Eusébio

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Eusébio
Ajman 1968-09-15 stamp - Eusébio da Silva Ferreira.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Eusébio da Silva Ferreira
Ngày sinh 25 tháng 1, 1942(1942-01-25)
Nơi sinh Maputo, Mozambique
Ngày mất 05 tháng 1, 2014 (71 tuổi)
Nơi mất Lisboa, Bồ Đào Nha
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền đạo
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1957–1960 Sporting de Lourenço Marques 42 (77)
1960–1975 Benfica 301 (317)
1975 Boston Minutemen 7 (2)
1975 Monterrey 10 (1)
1975–1976 Toronto Metros-Croatia 25 (18)
1976 Beira-Mar 12 (3)
1976–1977 Las Vegas Quicksilvers 17 (2)
1977–1978 União de Tomar 12 (3)
1978–1979 New Jersey Americans 4 (5)
Đội tuyển quốc gia
1961–1973 Bồ Đào Nha 64 (41)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).
Tượng Eusébio bên ngoài sân vận động Benfica, Estádio da LuzLisboa, Portugal.

Eusébio da Silva Ferreira (phát âm IPA: [eu'zɛbiu dɐ 'siɫvɐ fɨ'ʁɐiɾɐ]) (25 tháng 1 năm 1942 – 5 tháng 1 năm 2014), thường được biết đến với cái tên Eusébio, là một cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha gốc Mozambique, chơi ở vị trí tiền đạo. Ông giúp Bồ Đào Nha có vị trí thứ 3 tại World Cup 1966, đồng thời đoạt danh hiệu vua phá lưới của giải đấu. Eusébio được bầu là Quả bóng vàng châu Âu năm 1965. Ông từng chơi 15 năm cho câu lạc bộ Benfica và là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử đội bóng này.

Với biệt danh "Báo đen" hay "Viên ngọc đen", Eusébio nổi tiếng với tốc độ, sức mạnh cùng những cú sút chân phải đầy uy lực. Ông được coi là cầu thủ nổi tiếng nhất Bồ Đào Nha và là tiền đạo đẳng cấp thế giới đầu tiên người châu Phi [1]. Ông được bầu ở vị trí thứ 9 trong cuộc bình chọn Cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất thế kỉ 20 của IFFHS. Năm 2004, Pelé cũng đưa Eusébio vào danh sách 125 cầu thủ còn sống vĩ đại nhất. Tháng 11/2003, để chào mừng lễ kỷ niệm của UEFA, ông được liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha chọn là cầu thủ vàng (Golden Player) của bóng đá nước này, cầu thủ xuất chúng nhất của Bồ Đào Nha trong 50 năm qua. Trong sự nghiệp thi đấu của mình, ông đã ghi tổng cộng 1137 bàn thắng. Ông trở thành một trong 3 cầu thủ ghi được trên 1000 bàn thắng trong sự nghiệp, đó là: Pelé (1281 bàn thắng), Romário (1000 bàn thắng)

Sự nghiệp ở câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Eusébio sinh ra tại Lourenço Marques (nay là Maputo), Mozambique. Ông chuyển đến Bồ Đào Nha khi còn là thiếu niên, và năm 1961, Eusébio gia nhập câu lạc bộ Benfica khi mới 19 tuổi từ câu lạc bộ ở địa phương, câu lạc bộ thể thao Lourenço Marques, với giá chuyển nhượng là 7500 bảng Anh.

Năm 1962, ông đoạt Cúp châu Âu với Benfica, ghi 2 bàn thắng trong trận chung kết gặp Real Madrid CF. Benfica thắng 5-3. Benfica cũng giành ngôi á quân Cúp C1 châu Âu các năm 1963, 1965 và 1968.

Ông giành được danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 1965 và là cầu thủ đầu tiên đoạt được danh hiệu Chiếc giày vàng châu Âu vào năm 1968, danh hiệu cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất châu Âu trong một mùa bóng. Thành tích này được ông tái lập năm năm sau (1973). Là vua phá lưới Giải vô địch bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha 7 lần trong khoảng thời gian từ 1964 đến 1973, ông đã giúp Benfica giành được 11 danh hiệu vô địch quốc gia (1961, 1963-65, 1967-69, 1971-73, 1975) và 5 Cúp quốc gia (1962, 1964, 1969, 1970, 1972). Ông ghi được 727 bàn thắng trong 715 trận đấu trong màu áo Benfica,[2] bao gồm 317 bàn thắng trong 301 trận đấu ở giải vô địch Bồ Đào Nha.[1]

Vào các mùa bóng 1976 - 77 và 1977 - 78, do tuổi tác đã cao, Eusébio chơi cho hai câu lạc bộ Bồ Đào Nha ít tiếng tăm là SC Beira-Mar ở giải hạng Nhất và União de Tomar ở giải hạng Hai.

Ông cũng chơi tại giải vô địch bóng đá Bắc Mỹ (NASL), cho 3 đội bóng khác nhau, từ 1975 tới 1977: Boston Minutemen (1975), Toronto Metros-Croatia (1976) và Las Vegas Quicksilver (1977). Mùa bóng thành công nhất của ông ở đây là vào năm 1976 với Toronto Metros. Ông ghi bàn trong chiến thắng 3-0 trước 76 Soccer Bowl để giành chức vô địch NASL. Cùng năm đó, ông chơi 10 trận cho câu lạc bộ CF Monterrey trong giải vô địch Mexico.

Mùa bóng tiếp theo (1977) ông ký hợp đồng với Las Vegas Quicksilvers. Đây là khoảng thời gian đáng thất vọng trong sự nghiệp huy hoàng của ông. Chấn thương buộc ông phải thường xuyên điều trị trong khi chơi bóng cho Quicksilvers. Trong suốt mùa bóng ông chỉ ghi được vỏn vẹn 2 bàn, một kết quả nghèo nàn đối với một tiền đạo đẳng cấp như ông.

Mặc dù chấn thương đầu gối làm ông không thể tiếp tục chơi ở NASL, Eusébio vẫn muốn tiếp tục thi đấu. Ông chuyển sang câu lạc bộ New Jersey Americans ở giải hạng Hai của giải vô địch bóng đá Mỹ (ALS) năm 1978. Ông giải nghệ vào cuối mùa bóng đó.

Sự nghiệp ở đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Eusébio là người giữ kỉ lục ghi bàn cho đội tuyển Bồ Đào Nha với 41 bàn trong 64 trận, cho đến khi Pauleta vượt qua kỉ lục này trong trận gặp Latvia ngày 12 tháng 10 năm 2005. Ông có trận đầu tiên khoác áo đội tuyển trong trận gặp Luxembourg ngày 19 tháng 10 năm 1961, tuy nhiên trận đấu này Bồ Đào Nha thua 2-4.

Eusébio là Vua phá lưới World Cup 1966 với 9 bàn thắng, trong đó có 4 bàn ở trận tứ kết gặp Bắc Triều Tiên, trận đấu mà Bồ Đào Nha đã lội dòng nước ngược khi thắng chung cuộc 5-3 sau khi bị dẫn 0-3.

Trận bán kết gặp Anh, Eusébio ghi bàn thắng duy nhất cho đội nhà trên chấm phạt đền ở phút 82. Các cổ động viên Bồ Đào Nha còn nhớ đến trận đấu đó với số bàn thắng bị từ chối cao bất thường, riêng Eusébio không được công nhận 4 bàn do việt vị.

Cùng với danh hiệu Vua phá lưới World Cup 1966, Eusébio còn lập các kỉ lục trong năm đó: ghi nhiều bàn thắng trên chấm phạt đền nhất (không kể sút luân lưu) (4 bàn), 4 bàn vào lưới Bắc Triều Tiên ở tứ kết giúp Bồ Đào Nha cân bằng kỉ lục giành thắng lợi chung cuộc khi bị dẫn khoảng cách lớn nhất (3 bàn, bằng với Áo năm 1954). Người Anh ấn tượng với màn trình diễn của Eusébio đến nỗi đã ngay lập tức dựng tượng sáp của ông trong bảo tàng Madame Tussauds.

Tuy nhiên sau đó Eusébio không còn tham dự một vòng chung kết World Cup nào nữa, mặc dù có tham dự vòng loại World Cup 1970 và 1974. Trận đấu cuối của ông cho đội tuyển quốc gia là trận hoà Bulgaria 2-2 ở vòng loại World Cup ngày 19 tháng 10 năm 1973, đúng 12 năm sau trận đấu ra mắt.

Vào lúc 3h30 ngày 5/1/2014 (giờ địa phương), huyền thoại bóng đá Eusébio đã qua đời ở tuổi 71, nguyên nhân dẫn tới cái chết đột ngột của Eusébio liên quan tới một căn bệnh về tim.

Chuyện bên lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Euso suýt nữa thì đã sang đá ở Brasil cho São Paulo. José Carlos Bauer, một cầu thủ từng chơi ở World Cup 1950World Cup 1950 cho Brasil, phát hiện ra ông ở Mozambique cuối thập niên 1950. Bauer giới thiệu Eusébio với São Paulo (câu lạc bộ cũ của Bauer), nhưng câu lạc bộ này không hứng thú. Do đó, Bauer giới thiệu Eusébio với Benfica.
  • Tên của Euzebiusz Smolarek, một cầu thủ bóng đá người Ba Lan, là cách phiên âm Eusébio trong tiếng Ba Lan.
  • Có chuyện rằng Eusébio thuận chân phải là kết quả của việc tìm thấy một chiếc giày bóng đá chân phải khi còn trẻ con. Sau khi tìm thấy chiếc giày này thì Eusébio chơi bóng một chân giày còn một chân đất.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă World Cup classic players - Eusebio (Những cầu thủ huyền thoại World Cup) - Trang chủ FIFA. Truy cập 26 tháng 10 năm 2006.
  2. ^ Theo bài báo của FIFA năm 2002: (tiếng Đức) Eusebio - Der "Schwarze Panther" aus Portugal wird 60. Tuy nhiên tổ chức IFFHS thống kê ông ghi được 342 bàn thắng trong 373 trận đấu trong giải vô địch từ 1960 đến 1977, trong bài báo "The World's most successful Top Division Goal Scorers of all time".

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Scotland Denis Law
Quả bóng vàng châu Âu
1965
Kế nhiệm:
Anh Bobby Charlton
Tiền nhiệm:
Hungary Flórián Albert

Brasil Garrincha
Liên Xô Valentin Ivanov
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Drazan Jerkovic
Chile Leonel Sánchez
Brasil Vavá

Vua phá lưới World Cup
1966
Kế nhiệm:
Đức Gerd Müller
Tiền nhiệm:
Đầu tiên
Chiếc giày vàng châu Âu
1968
Kế nhiệm:
Flag of Bulgaria (1967).png Petar Jekov
Tiền nhiệm:
Đức Gerd Müller
Chiếc giày vàng châu Âu
1973
Kế nhiệm:
Argentina Héctor Yazalde