Zlatan Ibrahimović

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Zlatan Ibrahimović
Ibra milan.JPG
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Zlatan Ibrahimović
Chiều cao 1,95 m (6 ft 5 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Paris Saint-Germain
Số áo 10
CLB trẻ
1987–1991 Malmö BI
1989–1995 Balkan
1995–1999 Malmö FF
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1999–2001 Malmö FF 40 (16)
2001–2004 Ajax 109 (49)
2004–2006 Juventus 69 (23)
2006–2009 Internazionale 88 (57)
2009– Barcelona 29 (16)
2010–2011 Milan (mượn) 29 (14)
2011–2012 Milan 32 (28)
2012- PSG 104 (90)
Đội tuyển quốc gia
198 U-18 Thụy Điển 4 (1)
2001 U-21 Thụy Điển 7 (6)
2001– Thụy Điển 111 (62)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải vô địch quốc gia và cập nhật lúc 19 tháng 12 năm 2015.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 17 tháng 11 năm 2015

Zlatan Ibrahimović (sinh ngày 3 tháng 10 năm 1981) là một cầu thủ bóng đá người Thụy Điển. Anh có cha mẹ là người Bosna[2]Croatia[2] hiện đang chơi ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Paris Saint-GermainĐội tuyển bóng đá quốc gia Thụy Điển.

Ibrahimović bắt đầu sự nghiệp tại Malmö FF vào cuối thập niên 1990 dưới thời huấn luyện viên Roland Andersson. Anh được Ajax ký hợp đồng, và dần được biết đến dưới sự huấn luyện của Ronald Koeman. Vài năm sau, anh ký hợp đồng với Juventus với giá 16 triệu . Ibrahimović nổi tiếng tại Serie A với vai trò đá cặp với Alessandro Del Piero. Năm 2006, anh ký hợp đồng với địch thủ của Juventus, Internazionale, tại đó anh giành được những danh hiệu cá nhân như Oscar del Calcio, Guldbollen, và có tên trong Đội tuyển xuất sắc nhất năm 2007 của UEFA, khi là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất năm 2008-09 cùng với 3 lần giành được Scudetto liên tiếp. Vào mùa hè năm 2009, anh chuyển tới FC Barcelona. Tuy nhiên, ngay mùa sau đó anh quay trở lại Serie A trong màu áo A.C. Milan và có thêm một Scudetto nữa (người ta thường hay ví von anh bằng cái tên "Mr. Scudetto" hay "Ngài Scudetto"). Anh ký hợp đồng với Paris Saint-Germain vào tháng 6 năm 2012.

Tháng 2 năm 2009, Ibrahimović và tiền vệ Kaká của Real Madrid là những cầu thủ được trả lương cao nhất trên thế giới, mỗi người nhận lương hàng năm 9 triệu euro.[3] Anh hiện đang giữ kỷ lục là cầu thủ có phí chuyển nhượng cao thứ hai trong lịch sử, tổng cộng 69 triệu euro khi chuyển từ Internazionale đến FC Barcelona.

Mặc dù có dáng người cao to nhưng Ibrahimovic lại có phong cách chơi bóng rất linh hoạt và có kỹ thuật cá nhân tốt. Được coi là một trong những trung phong cắm xuất sắc nhất bóng đá hiện đại, anh nổi tiếng với cá tính mạnh mẽ và những bàn thắng siêu phẩm. Cú đá xe đạp chổng ngược của anh vào lưới đội tuyển Anh trong màu áo Thụy Điển đã được FIFA trao giải FIFA Puskás Award 2013 cho bàn thắng đẹp nhất năm.[4] Anh được nhiều tiền đạo trứ danh trong lịch sử bóng đá thế giới như Ronaldo đánh giá rất cao.

Niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Ibrahimović sinh ra tại Thụy Điển trong một gia đình bố mẹ là dân nhập cư từ Nam Tư cũ. Bố là người Bosnia, tên Šefik, sinh ra tại Bijeljina và mẹ là người Croatia có quê tại Zadar[2]. Bố mẹ anh đã gặp nhau tại Thụy Điển và Zlatan đã lớn lên tại Rosengård, một khu phố ở Malmö nổi tiếng là nơi có các cộng đồng dân nhập cư. Sau khi nhận được một đôi giày đá bóng, Ibra bắt đầu chơi bóng năm lên 6 tuổi. Trong một cuộc phỏng vấn anh cho biết hồi nhỏ khi đá bóng, trong một trận đấu, sau khi hiệp một kết thúc, đội bóng của anh bị dẫn 5-0, thế nhưng ở hiệp 2 anh vào sân và bất ngờ ghi 8 bàn thắng. Hồi niên thiếu, anh là thành viên quen thuộc của đội trẻ Malmö FF. Vào năm 15 tuổi, Ibrahimovic chút nữa đã rời bỏ đá bóng, bởi anh thích làm việc ở một cảng biển ở Malmo, nhưng huấn luyện viên đã động viên anh tiếp tục chơi bóng. Dù sau đó đỗ vào Borgarskolan ở Malmö, anh đã sớm bỏ học để tập trung vào nghề bóng đá[5]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Malmö FF[sửa | sửa mã nguồn]

Ibrahimović đã bắt đầu chơi bóng đá chuyên nghiệp với câu lạc bộ Thụy Điển Malmö FF mùa giải năm 1999 tại Allsvenskan, giải hàng đầu Thụy Điển. Trong khi đang chơi tại câu lạc bộ này, Arsène Wenger đã cố thuyết phục anh gia nhập Arsenal nhưng không thành công. Khi đó, Wenger đã mời cầu thủ này thử việc nhưng anh đã đáp lại bằng câu nói nổi tiếng: "Zlatan không thử việc." [6] Ngoài Wenger, Leo Beenhakker cũng tỏ ra quan tâm Ibrahimović sau khi xem anh chơi ở La Manga, Tây Ban Nha. Xem Ibrahimović ghi một bàn bất ngờ trong một trận giao hữu với đội Na Uy Moss FK,[7] Beenhakker bắt đầu tin vào tài năng của anh. Anh đã trở lại Amsterdam và ngày 22 tháng 3 năm 2001, một thỏa thuận giữa Ajax và Malmö liên quan đến việc chuyển nhượng Zlatan đến Amsterdam đã được thông báo và tháng 7 cùng năm, anh đã gia nhập Ajax với giá chuyển nhượng 7,8 triệu.[8]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Ibrahimovic không có nhiều cơ hội ra sân dưới sự dẫn dắt của Co Adriaanse, nhưng khi Adriaanse bị sa thải vào ngày 29 tháng 11 năm 2001, tân huấn luyện viên Ronald Koeman đưa Ibra vào đội hình chính thức của Ajax vô địch Eredivisie 2001-02. Mùa giải sau đó, Ibra ghi 2 bàn trong chiến thắng 2-1 trước đội bóng Pháp Olympique Lyonnais ở trận đấu ra mắt cúp C1 vào ngày 17 tháng 9 năm 2002. Anh ghi tổng cộng 4 bàn ở cúp C1 cho tới khi Ajax thua AC Milan ở tứ kết. Trong mùa giải cuối cùng ở Ajax, tiếng tăm của Ibra bắt đầu vang dội khi anh ghi một bàn thắng tuyệt vời vào lưới NAC Breda vào ngày 22 tháng 8 năm 2004, một bàn thắng sau đó được bầu là "Bàn thắng đẹp nhất năm" theo bình chọn của người xem Eurosport.[9] Anh chỉ ghi 1 bàn ở cúp C1 2003-04 (gặp Celta Vigo vào ngày 22 tháng 10) khi Ajax bị loại từ vòng bảng.

Vào ngày 18 tháng 4 năm 2004, Ibra gây ra chấn thương cho đồng đội ở Ajax Rafael van der Vaart trong một trận giao hữu gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan, chấn thương dẫn đến những lời chỉ trích của van der Vaart rằng Ibra đã cố tình gây chấn thương cho anh. Điều này khiến Ibrahimovic ngay lập tức bị bán sang Juventus vào ngày 31 tháng 8.[10]

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Ibrahimovic chuyển từ Ajax sang Juventus với mức giá 16 triệu euro.[11] Anh lập tức có suất trong đội hình chính do tay săn bàn David Trezeguet bị chấn thương, và ghi 16 bàn. Gần cuối mùa giải, Juventus từ chối mức giá 70 triệu euro mà Real Madrid đưa ra với anh, mà sau này được người đại diện của Ibra công bố, Mino Raiola, nhằm nâng mức giá của anh trên thị trường chuyển nhượng.[9] Vào ngày 14 tháng 11 năm 2005, anh được trao danh hiệu Guldbollen, giải thưởng được trao cho cầu thủ Thuỵ Điển xuất sắc nhất năm.[12]

Mùa giải kế tiếp không được thành công như mùa giải đầu tiên; vị trí của anh trên hàng tiền đạo Juventus bị thay đổi, bởi vai trò của anh không còn là một cầu thủ ghi bàn nữa mà anh chuyển sang đá cánh nhiều hơn, đóng góp nhiều hơn trong việc xây dựng lối chơi, đặc biệt là một cầu thủ mồi nhử, và số lần kiến tạo của anh tăng lên. Ở mùa giải 2005-06, các fan Juventus thường thất vọng với anh do sự xuất hiện mờ nhạt trong các trận đấu quan trọng của đội bóng như trận thua Arsenalcúp C1. Juventus bị tước danh hiệu Scudetto do vụ scandal Calciopoli, và bị giáng xuống Serie B. Huấn luyện viên mới cố gắng thuyết phục Ibra và các cầu thủ giỏi khác ở lại Juventus, nhưng cầu thủ và người đại diện đều quyết tâm ra đi, khi Raiola đe doạ các hành động luật pháp nhằm tháo rỡ Ibrahimovic khỏi bản hợp đồng.[13]

Internazionale[sửa | sửa mã nguồn]

Ibrahimović và Mario Balotelli trong trận gặp Palermo vào năm 2009.

Vào ngày 10 tháng 8 năm 2006, Ibra hoàn tất vụ chuyển nhượng với trị giá 24,8 triệu euro sang Internazionale, kí hợp đồng 4 năm,[14] điều này diễn ra chỉ vài ngày sau khi Patrick Vieira hoàn tất vụ chuyển nhượng của mình.[15] Zlatan cho biết anh từng ủng hộ Inter Milan khi anh còn nhỏ.[16] Anh bắt đầu quãng thời gian ở đội bóng bằng việc ghi 1 bàn và kiến tạo một bàn thắng trong trận đấu ở Serie A gặp ACF Fiorentina và kết thúc mùa giải đầu tiên với danh hiệu cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của Inter với 15 bàn.

Ibra chơi trận thứ 100 ở Serie A vào ngày 16 tháng 9 năm 2007. Hợp đồng của anh được gia hạn vào năm 2007, kéo dài thời hạn tới tháng 6 năm 2013.[17] Anh được xếp vào hàng những cầu thủ bóng đá có số tiền lương cao nhất.[18] Anh ghi 2 bàn ở cúp C1 tại vòng bảng gặp PSV Eindhoven vào ngày 2 tháng 10, bàn thắng đánh dấu pha làm bàn đầu tiên của anh ở cúp châu Âu kể từ tháng 12 năm 2005 và bàn đầu tiên trong màu áo Inter, và kết thúc với 5 bàn sau 7 trận ở cúp C1. Ở trận gặp Parma trong ngày cuối cùng của mùa giải vào ngày 18 tháng 5 năm 2008, anh trở lại từ một chấn thương và ghi cả 2 bàn trong chiến thắng 2-0 của Inter, giúp đội bóng giành được danh hiệu Scudetto thứ 3 liên tiếp.

Vào ngày 16 tháng 11 năm 2008, Ibra cho biết anh sẽ không trở lại Allsvenskan khi nào còn là một cầu thủ chuyên nghiệp, mà anh sẽ thi đấu nốt phần còn lại của sự nghiệp ở nước ngoài.

Mùa giải 2008-09 của Ibra bắt đầu một cách xán lạn. Bàn thắng của anh vào lưới Bologna F.C. 1909 được bầu là "Bàn thắng đẹp nhất năm". Anh ghi bàn thắng đó bằng gót chân mà không cần di chuyển và dứt điểm chính xác vào lưới sau quả tạt của Adriano.[19] Phong độ của Ibra ở mùa giải đó đã được chú ý, với những đường di chuyển thông minh khi có và cả khi không bóng, và những đường chuyền của anh đã trở nên đáng chú ý, chẳng hạn đường chuyền điêu luyện của anh trong trận gặp S.S. Lazio. Anh kết thúc tháng thi đấu với một bàn thắng từ xa trong trận gặp Genoa, đó là trận thua đầu tiên của họ ở mùa giải, khiến Inter trở thành đội duy nhất không thua trên sân nhà ở giải đấu. Trong trận đấu cuối cùng của mùa giải, Ibra ghi 2 bàn vào lưới Atalanta, giành danh hiệu Capocannoniere bằng việc ghi nhiều hơn Marco Di VaioDiego Milito với 25 bàn trong cả mùa giải.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Zlatan Ibrahimović và đồng đội Xavi.

Sau khi Maxwell hoàn thành vụ chuyển nhượng tới Barcelona, chủ tịch Joan Laporta xác nhận rằng đã có một thoả thuận sơ bộ giữa FC BarcelonaInter Milan về việc Ibra sẽ gia nhập đội bóng còn Samuel Eto'o sẽ di chuyển theo chiều ngược lại, cộng thêm một khoản tiền.[20] Laporta cho biết những cuộc đàm phán bắt đầu khi ông đặt một chuyến bay, ban đầu là từ Ukraina tới Tây Ban Nha, để có một cuộc nói chuyện với Massimo Moratti, chủ tịch Inter, ở Milan.[21] Ibra rời Inter Milan khi đội bóng đang có chuyến tập huấn mùa hè ở Mĩ ở giải World Football Challenge vào ngày 23 tháng 7 năm 2009 để có những cuộc thương thảo với Barca, và trận cuối cùng của anh cho Inter là gặp Chelsea.[22] Say khi Inter Milan đồng ý các điều khoản hợp đồng với Eto'o[23] và Barcelona với Ibrahimovic,[24] Barcelona cho biết Ibra sẽ tới vào ngày 26 tháng 7 năm 2009 để có các cuộc kiểm tra sức khoẻ vào ngày 27 tháng 9.[25] Ibra vượt qua cuộc kiểm tra ra mắt trước 60,000 cổ động viên ở Camp Nou.[26] Anh kí hợp đồng 5 năm,[27] với mức giá 46 triệu euro (65 triệu USD) và đổi Eto'o (định giá khoảng 20 triệu bảng) và cho mượn Aleksandr Hleb (mức phí để mua hẳn là 10 triệu euro)[27] với số tiền giải phóng hợp đồng là 250 triệu euro,[27] khiến Ibra có giá 66 triệu euro (94 triệu USD).

Hleb từ chối vụ chuyển nhượng và sau đó được đem cho VfB Stuttgart mượn, và Barcelona tăng số tiền thêm 3 triệu euro,[28] khiến tổng giá trị của Ibra là 69 triệu euro (99 triệu USD). Điều này đã phá vỡ kỉ lục về giá trị chuyển nhượng trong lịch sử bóng đá. Anh kí bản hợp đồng có mức lương hàng năm 14,5 triệu euro bao gồm cả tiền thưởng.[29] Barcelona cho biết Ibra đã phẫu thuật thành công chấn thương ở cánh tay trái của anh vào ngày 28 tháng 7 năm 2009.[30] Anh trở lại tập luyện vào ngày 12 tháng 8 năm 2009 cho Barelona.[31] Barca cũng trả FBK Balkan, đội trẻ của Ibrahimovic, 144,000 euro, và Malmö FF, đội bóng đầu tiên của Ibra, 2 triệu euro theo luật thống nhất của FIFA.[32]

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ibrahimović chơi cho Thuỵ Điển.

Mặc dù có thể chọn để chơi cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Bosna và Hercegovinađội tuyển bóng đá quốc gia Croatia, nhưng Ibra lại chọn chơi cho Thuỵ Điển, nơi anh sinh ra.[33]

Ibra có trận ra mắt cho đội tuyển Thuỵ Điển trong trận hoà 0-0 với đội tuyển bóng đá quốc gia Quần đảo FaroeVärendsvallen vào ngày 31 tháng 1 năm 2001. Trận đấu chính thức đầu tiên của anh là ở vòng loại World Cup 2002 gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Azerbaijan vào ngày 7 tháng 10. Ibrahimovic là thành viên đội tuyển Thuỵ Điển ở vòng chung kết World Cup 2002 lọt tới vòng 16 đội trước khi bị loại bởi đội tuyển bóng đá quốc gia Senegal.[34]

Ibrahimovic được ra sân trong đội hình chính thức ở Euro 2004, ghi một bàn trong trận gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Bulgaria từ chấm penalty và một bàn thắng từ những phút cuối trong trận gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Ý. Tuy nhiên, anh lỡ một quả penalty khi Thuỵ Điển phải về nước sau khi thua trên chấm luân lưu trước đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan. Anh không ghi được bàn nào ở World Cup 2006 khi Thuỵ Điển lại bị loại ở vòng 16 đội, lần này là trước đội tuyển bóng đá quốc gia Đức.[35]

Anh được triệu tập ở vòng loại Euro 2008 gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Liechtenstein vào ngày 6 tháng 9 năm 2006, nhưng hai ngày trước trận đấu, anh gây ấn tượng xấu bằng việc rời khách sạn cùng đồng đội Christian WilhelmssonOlof Mellberg và vào một hộp đêm. Mặc dù không cầu thủ nào có biểu hiện dùng rượu, họ đều bị loại bởi huấn luyện viên Lars Lagerbäck như một hình phạt và không được tham dự trận đấu tiếp theo. Melberg và Wilhelmsson không có ý kiến gì với quyết định của huấn luyện viên, nhưng Ibra cảm thấy rằng như vậy là bất công và từ chối tham dự trận đấu tiếp theo của đội tuyển Thuỵ Điển gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Icelandđội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Anh cũng không tham dự trận giao hữu gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Ai Cập vào ngày 7 tháng 2 năm 2007, nhưng kết thúc cách cư xử trẻ con của mình một tháng sau,[36] và trở lại đội tuyển trong trận gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Bắc Ireland vào ngày 28 tháng 3. Anh không ghi bàn nào trong cả 12 trận vòng loại; anh có một lần đưa bóng vào lưới đối phương nhưng bị từ chối vì lỗi việt vị trong trận thua 3-0 trước Tây Ban Nha vào ngày 17 tháng 11. Vào ngày 12 tháng 11 năm 2007, Ibra được trao tặng danh hiệu Quả bóng vàng Thuỵ Điển khi là "Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Thuỵ Điển".

Ibra kết thúc quãng thời gian khô hạn bàn thắng, kéo dài 2 năm, trong trận gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Hi Lạp ở trận mở màn của Thuỵ Điển ở Euro 2008 vào ngày 10 tháng 6 năm 2008, và trận đấu tiếp theo gặp Tây Ban Nha 4 ngày sau.[37][38] Anh kết thúc giải với 2 bàn thắng khi Thuỵ Điển bị loại ở vòng bảng bởi đội tuyển bóng đá quốc gia Nga.[39]

Ibrahimovic ghi 1 bàn trong chiến thắng 4-0 trước đội tuyển bóng đá quốc gia Malta vào ngày 10 tháng 6 năm 2009 ở vòng loại World Cup 2010.[40] Vào ngày 5 tháng 9 năm 2009, anh ghi bàn thăng thứ hai ở sân Stadium Puskás Ferenc gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary trong trận thắng 2-1 của Thuỵ Điển ở trận đấu thuộc vòng loại. [41]

Cuộc sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

Zlatan Ibrahimović và Mikael PersbrandtBrasil trong khi làm từ thiện cho UNICEF.

Ibrahimovic có vợ là Helena Seger và có 2 con, Maximilian (sinh ngày 22 tháng 9 năm 2006) và Vinent (sinh ngày 6 tháng 3 năm 2008). Anh hiện sống ở Barcelona, mặc dù anh vẫn về quê nhà Malmö vào mùa hè. Ibra nhận đai đen trong môn võ taekwondo ở tuổi 17, anh học môn võ này ở câu lạc bộ Taekwondo Malmo Enighet.[42] Ibrahimovic có thể nói thông thạo các ngôn ngữ Thụy Điển, Bosnia, Anh, Hà Lan, ÝTây Ban Nha.

Cái tên Zlatan được đăng kí vào tháng 5 năm 2003 bởi Văn phòng sáng chế và bảo hộ thương hiệu Thuỵ Điển, có nghĩa rằng anh sẽ nhận được đặc quyền đối với tên gọi của một số sản phẩm, bao gồm đồ thể thao, quần áo và giày. Anh hiện có hợp đồng với Nike và xuất hiện trên chương trình quảng cáo của hãng này. Anh đi giày Mercurial và có tên cùng ngày sinh của con trai anh in trên phía ngoài của giày.

Vào mùa thu năm 2007, Ibrahimovic, với sự giúp đỡ của Nike, tự thành lập quỹ cho một khoá dạy bóng đá mới ở khu phố nơi anh sống ở Thuỵ Điển Rosengård; anh cho xây thêm hai cầu môn, hệ thống đèn, và hàng rào hiện đại.[43] Vào năm 2008, anh tặng áo mới của Nike cho đội bóng trẻ của anh, FBK Balkan.[32]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 17 tháng 1, 2016[44][45]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp Châu Âu Khác Tổng cộng
Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn
Malmö FF 1999 6 1 6 1
2000 26 12 26 12
2001 8 3 8 3
Tổng cộng 40 16 40 16
Ajax Amsterdam 2001–02 24 6 3 1 6 2 33 9
2002–03 25 13 3 3 13 5 1 0 42 21
2003–04 22 13 1 0 8 2 31 15
2004–05 3 3 1 0 4 3
Tổng cộng 74 35 7 4 27 9 2 0 110 48
Juventus 2004–05 35 16 0 0 10 0 45 16
2005–06 35 7 2 0 9 3 1 0 47 10
Tổng cộng 70 23 2 0 19 3 1 0 92 26
Internazionale 2006–07 27 15 1 0 7 0 1 0 36 15
2007–08 26 17 0 0 7 5 1 0 34 22
2008–09 35 25 3 3 8 1 1 0 47 29
Tổng cộng 88 57 4 3 22 6 3 0 117 66
Barcelona 2009–10 29 16 2 1 10 4 4 0 45 21
2010–11 1 1 1 1
Tổng cộng 29 16 2 1 10 4 5 1 46 22
Milan 2010–11 29 14 4 3 8 4 41 21
2011–12 32 28 3 1 8 5 1 1 44 35
Tổng cộng 61 42 7 4 16 9 1 1 85 56
Paris Saint-Germain 2012–13 34 30 3 2 9 3 0 0 46 35
2013–14 33 26 4 5 8 10 1 0 45 41
2014–15 24 19 3 5 5 2 2 4 35 30
2015–16 16 16 1 1 6 2 2 0 25 19
Tổng cộng 107 91 8 10 29 17 10 7 154 125
Tổng cộng sự nghiệp 469 279 36 23 123 48 22 9 650 359

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 17 tháng 11, 2015[46]
Đội tuyển quốc gia Mùa giải Số lần ra sân Số bàn thắng
Thụy Điển
2001 5 1
2002 10 2
2003 4 3
2004 12 8
2005 5 4
2006 6 0
2007 7 0
2008 7 2
2009 6 2
2010 4 3
2011 11 3
2012 8 11
2013 11 9
2014 5 3
2015 10 11
Tổng cộng 111 62

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 7 tháng 10, 2001 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Azerbaijan 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2002
2 21 tháng 8, 2002 Sân vận động Lokomotiv, Moscow, Nga  Nga 1–1 1–1 Giao hữu
3 12 tháng 10, 2002 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Hungary 1–1 1–1 Vòng loại Euro 2004
4 30 tháng 4, 2003 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Croatia 1–1 1–2 Giao hữu
5 6 tháng 9 năm 2003 Sân vận động Ullevi, Gothenburg, Thụy Điển  San Marino 3–0 5–0 Vòng loại Euro 2004
6 5–0
7 31 tháng 3, 2004 Sân vận động Ullevi, Gothenburg, Thụy Điển  Anh 1–0 1–0 Giao hữu
8 14 tháng 6, 2004 Sân vận động José Alvalade, Bồ Đào Nha  Bulgaria 4–0 5–0 Euro 2004
9. 18 tháng 6, 2004 Sân vận động Dragão, Bồ Đào Nha  Ý 1–1 1–1 Euro 2004
10 18 tháng 8, 2004 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Hà Lan 2–2 2–2 Giao hữu
11 4 tháng 9, 2004 Sân vận động quốc gia Ta' Qali, Malta  Malta 1–0 7–0 Vòng loại World Cup 2006
12 2–0
13 3–0
14 5–0
15 4 tháng 6, 2005 Sân vận động Ullevi, Gothenburg, Thụy Điển  Malta 4–0 6–0 Vòng loại World Cup 2006
16 3 tháng 9, 2005 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Bulgaria 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2006
17 7 tháng 9, 2005 Sân vận động Ferenc Puskás, Budapest, Hungary  Hungary 1–0 1–0 Vòng loại World Cup 2006
18 12 tháng 10, 2005 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Iceland 1–1 3–1 Vòng loại World Cup 2006
19 10 tháng 6, 2008 Sân vận động Wals Siezenheim, Salzburg, Áo  Hy Lạp 1–0 2–0 Euro 2008
20 14 tháng 6, 2008 Sân vận động Tivoli Neu, Innsbruck, Áo  Tây Ban Nha 1–1 1–2 Euro 2008
21 10 tháng 6, 2009 Sân vận động Ullevi, Gothenburg, Thụy Điển  Malta 3–0 4–0 Vòng loại World Cup 2010
22 5 tháng 9, 2009 Sân vận động Ferenc Puskás, Budapest, Hungary  Hungary 2–1 2–1 Vòng loại World Cup 2010
23 11 tháng 8, 2010 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Scotland 1–0 3–0 Giao hữu
24 7 tháng 9, 2010 Sân vận động Swedbank, Malmö, Thụy Điển  San Marino 1–0 6–0 Vòng loại Euro 2012
25 5–0
26 7 tháng 6, 2011 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Phần Lan 2–0 5–0 Vòng loại Euro 2012
27 3–0
28 4–0
29 29 tháng 2, 2012 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Croatia 1–0 3–1 Giao hữu
30 30 tháng 5, 2012 Sân vận động Ullevi, Gothenburg, Thụy Điển  Iceland 1–0 3–2 Giao hữu
31 5 tháng 6, 2012 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Serbia 2–1 2–1 Giao hữu
32 11 tháng 6, 2012 Sân vận động Olympic, Kiev, Ukraina  Ukraina 1–0 1–2 Euro 2012
33 19 tháng 6, 2012 Khu phức hợp thể thao quốc gia Olimpiyskiy, Kiev, Ukraina  Pháp 1–0 2–0 Euro 2012
34 12 tháng 10, 2012 Sân vận động Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 2–1 2–1 Vòng loại World Cup 2014
35 16 tháng 10, 2012 Olympiastadion, Berlin, Đức  Đức 1–4 4–4 Vòng loại World Cup 2014
36 14 tháng 11, 2012 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Anh 1–0 4–2 Giao hữu
37 2–2
38 3–2
39 4–2
40 11 tháng 6, 2013 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Quần đảo Faroe 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2014
41 2–0
42 14 tháng 8, 2013 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Na Uy 1–0 4–2 Giao hữu
43 2–2
44 3–2
45 10 tháng 9, 2013 Astana Arena, Astana, Kazakhstan  Kazakhstan 1–0 1–0 Vòng loại World Cup 2014
46 11 tháng 10, 2013 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Áo 2–1 2–1 Vòng loại World Cup 2014
47 19 tháng 11, 2013 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Bồ Đào Nha 1–1 2–3 Vòng loại World Cup 2014
48 2–1
49 4 tháng 9, 2014 Friends Arena, Solna, Sweden  Estonia 1–0 2–0 Giao hữu
50 2–0
51 15 tháng 11, 2014 Sân vận động Podgorica City, Podgorica, Montenegro  Montenegro 1–0 1–1 Vòng loại Euro 2016
52 27 tháng 3, 2015 Sân vận động Zimbru, Chişinău, Moldova  Moldova 1–0 2–0 Vòng loại Euro 2016
53 2–0
54 31 tháng 3, 2015 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Iran 1–0 3–1 Giao hữu
55 14 tháng 6, 2015 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Montenegro 2–0 3–1 Vòng loại Euro 2016
56 3–0
57 8 tháng 9, 2015 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Áo 1–4 1–4 Vòng loại Euro 2016
58 9 tháng 9, 2015 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein 2–0 2–0 Vòng loại Euro 2016
59 12 tháng 10, 2015 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Moldova 1–0 2–0 Vòng loại Euro 2016
60 14 tháng 11, 2015 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Đan Mạch 2–0 2–1 Vòng loại Euro 2016
61 17 tháng 11, 2015 Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch  Đan Mạch 1–0 2–2 Vòng loại Euro 2016
62 2–0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Ajax

Internazionale

Barcelona

Cá nhân
2009
2005, 2008, 2009
2008, 2009
2008
2005, 2007, 2008, 2009
  • Jerringpriset (Cá nhân thể thao xuất sắc nhất năm của Thuỵ Điển): 1
2007
  • Vận động viên nam người Thuỵ Điển xuất sắc nhất năm: 2
2007, 2010
2007, 2009

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Zlatan Ibrahimovic”. FC Barcelona. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2009. 
  2. ^ a ă â Hawkey, Ian (ngày 11 tháng 12 năm 2005). “The Big Interview: Zlatan Ibrahimović”. London: The Sunday Times. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Hawkey” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Hawkey” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ “The 50 highest salaries of football players 2008/2009”. www.futebolfinance.com. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ "Zlatan wins FIFA's goal of the year award for unbelievable bicycle kick against England". Daily Mail. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014
  5. ^ Jakob Sillén. “Guld-Zlatan” (bằng tiếng Thụy Điển). EXPRESSEN.SE.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessmonthday= (trợ giúp)
  6. ^ “Zlatan Ibrahimovic và 18 phát biểu gây sốc - VnExpress Thể Thao”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 25 tháng 7 năm 2015. 
  7. ^ “How Zlatan Ibrahimovic nearly joined Arsenal”. www.thespoiler.co.uk. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2009. 
  8. ^ Historien om MFF - mff.se retrieved on ngày 7 tháng 12 năm 2008
  9. ^ a ă Career - Zlatanibrahimovic.net retrieved on ngày 7 tháng 12 năm 2008
  10. ^ Player Profile: Rafael van der Vaart - realmadridzone.com retrieved on ngày 7 tháng 12 năm 2008
  11. ^ “Operations concerning Zlatan Ibrahimovic and Fabrizio Miccoli registration rights” (PDF). Juventus. Ngày 31 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ Guldbollen 2005 till Zlatan Ibrahimovic - svenskfotboll.se retrieved on ngày 7 tháng 12 năm 2008
  13. ^ Ibrahimovic set to take legal action to escape from Juve - The independent retrieved on ngày 7 tháng 12 năm 2008
  14. ^ “ZLATAN IBRAHIMOVIC SIGNS FOR INTER”. Internazionale. Ngày 10 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ “Agreement with F.C. Internazionale S.p.A.” (PDF). Juventus. Ngày 10 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ “IBRAHIMOVIC: "INTER, MY TEAM AS A BOY". Internazionale. Ngày 10 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  17. ^ “Ibrahimovic: "We're still top". Internazionale. Ngày 26 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  18. ^ Rory Smith (ngày 6 tháng 2 năm 2009). “Zlatan Ibrahimovic and Kaka pip Premier League stars in football wages list”. Telegraph. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  19. ^ “Allsvenskan lockar inte Zlatan” (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet.se. Ngày 16 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2008. 
  20. ^ “Laporta announces agreement in principle with Inter”. FC Barcelona. Ngày 17 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ “Barcelona President Joan Laporta: Move For Zlatan Ibrahimovic Came On A Flight Over Milan”. Goal.com. Ngày 27 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010. 
  22. ^ “USA 09: Ibra returns to Europe”. Internazionale. Ngày 23 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ “Eto'o on brink of Inter swap”. FIFA.com. PA. Ngày 23 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  24. ^ “Ibra agrees terms with Barça”. FIFA.com. PA. Ngày 24 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  25. ^ “Ibrahimovic to take medical on Monday”. FC Barcelona. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2009. 
  26. ^ “Camp Nou gives Ibrahimovic a hero's welcome”. FC Barcelona. Ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
  27. ^ a ă â “Ibrahimovic signs five-year contract”. FCBarcelona.cat (Thông cáo báo chí). FC Barcelona. Ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “final” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “final” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  28. ^ “FINISHED Hleb Joins Stuttgart”. Goal.com. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2009. 
  29. ^ “Barcelona Star Lionel Messi & Inter Boss Jose Mourinho Top Football Rich List”. Goal.com. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  30. ^ “Ibrahimovic operation successful”. FC Barcelona. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2009. 
  31. ^ “Ibrahimovic trains with the squad”. FC Barcelona. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009. 
  32. ^ a ă “EXCLUSIVE: FBK Balkan To Receive €144,000 FIFA Solidarity Payment For Zlatan Ibrahimovic Transfer”. Goal.com. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009. 
  33. ^ “Croatia: We wanted Zlatan as well”. aftonbladet.se. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  34. ^ “Golden day for Senegal”. BBC Sport. Ngày 16 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009. 
  35. ^ “Germany 2-0 Sweden”. BBC Sport. Ngày 24 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009. 
  36. ^ “Ibrahimović agrees to return to Sweden side”. ESPNsoccernet. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007. 
  37. ^ “Greece 0-2 Sweden”. BBC Sport. Ngày 10 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009. 
  38. ^ “Sweden 1-2 Spain”. BBC Sport. Ngày 14 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009. 
  39. ^ “Lagerback devastated by Euro exit”. BBC Sport. Ngày 18 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009. 
  40. ^ “Report: Sweden vs Malta”. ESPN. Ngày 10 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  41. ^ “Sweden defeats Hungary 2-1 in World Cup Qualifier”. Fox Soccer. Ngày 5 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  42. ^ “Ibra: "I'll become an even better player". FC Barcelona. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2009. 
  43. ^ “(Swedish) Zlatan besöker Rosengård”. 
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Zlatan_ESPN_FC
  45. ^ 'Pichichi' y centenario”. ESPN Soccernet. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2010. 
  46. ^ Zlatan Ibrahimović tại National-Football-Teams.com