cheikh Sabaly
15 HV Sénégal Ababacar Lô
16 TM Algérie Alexandre Oukidja
19 TV Bờ Biển Ngà Habib Maïga
20 Sénégal Lamine Gueye
Số VT Quốc gia Cầu thủ
21 TV Maroc Amine Bassi
22 HV Maroc Sofiane Alakouch
24 Pháp Lenny Joseph
25 HV Pháp William Mikelbrencis
27 TV Haiti Danley Jean Jacques
30 TM Pháp Marc-Aurèle Caillard
34 TV Pháp Joseph N'Duquidi
35 TV Pháp Maïdine Douane
36 TV Gambia Ablie Jallow
39 HV Bờ Biển Ngà Koffi Kouao
40 TM Sénégal Ousmane Ba
77 Cabo Verde Vagner Gonçalves
80 Sénégal Amadou Dia N'Diaye
86 HV Bờ Biển Ngà Ismaël Traoré
99 TM Pháp David Oberhauser

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Pháp Guillaume Dietsch (cho mượn tại Seraing)
TV Bỉ Sami Lahssaini (cho mượn tại Seraing)
TV Cộng hòa Congo Warren Tchimbembé (cho mượn tại Guingamp)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Mali Boubacar Traoré (cho mượn tại Wolverhampton)
Cabo Verde Vagner Gonçalves (cho mượn tại Seraing)
Sénégal Pape Ndiaga Yade (cho mượn tại Troyes)

Những cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Ban lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên László Bölöni
Trợ lý Huấn luyện viên Jean-Marie De Zerbi
Benoît Tavenot
HLV Thủ môn Christophe Marichez
HLV Thể lực Florian Simon
Bác sĩ André Marie
Éric Sitte

Các đời huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “#144 – FC Metz : les Grenats” (bằng tiếng Pháp). Footnickname. 3 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2021.
  2. ^ “Stade Saint-Symphorien”. Football Club de Metz. 28 tháng 7 năm 2015.
  3. ^ “France - Trainers of First and Second Division Clubs”. www.rsssf.com.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]