Hristo Stoichkov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hristo Stoichkov
Hristo stoichkov-2010.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Hristo Stoichkov Stoichkov
Ngày sinh 8 tháng 2, 1966 (51 tuổi)
Nơi sinh Plovdiv, Bulgaria
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)
Vị trí Tiền vệ cánh, Tiền đạo lùi
CLB trẻ
1976–1982 Maritsa Plovdiv
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1981–1982 Zavod "Yuri Gagarin" 16 (3)
1982–1984 Hebros 32 (14)
1984–1990 CSKA Sofia 119 (81)
1990–1995 Barcelona 151 (76)
1995–1996 Parma 23 (5)
1996–1998 Barcelona 24 (7)
1998 CSKA Sofia 4 (1)
1998 Al-Nassr 2 (1)
1998–1999 Kashiwa Reysol 27 (12)
2000–2002 Chicago Fire 51 (17)
2003 D.C. United 21 (5)
Tổng cộng 471 (223)
Đội tuyển quốc gia
1986–1999 Bulgaria 83 (37)
Huấn luyện
2004–2007 Bulgaria
2007 Celta Vigo
2009–2010 Mamelodi Sundowns
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Hristo Stoichkov (tiếng Bulgaria: Христо Стоичков, sinh 8 tháng 2 năm 1966 tại Plovdiv) là một cựu cầu thủ bóng đá người Bulgaria.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hristo Stoichkov bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp năm 1984 khi mới 18 tuổi với CLB ZSKA Sofia tại giải hạng nhất Bulgaria. Điểm nổi bật của ông là kỹ thuật hoàn chỉnh, tốc độ cao và cái chân trái cực khéo. Sau khi đã giành được 3 chức vô địch quốc gia và 5 cúp quốc gia, năm 1990 ông đã chuyển sang thi đấu cho CLB FC Barcelona tại Tây Ban Nha.

Trong 5 năm thi đấu tại Barcelona, ông cùng đồng đội đã liên tiếp giành 5 chức vô địch La Liga liên tiếp. Năm 1994 là năm cực kỳ thành công của Stoichkov. Sau khi, ông giành được những vinh quang cùng với CLB Barcelona tại La Liga, ông đã cùng các đồng đội đưa đội tuyển bóng đá quốc gia Bulgaria vào đến bán kết giải vô địch bóng đá thế giới (World Cup), đoạt luôn giải vua phá lưới với 6 bàn thắng và qua đó được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA.

Sau những thành công đó cùng gánh nặng tuổi tác, ông đã chuyển sang chơi cho Parma F.C. năm 1995. Tuy nhiên chỉ sau đó một năm ông đã lại trở về chơi cho "Barça". Sau World Cup cuối cùng không mấy thành công với đội tuyển Bulgaria ông đã chuyển sang thi đấu tại các giải nhà nghề của Liban, Nhật BảnMỹ.

Stoichkov đã 4 lần được bầu là cầu thủ của năm tại Bulgaria, đã chơi tổng cộng 84 trận cho đội tuyển quốc gia và ghi được 38 bàn thắng. Tháng 6 năm 2004, ông lên thay Plamen Markov làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia Bulgaria đến tháng 4 năm 2007.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Ý Roberto Baggio
Quả bóng vàng châu Âu
1994
Kế nhiệm:
Liberia George Weah
Tiền nhiệm:
Ý Salvatore Schillaci
Chiếc giày Vàng World Cup
1994
Đồng danh hiệu:
Nga Oleg Salenko
Kế nhiệm:
Croatia Davor Šuker

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]