Luka Modrić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Luka Modrić
ISL-HRV (7).jpg
Modrić thi đấu cho Croatia tại World Cup 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luka Modrić[1]
Ngày sinh 9 tháng 9, 1985 (33 tuổi)
Nơi sinh Zadar, Nam Tư
Chiều cao 1,73 m (5 ft 8 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Real Madrid
Số áo 10
CLB trẻ
2002–2003 Dinamo Zagreb
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2008 Dinamo Zagreb 112 (31)
2003–2004Zrinjski Mostar (cho mượn) 22 (8)
2003–2004Inter Zaprešić (cho mượn) 18 (4)
2008–2012 Tottenham Hotspur 127 (13)
2012– Real Madrid 178 (9)
Đội tuyển quốc gia
2001 U-15 Croatia 2 (0)
2001 U-17 Croatia 2 (0)
2003 U-18 Croatia 7 (0)
2003–2004 U-19 Croatia 11 (1)
2004–2005 U-21 Croatia 15 (2)
2006– Croatia 118 (15)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 11 tháng 10 năm 2018.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 18 tháng 11 năm 2018

Luka Modrić [ˈluːka ˈmɔːdritɕ] (sinh ngày 9 tháng 9 năm 1985 tại Zadar) là cầu thủ bóng đá người Croatia thi đấu cho câu lạc bộ Real Madridđội tuyển Croatia. Vị trí sở trường của anh là thi đấu ở tiền vệ trung tâm nhưng anh vẫn có thể thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công.

Modrić khởi đầu sự nghiệp tại đội bóng Croatia Dinamo Zagreb và giành ba danh hiệu vô địch quốc gia liên tiếp từ năm 2005 đến năm 2008. Năm 2008, anh chuyển đến Tottenham Hotspur tại Premier League trước khi trở thành cầu thủ của Real Madrid vào mùa hè năm 2012. Trong mùa bóng thứ hai của mình tại Real Madrid, anh đã giành được danh hiệu vô địch UEFA Champions League. Tại World Cup 2018, anh được trao giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất giải khi đưa đội tuyển Croatia vào tới trận chung kết. Tháng 9 năm 2018, anh giành được giải thưởng FIFA The Best, chấm dứt kỷ nguyên thống trị của Lionel MessiCristiano Ronaldo.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Luka Modric sinh ra trong một gia đình nông dân sở hữu một đàn dê, cha là Stipe Modric, sống tại vùng núi Velebit cao và hiểm trở bậc nhất Croatia. Vào đầu những năm 90, nhà làm phim Pavle Balenovic đã thực hiện một bộ phim tài liệu cho đài BBC. Trong quá trình làm phim, ông đi qua vùng núi này và gặp Stipe Modric với đàn dê ấy cùng con trai ông, không phải ai khác, chính là Luka Modric. Trong đoạn phim, cậu bé Luka mới 5 tuổi, mặc chiếc áo quá khổ, cầm gậy theo cha chăn đàn dê giữa ánh mắt thèm khát của những con sói. Chiến tranh nổ ra ít lâu sau đó, gia đình Modric phải ly tán. Những năm tháng tuổi thơ vất vả, luôn phải đối mặt với cái chết giúp cho Luka có một tinh thần thép và bản lĩnh.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Dinamo Zagreb[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić ký hợp đồng thi đấu cho Dinamo Zagreb ở tuổi 17 vào năm 2002,[2] nhưng sau một mùa bóng, năm 2003, anh được đem cho Zrinjski Mostar, một câu lạc bộ ở Bosnia và Herzegovina mượn và ở tuổi 18 anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của Giải vô địch bóng đá quốc gia Bosnia và Herzegovina. Mùa giải tiếp theo anh tiếp tục được cho mượn tại Inter Zaprešić và anh chơi một mùa giải tại đây và cùng câu lạc bộ này giành vị trí thứ hai. Anh cũng nhận danh hiệu cầu thủ trẻ triển vọng nhất của bóng đá Croatia năm 2004 và 2005 và được gọi trở lại Dinamo Zagreb. Tại Zagreb, Modrić đã cùng câu lạc bộ giành chức vô địch giải quốc gia ba năm liên tiếp.[3] Năm 2007, anh nhận danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá Croatia.[4] Modric sau đó ký hợp đồng 10 năm với Dinamo Zagreb đến năm 2015.

Khả năng của Modrić ngày càng được nâng cao dưới màu áo Dinamo Zagreb. Sở trường của anh là vị trí tiền vệ trung tâm và anh còn là cầu thủ dẫn dắt lối chơi của đội. Từ đó, nhiều câu lạc bộ nổi tiếng ở giải Premier League như Arsenal, ChelseaNewcastle quan tâm đến anh và họ lần lượt đề nghị những mức chuyển nhượng hấp dẫn. Nhưng cuối cùng Modric đã chuyển đến thi đấu cho Tottenham Hotspur.

Tottenham Hostpurs[sửa | sửa mã nguồn]

2008-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić đồng ý gia nhập Tottenham vào ngày 26 tháng 4 năm 2008 sau cuộc kiểm tra y tế và được cấp giấy phép lao động. Anh là bản hợp đồng đầu tiên trong kì chuyển nhượng hè 2008 của Tottenham cũng như của giải Premier League. Bản hợp đồng của anh kéo dài 6 năm và phí chuyển nhượng là 15,8 triệu bảng Anh.

Modrić có trận đầu tiên cho Tottenham vào ngày 28 tháng 7 năm 2008 trong trận giao hữu trước mùa giải gặp Norwich City. Anh chơi 45 phút tại Carrow Road trong chiến thắng 5-1 của Tottenham.[5] Trận đầu tiên tại giải Ngoại hạng Anh 2008-2009 của Modrić là trận gặp Middlesbrough tại sân Riverside vào ngày 16 tháng 8. Trong trận này Tottenham thua 2-1.[6]

Sau những thành tích tệ hại đầu mùa, huấn luyện viên Juande Ramos bị sa thải và thay thế bằng Harry Redknapp. Dưới sự dẫn dắt của tân huấn luyện viên, Modrić đóng vai trò tiền vệ công kiến tạo cơ hội ghi bàn cho cặp tiền đạo Darren BentRoman Pavlyuchenko.[7] Ngày 6 tháng 11, anh đã có dịp đối đầu với câu lạc bộ cũ Dynamo Zagreb tại cúp UEFA và chính anh là người đã chuyền bóng để Darren Bent mở tỉ số trong chiến thắng 4-0. Ngày 18 tháng 12]], anh ghi bàn đầu tiên cho Tottenham trong trận hòa 2-2 với Spartak Moskva của Nga trong khuôn khổ UEFA Cup.[8] Anh có bàn thắng đầu tiên tại Premier League vào lưới Newcastle United 3 ngày sau đó, trận đấu mà Tottenham đã để thua 1-2.[9] Ngày 26 tháng 4]] năm 2009]], Modric ghi bàn thắng nâng tỉ số lên 2-0 cho Tottenham trong trận gặp Manchester United nhưng sau đó đội bóng của anh đã bị thua ngược 5-2.[10]

2009-2010[sửa | sửa mã nguồn]

Modric và các đồng đội đã có sự khởi đầu rất thuận lợi ở Premier League 2009-10 với chuỗi 4 trận đầu tiên toàn thắng. Thế nhưng trong trận thắng 2-1 trước Birmingham City, sau pha vào bóng của Lee Bowyer, Modric đã bị chấn thương nặng và buộc phải ra sân ở phút 49, thay bằng tiền đạo Peter Crouch. Kết quả chụp X quang sau đó cho thấy anh bị gãy xương mác chân phải. Theo kết quả xét nghiệm, anh sẽ phải nghỉ thi đấu ít nhất 6 tuần lễ. Anh cũng đã phải lên tiếng thừa nhận rằng chấn thương đang ngăn cản mình thi đấu những trận quan trọng cho câu lạc bộ và cả đội tuyển quốc gia. "Tôi thường xuyên là nạn nhân của những pha vào bóng nguy hiểm. Chấn thương đang làm hại tôi khi không thể thi đấu nhiều trên sân cỏ. Cứ đà này tôi sẽ mất phong độ vì luôn phải tập luyện trong phòng hồi phục thể lực".

Ngày 29 tháng 12, Modrić đánh dấu sự trở lại sau 4 tháng nghỉ thi đấu với bàn thắng mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước West Ham United, qua đó giúp Tottenham giành lấy vị trí tốp 4 từ tay Aston Villa.[11] Ngày 28 tháng 2 năm 2010, Modric đã ghi bàn vào lưới Everton nâng tỉ số lên 2-0 bằng một cú lốp bóng điệu nghệ. Chung cuộc Tottenham hòa 2-2 và tiếp tục đứng ở vị trí thứ 4.

Ngày 30 tháng 5 năm 2010, Modrić đã ký vào bản hợp đồng mới có thời hạn 6 năm, giúp anh gắn bó với Tottenham đến năm 2016.[12]

2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 9, anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2010-11 khi ghi bàn mở tỉ số trong trận hoà 1-1 với West Brom ở phút 27. Tuy nhiên chỉ năm phút sau anh đã phải tập tễnh rời sân do chấn thương mắt cá chân tuy nhiên sau đó chấn thương này đã không nặng như dự đoán ban đầu là phải nghỉ thi đấu vài tháng.[13][14] Ngày 24 tháng 11, anh có bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp tại UEFA Champions League với bàn thắng nâng tỉ số lên 2-0 trong chiến thắng 3-0 trước Werder Bremen, giúp Tottenham chính thức lọt vào vòng 1/16 và anh cũng được Goal.com bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[15] Vào cuối mùa giải này, Modrić đã được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa bóng của Tottenham Hotspur.

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić thi đấu cho Real Madrid năm 2013.

Ngày 27 tháng 8 năm 2012, Real Madrid thông báo đã đạt được thỏa thuận với Tottenham về vụ chuyển nhượng Modrić. Phí chuyển nhượng là 33 triệu £ với bản hợp đồng có thời hạn 5 năm. Vụ chuyển nhượng này cũng đã thiết lập mối quan hệ hợp tác mới giữa hai câu lạc bộ.[16][17]

Ngày 29 tháng 8 năm 2012, anh có trận đấu đầu tiên cho Real Madrid trong trận lượt về Siêu cúp Tây Ban Nha với Barcelona. Modrić vào sân ở phút 83 thay cho Mesut Özil và suýt ghi bàn. Chung cuộc Real thắng 2-1 và anh có được danh hiệu đầu tiên cùng Real Madrid.[18] Ngày 3 tháng 11 năm 2012, Modrić ghi bàn thắng đầu tiên cho Real Madrid trong chiến thắng 4-0 trước Real Zaragoza.[19]

Ngày 5 tháng 3 năm 2013, Modrić sau khi vào sân thay Aberloa đã ghi một siêu phẩm vào lưới Manchester United F.C. ngay tại sân Old Trafford qua đó giúp Real Madrid C.F. cân bằng tỷ số trước khi Cristiano Ronaldo mang về bàn thắng quyết định đưa họ vượt qua Manchester United với tỷ số 2-1 (tổng tỷ số là 3-2 sau 2 lượt trận) qua đó ghi tên mình vào vòng tứ kết UEFA Champions League. Đến ngày 16 tháng 3, anh có một pha lập công đẹp mặt khác cho Real Madrid trong chiến thắng 5-2 trước Real Mallorca với một cú volley từ hơn 25 mét.[20][21]

Modrić có mặt trong cả hai trận đấu lượt đi và về Champions League với Borussia Dortmund. Trong trận lượt đi, anh thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công nhưng mờ nhạt và Real thua 4–1. Đến trận lượt về, anh thi đấu ở vị trí thấp hơn và có nhiều đường chuyền tạo cơ hội cho đồng đội, được đánh giá là một trong những cầu thủ thi đấu tốt nhất.[22][23][24][25] Từ tháng 3 năm 2013, phong độ Modrić được cải thiện và anh là cầu thủ có số đường chuyền thành công nhiều nhất đội.[26] Ngày 8 tháng 5, anh kiến tạo bàn mở tỉ số và ghi bàn thắng thứ năm trong chiến thắng 6-2 trước CD Málaga.[27][28][29]

2013–14[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi huấn luyện viên Carlo Ancelotti đến Real, Modrić thường xuyên được xếp đá chính[30] và trở thành một nhân tố quan trọng ở tuyến giữa, giúp Real gặt hái được nhiều thành công trong mùa giải. Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải tại trận đấu với F.C. Copenhagen trong khuôn khổ Champions League. Đây cũng là bàn thắng thứ năm của anh cho Real và cả năm bàn thắng đều được ghi từ ngoài vòng cấm địa.[31] Ngày 16 tháng 2, anh có pha lập công đầu tiên tại La Liga 2013-14.[32] Modrić cùng Real giành chức vô địch Copa del Rey 2013–14 sau chiến thắng 2-1 trước FC Barcelona. Trong trận bán kết lượt đi UEFA Champions League với Bayern Munich, anh đã có màn trình diễn vô cùng xuất sắc, giúp Real đánh bại đội bóng nước Đức với tỉ số 1-0.[33] Trong trận lượt về cũng là trận đấu thứ 100 của anh trong màu áo Real Madrid[34], anh đã kiến tạo cho bàn mở tỉ số của Sergio Ramos và chung cuộc Real giành thắng lợi 4-0 và lọt vào trận chung kết.[35] Ngày 24 tháng 5, trong trận chung kết UEFA Champions League 2013-14 với Atlético Madrid được tổ chức trên sân Estádio da Luz, Lisbon, Bồ Đào Nha, Modrić chính là người đã thực hiện quả phạt góc ở phút thứ 93 tạo điều kiện cho Sergio Ramos đánh đầu gỡ hòa 1-1. Sau đó, trong hiệp phụ, Real ghi thêm ba bàn thắng nữa và chính thức có được danh hiệu vô địch Champions League lần thứ mười (la Décima) trong lịch sử.[36][37] Anh có tên trong đội hình tiêu biểu của UEFA Champions League mùa giải này[38] và sau đó còn được chọn là Tiền vệ xuất sắc nhất La Liga mùa bóng 2013-14.[39]

2014–15[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić khởi đầu mùa giải mới với chức vô địch Siêu cúp bóng đá châu Âu sau chiến thắng trước Sevilla.[40] Ngày 27 tháng 9 năm 2014, anh có bàn thắng thứ 7 trong màu áo Real khi mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước Villarreal và cả bảy bàn thắng đều đến từ những cú sút ngoài vòng cấm địa.[41] Vào cuối tháng 11, anh bị dính chấn thương đùi trong khi thi đấu cho đội tuyển Croatia và phải nghỉ thi đấu trong thời gian dài.[42]

Những chấn thương đã khiến anh không thể ra sân được nhiều trong mùa giải với khoảng 5 tháng phải rời xa sân cỏ trong suốt mùa.[43] Việc Modrić bị chấn thương được đánh giá là một trong những nguyên nhân làm chấm dứt chuỗi 22 trận bất bại đầu mùa giải của Real cũng như tham vọng vô địch La Liga và Champions League của đội bóng Tây Ban Nha.[44]

2015–16[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić trong trận đấu vòng bảng UEFA Champions League 2015–16 với Shakhtar Donetsk vào tháng 11 năm 2015.

Đến mùa giải 2015-16, huấn luyện viên Ancelotti ra đi và huấn luyện viên mới Rafael Benítez tiếp tục trọng dụng Modrić cho vị trí chính thức.[45] Ngày 25 tháng 11 năm 2015, anh lập công trong chiến thắng 4-3 trước Shakhtar Donetsk tại vòng bảng UEFA Champions League 2015–16 giúp Real củng cố vị trí đầu bảng.[46]

2016-17[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić kết thúc mùa giải với danh hiệu vô địch UEFA Champions League lần thứ hai liên tiếp và lần nữa có tên trong đội hinh xuất sắc nhất mùa giải của Champions League do UEFA công bố.[47]

2017-18[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 12, Modrić cùng với các đồng đội vô địch FIFA Club World Cup 2017 và cá nhân anh đoạt danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu.[48] Cuối mùa giải, Real Madrid đăng quang UEFA Champions League lần thứ ba liên tiếp sau khi đánh bại Liverpool trong trận chung kết[49] và Modrić cũng lần thứ ba liên tiếp có tên trong đội hinh xuất sắc nhất mùa giải của Champions League do UEFA công bố.[50]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić trong một trận đấu cho đội tuyển Croatia vào năm 2013.

Modrić lần lượt thi đấu cho các đội U-17, U-19 và U-21 Croatia[51] trước khi được gọi vào đội tuyển quốc gia năm 2006 và có trận đầu tiên trong màu áo đội tuyển quốc gia là trận đấu với Argentina ngày 1 tháng 3 năm 2006 tại Basel, Thụy Sĩ. Tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, giải đấu mà Croatia không vượt qua được vòng bảng, anh được vào sân trong hai trận vòng bảng gặp Nhật BảnÚc. Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển là trong trận thắng Ý 2-0 vào ngày 16 tháng 8 năm 2006 tại Livorno.

Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008, Modrić là niềm kì vọng lớn nhất của các cổ động viên Croatia. Trong trận đầu tiên gặp đội tuyến chủ nhà Áo ngày 8 tháng 6 năm 2008, Modrić là người ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ chấm phạt đền ngay ở phút thứ 4 sau khi Ivica Olić bị René Aufhauser phạm lỗi trong vòng cấm.[52] Trận đấu tiếp theo gặp đội tuyển Đức ngày 12 tháng 6, anh không ghi được bàn nào nhưng đã góp phần giúp Croatia chiến thắng và giành danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu vào cuối trận.[53]

Tuy nhiên Croatia đã bị loại sau trận thua Thổ Nhĩ Kỳ trong loạt sút luân lưu trong đó có một pha sút hỏng của Modrić.[54] Khi giải đấu kết thúc, anh được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải, là cầu thủ Croatia thứ hai được nhận vinh dự này sau tiền đạo Davor Šuker.[55]

Tại vòng loại World Cup 2010 khu vực châu Âu, Modrić đã có ba bàn thắng cho đội tuyển Croatia vào lưới Kazakhstan, AndorraUkraina nhưng Croatia đã không thể giành quyền tham dự World Cup 2010 do chỉ đứng thứ ba tại vòng loại sau AnhUkraine.

Tháng 6 năm 2012, Modrić có lần thứ hai trong sự nghiệp tham gia một kỳ Euro. Croatia nằm ở bảng C cùng với Tây Ban Nha, ÝCộng hòa Ireland. Đội tuyển Croatia đã bị loại sau vóng đấu bảng và cá nhân Modrić không để lại bất kỳ dấu ấn đáng kể nào.[56]

Tại World Cup 2014 ở Brasil, Modrić và các đồng đội tiếp tục phải dừng bước ở ngay vòng đấu bảng sau thất bại 1-3 trước México ở lượt đấu cuối cùng vòng bảng (trước đó đã thua Brasil 3-1 và thắng Cameroon 4-0).[57]

Tại trận đấu với Maltavòng loại Euro 2016, Modrić có được bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển sau hơn ba năm ngay trong dịp sinh nhật lần thứ 29 của anh.[58] Một tháng sau, anh tiếp tục tỏa sáng với một bàn thắng trong trận thắng 6-0 trước Azerbaijan, giúp đội tuyển Croatia góp mặt tại Euro 2016.[59] Ngày 3 tháng 3 năm 2015, Modrić lần đầu tiên được chọn làm đội trưởng đội tuyển quốc gia cho trận đấu với Azerbaijan.[60]

Tại Euro 2016, anh chỉ ghi được một bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1-0 của Croatia trước Thổ Nhĩ Kỳ bằng một cú vô-lê từ khoảng cách 30 mét. Bàn thắng này giúp anh trở thành cầu thủ Croatia đầu tiên ghi bàn tại hai vòng chung kết Euro.[61]

World Cup 2018[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić là người ghi bàn thắng mở tỉ số từ chấm phạt đền để giúp Croatia có chiến thắng đậm 4-1 trước Hy Lạp tại lượt đi vòng play-off World Cup 2018 khu vực châu Âu[62] và ba ngày sau đó, trận hòa 0-0 ở lượt về giúp Croatia có lần thứ năm giành quyền dự vòng chung kết World Cup.

Tại World Cup 2018, trong trận ra quân tại bảng D gặp Nigeria, Modrić đã ghi bàn thắng ấn định tỉ số 2-0 của trận đấu từ chấm phạt đền.[63] Trong lượt trận thứ hai vòng bảng gặp Argentina, anh có bàn thắng thứ hai tại giải đấu trong chiến thắng 3-0 trước đại diện Nam Mỹ với một cú sút xa đẹp mắt.[64]

Ở trận đấu vòng 16 đội với Đan Mạch, Modrić đá hỏng quả phạt đền ở hiệp phụ thứ hai khiến cho Croatia phải bước vào loạt sút luân lưu, nhưng sau đó anh đã chuộc lỗi thực hiện thành công lượt sút của mình để cùng các đồng đội đánh bại Đan Mạch vào tứ kết gặp chủ nhà Nga.[65] Đội tuyển Croatia sau đó lọt vào trận chung kết và giành ngôi á quân sau khi thất thủ 2-4 trước đội tuyển Pháp. Kết thúc giải đấu, anh được nhận giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất giải. Nhờ những màn trình diễn chói sáng, anh được xướng tên trong danh sách đội hình tiêu biểu nhất của World Cup 2018.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Modrić kết hôn với Vanja Bosnić vào tháng 5 năm 2010 tại thủ đô Zagreb của Croatia trong một buổi lễ riêng tư sau bốn năm hẹn hò,[66] và một năm sau đó tại nhà thờ.[67] Con trai của họ, Ivano, sinh ngày 6 tháng 6 năm 2010.[68][69] Con gái Ema, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2013.[69][70] Con gái thứ hai của họ, Sofia, sinh ngày 2 tháng 10 năm 2017.[71] Modrić thường sống ẩn dật khi không chơi bóng.[72][73]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 11 tháng 11 năm 2018.

Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp1 Châu Âu2 Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Zrinjski Mostar (cho mượn)
2003–04 22 8 0 0 0 0 22 8
Inter Zaprešić (cho mượn)
2004–05 18 4 0 0 0 0 18 4
GNK Dinamo Zagreb
2004–05 7 0 1 0 0 0 8 0
2005–06 32 8 1 0 0 0 33 15
2006–07 30 6 8 2 6 0 44 8
2007–08 25 13 8 1 10 3 43 17
Tổng cộng 94 27 18 3 16 3 128 33
Tottenham Hotspur
2008–09 34 3 6 1 4 1 44 5
2009–10 25 3 7 0 0 0 32 3
2010–11 32 3 2 0 9 1 43 4
2011–12 36 4 2 0 2 1 40 5
Tổng cộng 127 13 17 1 15 3 159 17
Real Madrid
2012–13 33 3 9 0 11 1 53 4
2013–14 34 1 6 0 11 1 51 2
2014–15 16 1 2 0 7 0 25 1
2015–16 32 2 0 0 11 1 43 3
2016–17 25 1 2 0 14 0 41 1
2017–18 26 1 3 0 14 1 43 2
2018–19 12 0 0 0 4 0 16 0
Tổng cộng 178 9 22 0 73 4 273 13
Tổng cộng sự nghiệp 439 60 57 4 104 10 600 74

1 Bao gồm các cúp như Croatian Cup, Croatian Supercup, FA Cup, Football League Cup, Copa del ReySupercopa de España.

2 Bao gồm UEFA Super CupFIFA Club World Cup.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 18 tháng 11 năm 2018
Đội tuyển quốc gia Croatia
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2006 12 2
2007 10 1
2008 11 3
2009 3 1
2010 8 0
2011 9 1
2012 9 0
2013 10 0
2014 11 2
2015 4 0
2016 8 1
2017 8 1
2018 15 2
Tổng cộng 118 15

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 16 tháng 8 năm 2006 Sân vận động Armando Picchi, Livorno, Ý  Ý
0–2
0–2
Giao hữu
2. 7 tháng 10 năm 2006 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Andorra
7–0
7–0
Vòng loại Euro 2008
3. 7 tháng 2 năm 2007 Sân vận động Kantrida, Rijeka, Croatia  Na Uy
2–0
2–1
Giao hữu
4. 8 tháng 6 năm 2008 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Áo
0–1
0–1
Euro 2008
5. 6 tháng 9 năm 2008 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Kazakhstan
2–0
3–0
Vòng loại World Cup 2010
6. 15 tháng 10 năm 2008 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Andorra
3–0
4–0
Vòng loại World Cup 2010
7. 6 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Ukraina
2–2
2–2
Vòng loại World Cup 2010
8. 6 tháng 9 năm 2011 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Israel
1–1
3–1
Vòng loại Euro 2012
9. 9 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Malta
1–0
2–0
Vòng loại Euro 2016
10. 13 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Gradski vrt, Osijek, Croatia  Azerbaijan
5–0
6–0
Vòng loại Euro 2016
11. 12 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Công viên các Hoàng tử, Paris, Pháp  Thổ Nhĩ Kỳ
1–0
1–0
Euro 2016
12. 9 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Hy Lạp
1–0
4–1
Vòng loại World Cup 2018
13. 16 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Kaliningrad, Kaliningrad, Nga  Nigeria
2–0
2–0
World Cup 2018
14. 21 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Nizhny Novgorod, Nizhny Novgorod, Nga  Argentina
2–0
3–0
World Cup 2018

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Dinamo Zagreb

  • Giải vô địch bóng đá quốc gia Croatia (Prva HNL) (3): 2006, 2007, 2008
  • Cúp quốc gia Croatia (2): 2007, 2008
  • Siêu cúp Croatia: 2006

Real Madrid

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá quốc gia Bosnia và Herzegovina: 2003
  • Cầu thủ triển vọng của Croatia: 2004
  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Giải vô địch bóng đá quốc gia Croatia: 2007
  • Giải Áo vàng Sportske novosti: 2007–08
  • Cầu thủ Croatia xuất sắc nhất năm: 2007, 2008, 2011, 2014
  • Đội hình tiêu biểu của Euro: 2008
  • Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Tottenham Hotspur: 2010-11
  • Football Oscar - Cầu thủ Croatia xuất sắc nhất năm: 2013, 2014, 2015[74][75][76], 2016
  • Đội hình tiêu biểu UEFA Champions League: 2013–14, 2015-16, 2016-17, 2017-18
  • Tiền vệ xuất sắc nhất La Liga: 2013–14
  • Quả Bóng Vàng World Cup 2018

(một danh hiệu từ Các giải thưởng của Giải vô địch bóng đá thế giới).

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Statistics” (PDF). Premier League. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011. 
  2. ^ “Modric War Hell”. News Of The World. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2008. 
  3. ^ Bojan Puric, Boris Herceg and Igor Kramarsic. “Croatia - List of Champions”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2008. 
  4. ^ “Modric HNL’s Footballer Of The Year”. Javno. Ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 
  5. ^ “Norwich v Tottenham: Latest”. EDP24 Sport. Ngày 28 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2008. 
  6. ^ Lyon, Sam (ngày 16 tháng 8 năm 2008). “Middlesbrough 2-1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ White, Duncan (ngày 14 tháng 12 năm 2008). “Dimitar Berbatov fails to silence Tottenham's chorus of boos”. Daily Telegraph. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  8. ^ Hughes, Ian (ngày 18 tháng 12 năm 2008). “Tottenham 2-2 Spartak Moskva”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  9. ^ Chowdhury, Saj (ngày 21 tháng 12 năm 2008). “Newcastle 2-1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  10. ^ Ngược dòng ngoạn mục, M.U tiến gần ngôi vương
  11. ^ Tottenham - West Ham 2-0: Spurs vào tốp 4
  12. ^ “Luka signs new six-year contract”. Tottenham Hotspur. Ngày 30 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  13. ^ Jamie Lillywhite (ngày 11 tháng 9 năm 2010). “West Brom 1 - 1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  14. ^ N.M (ngày 13 tháng 9 năm 2010). “Tottenham: Đến lượt Modric dính chấn thương”. Thể thao & Văn hoá. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  15. ^ Alex Young (ngày 24 tháng 11 năm 2010). “Tottenham 3-0 Werder Bremen: Kaboul, Modric And Crouch Ease Spurs Into Last 16”. Goal.com. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  16. ^ “Luka Modric firma su contrato con el Real Madrid” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Trang web chính thức của Real Madrid. Ngày 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  17. ^ “Modrić completes move to Madrid”. UEFA.com. Ngày 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  18. ^ Phong Linh (ngày 31 tháng 8 năm 2012). “Hậu Siêu cúp: Song và Modric ra mắt thành công”. Bóng Đá +. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. 
  19. ^ Ngọc Trung (ngày 4 tháng 11 năm 2012). “Nhìn lại chiến thắng thứ 100 của Jose Mourinho tại Madrid”. Dân trí. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ “Real Madrid recover against Real Mallorca with Luka Modric screamer”. The Guardian. Associated Press. Ngày 17 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  21. ^ “Real Madrid 5–2 Mallorca: Modric rocket highlight of Blancos' comeback victory”. Ngày 17 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  22. ^ Cox, Michael (ngày 1 tháng 5 năm 2013). “How Mourinho's subs helped Real score two and almost scrape through”. guardian.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  23. ^ “El uno a uno del Real Madrid”. marca.com. Ngày 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  24. ^ “Player Ratings: Real Madrid 2–0 Borussia Dortmund (Agg 3–4)”. goal.com. Ngày 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  25. ^ “Real Madrid-Borussia Dortmund Live”. whoscored.com. Ngày 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  26. ^ Mardsen, Samuel (ngày 4 tháng 5 năm 2013). “Luka Modric Is Beginning to Look Like a Real Madrid Player After Difficult Year”. bleacherreport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  27. ^ Atkinson, Tre' (ngày 8 tháng 5 năm 2013). “Real Madrid 6–2 Malaga: What We Learned from Los Blancos' Big Win”. bleacherreport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  28. ^ Pettigrove, Jason (ngày 9 tháng 5 năm 2013). “Rating the Real Madrid Players in Their 6–2 Win Against Malaga”. bleacherreport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  29. ^ Jabalquinto, Diego (ngày 9 tháng 5 năm 2013). “Real Madrid surpassed 5,500 goals in La Liga against Malaga”. realmadrid.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  30. ^ Cerezo, H. (ngày 12 tháng 12 năm 2013). “Modric is Carlo's fifth most used player”. Marca. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013. 
  31. ^ “Modric: Shades of Old Trafford”. Marca. Ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013. 
  32. ^ “Real keep firing against Getafe”. Marca. Ngày 16 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2014. 
  33. ^ “Điểm 10 cho Modric”. Tuổi Trẻ Online. Ngày 25 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  34. ^ “Modric jugó su partido número 100 con el Real Madrid”. realmadrid.com. Ngày 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  35. ^ “Bayern Munich 0-4 Real Madrid”. bbc.com. Ngày 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  36. ^ “Real Madrid 4-1 Atletico Madrid”. UEFA. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014. 
  37. ^ “Real Madrid lần thứ 10 vô địch Champions League”. Tuổi Trẻ Online. Ngày 25 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  38. ^ “UEFA Champions League squad of the season”. UEFA. Ngày 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  39. ^ “Luka Modrić, 'Best Midfielder in the 2013-14 Liga BBVA'. LFP. Ngày 27 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  40. ^ Rob Phillips (ngày 12 tháng 8 năm 2014). “Super Cup: Cristiano Ronaldo scores twice in Real Madrid win”. BBC. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  41. ^ “First-half goals from Luka Modric and Cristiano Ronaldo helped Real Madrid continue their La Liga resurgence with a hard-fought victory over Villarreal”. BBC. 27 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  42. ^ “Luka Modric: Real Madrid star ruled out for over three months”. BBC. 18 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2014. 
  43. ^ 'Modric chấn thương vì sự vô tâm của Ancelotti'. TTVH Online. 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  44. ^ “Modric – Real Madrid's image of maturity”. Marca. 9 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  45. ^ Polo, Pablo (16 tháng 7 năm 2015). “Super Luka”. Marca. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  46. ^ “Shakhtar Donetsk 3 Real Madrid 4, match report: Real hold on to top Champions League group ahead of PSG”. The Telegraph. 25 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017. 
  47. ^ “Đội hình tiêu biểu Champions League 2016-2017”. VnExpress. 6 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  48. ^ Juan Ignacio García-Ochoa (16 tháng 12 năm 2017). “Modric claims 2017 Club World Cup golden ball”. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  49. ^ “Madrid beat Liverpool to complete hat-trick”. UEFA. 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  50. ^ “Real áp đảo, Barca chỉ có 1 đại diện trong đội hình tiêu biểu Champions League 2018”. TTVH Online. 28 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  51. ^ “Kranjcar chases dream”. FIFA.com. Ngày 13 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007. 
  52. ^ “Austria 0-1 Croatia”. bbc.com. Ngày 8 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  53. ^ “Bilic: Modric is Europe’s best”. Metro News. Ngày 13 tháng 6 năm 2008. 
  54. ^ Euro 2008: Croatia 1-1 Turkey (1-3 penalties)
  55. ^ Modrić in EURO's best team
  56. ^ “EURO buồn của Modric”. Thể thao và Văn Hóa. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015. 
  57. ^ “Croatia 1 Mexico 3”. BBC Sport. Ngày 23 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015. 
  58. ^ Elvir Islamović (ngày 9 tháng 9 năm 2014). “Modrić sets Croatia on course to sink Malta”. UEFA. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015. 
  59. ^ Islamović, Elvir (13 tháng 10 năm 2014). “Croatia beat Azerbaijan for third straight win”. UEFA. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  60. ^ Pavić, Marko (2 tháng 9 năm 2015). “Modrić uoči kapetanskog debija: Ponosan sam, vjerujem da ću na pravi način predstavljati Hrvatsku” [Modrić ahead of the captain's debut: I am proud, I believe that I will properly represent Croatia] (bằng tiếng Croatia). Večernji list. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2016. 
  61. ^ “Modric làm nên lịch sử với cú vô-lê vào lưới Thổ Nhĩ Kỳ”. VNExpress. 13 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  62. ^ “Croatia thắng đậm, chạm một tay vào vé dự World Cup”. VNExpress. 10 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  63. ^ “Croatia thắng nhờ bàn phản lưới và phạt đền ở World Cup 2018”. VNExpress. 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  64. ^ “Croatia đẩy Argentina vào cửa tử”. VNExpress. 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  65. ^ Paul Fletcher (1 tháng 7 năm 2018). “Croatia beat Denmark in tense shootout”. BBC Sport. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018. 
  66. ^ “Luka Modrić i njegova trudna djevojka vjenčali se u tajnosti” [Luka Modrić and his pregnant girlfriend married in secret] (bằng tiếng Croatian). Večernji list. 12 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2018. 
  67. ^ “Vanja i Luka Modrić pripremili vjenčanje godine” [Vanja and Luka Modrić prepared a marriage of the year] (bằng tiếng Croatian). Večernji list. 11 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2018. 
  68. ^ “Football star Luka Modric becomes a father”. Croatian Times. 7 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2012. 
  69. ^ a ă “Obiteljska idila Luke Modrića” [Family idyll of Luka Modrić] (bằng tiếng Croatian). Gloria. 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  70. ^ “Vanja i Luka Modrić kćer nazvali Ema” [Vanja and Luka Modrić named daughter Ema] (bằng tiếng Croatian). Večernji list. 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  71. ^ “Luka Modrić nakon dva tjedna napokon pokazao kćerkicu preslatkog imena” [After two weeks Luka Modric finally showed the daughter with adorable name] (bằng tiếng Croatian). Gloria. 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2017. 
  72. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BBC Interview2014
  73. ^ “Modric lives the quiet life”. Marca. 10 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  74. ^ “PRVI NOGOMENI OSCAR Nagrade u rukama Modrića, Sammira, Rebića, Ivkovića...”. 
  75. ^ “Igrači i treneri drugu godinu za redom Modrića proglasili najbolji igračem Hrvatske”. 
  76. ^ “NOGOMETNI OSCARI Modrić najbolji hrvatski igrač, najtrener Mamić se ispričao”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]