James Rodríguez

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
James Rodríguez
James Rodriguez.jpg
Rodríguez thi đấu cho Colombia tại World Cup 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ James David Rodríguez Rubio
Ngày sinh 12 tháng 7, 1991 (26 tuổi)
Nơi sinh Cúcuta, Colombia
Chiều cao 1,8 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền vệ tấn công, Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
FC Bayern München
(cho mượn từ Real Madrid)
Số áo 11
CLB trẻ
1995–2007 Envigado
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2008 Envigado 30 (9)
2008–2010 Banfield 42 (5)
2010–2013 Porto 63 (25)
2013–2014 Monaco 34 (9)
2014– Real Madrid 77 (28)
2017– FC Bayern München (mượn) 3 (1)
Đội tuyển quốc gia
2007 U-17 Colombia 11 (3)
2011 U-20 Colombia 5 (3)
2011– Colombia 59 (21)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 22 tháng 9 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 10 tháng 10 năm 2017

James David Rodríguez Rubio (phát âm tiếng Tây Ban Nha[ˈxames roˈðɾiɣes], sinh ngày 12 tháng 7 năm 1991), là cầu thủ bóng đá người Colombia đang thi đấu ở vị trí tiền vệ tại câu lạc bộ FC Bayern München ở giải Bundesliga theo dạng cho mượn từ Real MadridĐội tuyển bóng đá quốc gia Colombia.

Ở cấp độ câu lạc bộ, anh được chú ý nhiều kể từ khi gia nhập Porto năm 2012, ngay sau mùa giải đó anh được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất Primeira Liga, trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử nhận được danh hiệu này. Năm 2013, anh chuyển đến Pháp thi đấu cho Monaco với phí chuyển nhượng 45 triệu euro.

Ngày 22 tháng 7 năm 2014, James chuyển tới Real Madrid với giá trị chuyển nhượng lên tới 80 triệu euro, đưa anh trở thành cầu thủ Colombia đắt giá nhất trong lịch sử, qua mặt Radamel Falcao (60 triệu Euro vào năm 2013).

Ở đội tuyển Colombia, anh bắt đầu chơi bóng ở cấp độ U-20 quốc gia, nơi mà anh được đeo băng đội trưởng và vô địch giải Toulon Tournament năm 2011, và cũng trong năm đó anh cùng Colombia tham dự giải U-20 World Cup. Giải đấu lớn đầu tiên của anh cho đội tuyển Colombia là World Cup 2014 tại Brasil, giải đấu mà anh đã cùng Colombia vào đến tứ kết và cá nhân anh giành được danh hiệu Chiếc giày vàng World Cup và được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải đấu.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Rodríguez sinh ra tại Cúcuta, thành phố gần biên giới Colombia và Venezuela. Cha anh là ông Wilson James Rodríguez Bedolla cũng là một cầu thủ chuyên nghiệp. Tuy nhiên do cha anh thường xuyên thi đấu xa nhà nên cha đỡ đầu của anh là ông Juan Carlos Restrepo mới là người hướng dẫn anh những bước đầu đến sự nghiệp bóng đá.[1] Rodríguez bắt đầu chơi bóng tại trường bóng đá Academia Tolimense và giành chức vô địch Giải Pony Futbol, giải đấu toàn quốc dành cho các trường bóng đá thiếu nhi vào năm 2004.[1]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Envigado FC[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau Giải Pony Futbol, chủ tịch Gustavo Adolfo Upegui Lopez của câu lạc bộ Envigado đã nhanh chóng tìm cách đưa anh đến Envigado.[2] Tuy nhiên, tại Envigado, gia đình Rodríguez phải thuê huấn luyện viên riêng cho anh do trình độ của anh bỏ xa các đồng đội ở học viện đào tạo trẻ câu lạc bộ.[2]

Vào năm 15 tuổi, anh có trận đấu chuyên nghiệp đầu tiên cho Envigado.[3] Năm 2007, khi mới 16 tuổi, Rodriguez ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với Envigado nhưng anh chỉ thi đấu đúng một trận cho đội một trước khi chuyển đến Argentina thi đấu.[1][2]

Banfield[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Rodríguez trở thành cầu thủ của Club Atlético Banfield. Ở tuổi 17 vào năm 2009, khi được vào sân thay người trong trận trận đấu giữa BanfieldGodoy Cruz tại Clausura, năm 2009, anh đã trở thành cầu thủ người nước ngoài trẻ nhất tham dự giải đấu hàng đầu của bóng đá Argentina.[4][5] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Banfield là trong trận gặp Rosario Central với cú sút xa mạnh từ ngoài vòng cấm vào ngày 27 tháng 2 năm 2009.[6] Bàn thắng này cũng giúp anh trở thành cầu thủ nước ngoài trẻ nhất ghi bàn tại giải vô địch bóng đá Argentina.[5]

Đến mùa giải 2009-10, Rodríguez có được vị trí đá chính bên cánh trái khi Nicolás Bertolo chuyển đến Palermo. Với bộ ba Walter Erviti - Maximiliano Bustos - James Rodríguez, trong đó Rodríguez chỉ vắng mặt duy nhất 2 trận đấu, 'El Taladro’ có được danh hiệu vô địch Apertura lần đầu tiên trong lịch sử.[5]

Tại đấu trường Copa Libertadores, Rodríguez đã ghi bàn vào lưới Deportivo Cuenca trong chiến thắng 4–1 của Banfield và sau đó là cú đúp trong trận hòa 2-2 với Club Nacional de Football.[7] Tại vòng loại trực tiếp, anh ghi bàn vào lưới Internacional giúp Banfield thắng 3–1 vào ngày 29 tháng 4 năm 2010. Banfield bị loại khỏi Copa Libertadores 2010 sau trận thua trước Porto Alegre, trận đấu mà Rodríguez đã phải nhận thẻ đỏ.[8]

Porto[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2010, Udinese đã đạt được thỏa thuận ban đầu với Rodríguez, nhưng sau cùng chính câu lạc bộ Bồ Đào Nha Porto mới là câu lạc bộ có được anh với hợp đồng 4 năm có giá chuyển nhượng 5,1 triệu .[9]

Mùa bóng 2010–11[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 7 năm 2010, anh có trận đấu đầu tiên cho Porto trong trận giao hữu với Ajax và ngay lập tức đã ghi bàn.[10] Ngày 15 tháng 12 năm 2010, Rodríguez có bàn thắng đầu tiên trên đấu trường châu lục trong chiến thắng 3-1 của Porto trước CSKA Sofia.[11] Anh vào sân từ băng ghế dự bị trong trận chung kết UEFA Europa League 2011 với SC Braga, trận đấu mà Porto đã thắng 1-0. Rodríguez lập hat-trick và có một pha kiến tạo trong trận chung kết Cúp bóng đá Bồ Đào Nha với Vitória de Guimarães để đem về chiến thắng 6–2 cho Porto.[12] Ngày 13 tháng 6 năm 2011, anh gia hạn hợp đồng với Porto thêm năm năm. Trong mùa giải đầu tiên tại Bồ Đào Nha, sau 24 trận, anh có được tổng cộng sáu bàn thắng và tám pha kiến tạo.[13]

Mùa bóng 2011–12[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa bóng 2011-12, Rodríguez ghi đến 14 bàn thắng và có 11 pha kiến tạo.[14] Kết thúc mùa giải, anh được trao danh hiệu Quả bóng Vàng Bồ Đào Nha 2012 dành cho cầu thủ xuất sắc nhất năm của Giải vô địch bóng đá Bồ Đào Nha. Anh là cầu thủ Colombia thứ hai giành được danh hiệu này sau Radamel Falcao và là cầu thủ trẻ nhất giành được danh hiệu này khi chỉ mới 20 tuổi.[15][16]

Mùa bóng 2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Đến mùa giải 2012-13, anh được câu lạc bộ Porto trao cho chiếc áo số 10. Việc các trụ cột của Porto như Radamel Falcao, Fredy GuarínHulk ra đi đã giúp cho vai trò của Rodríguez ngày càng trở nên quan trọng. Rodríguez ghi một bàn và có hai pha kiến tạo trong chiến thắng 4-0 trước Beira-Mar vào ngày 22 tháng 9 năm 2012.[17] Anh được hai lần liên tiếp bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng của Giải bóng đá vô địch quốc gia Bồ Đào Nha trong tháng 8 và tháng 9.[18] Tại vòng bảng UEFA Champions League 2012–13, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu giữa Porto và đội bóng Pháp Paris Saint-Germain, đưa Porto lên vị trí đầu bảng.[19]

Ngày 26 tháng 11 năm 2012, Rodríguez ghi bàn ở phút 90 ấn định chiến thắng 2-0 cho Porto trước Braga để câu lạc bộ này có kỷ lục 23 trận bất bại trên mọi mặt trận.[20]

Trong trận đấu cuối cùng của mùa giải với Paços de Ferreira, Rodríguez đem về một quả phạt đền để bảo đảm chiến thắng cho Porto, giúp đội bóng này lần thứ ba liên tiếp giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá Bồ Đào Nha.[21] Tổng cộng trong 105 trận cho Porto, Rodríguez đã ghi 32 bàn thắng và có 21 pha kiến tạo.[22]

Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 5 năm 2013, Rodríguez gia nhập đội bóng nước Pháp AS Monaco với phí chuyển nhượng 45 triệu theo bản hợp đồng có thời hạn 5 năm.[23] Đây là giá trị chuyển nhượng cao thứ hai trong lịch sử dành cho một cầu thủ bóng đá Colombia, sau Radamel Falcao.[24]

Mùa bóng 2013–14[sửa | sửa mã nguồn]

Rodríguez có trận đấu đầu tiên tại Ligue 1 trong chiến thắng 2-0 trước Bordeaux.[25] Rodríguez có đóng góp trực tiếp đầu tiên cho Monaco khi kiến tạo một bàn và đóng góp dấu ấn cho cả hai bài thắng còn lại trong chiến thắng 3-0 trước Bastia.[26] Đến ngày 30 tháng 11 năm 2013, anh mới có bàn thắng đầu tiên cho Monaco với pha đá phạt thành bàn trong chiến thắng 2-0 trước Rennes.[27]

Rodríguez mở đầu năm 2014 với trận đấu đầu tiên tại Coupe de France với Vannes, và anh đã ghi bàn và kiến tạo trong chiến thắng 3-2 của Monaco.[28] Anh lập cú đúp đầu tiên cho Monaco giúp đội bóng này thắng Bastia 2-0.[29]

Rodríguez kết thúc mùa giải đầu tiên với Monaco không có được danh hiệu nào nhưng Monaco cũng kết thúc Ligue 1 2013-14 với vị trí nhì bảng và cá nhân anh được chọn vào đội hình tiêu biểu của Ligue 1 mùa giải 2013-14.[30]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 7 năm 2014, Rodríguez ký hợp đồng có thời hạn 6 năm với Real Madrid với phí chuyển nhượng không được tiết lộ, nhưng ước tính vào khoảng 80 triệu .[31][32] Giá chuyển nhượng này giúp anh trở thành cầu thủ đắt giá thứ tư trong lịch sử bóng đá thế giới và là cầu thủ Colombia đắt giá nhất, vượt qua kỷ lục cũ của Radamel Falcao.[33][34] Tại Real, anh khoác áo số 10, số áo từng thuộc về các cầu thủ nổi tiếng của câu lạc bộ này như Luis Figo, Ferenc Puskás và chơi cùng vị trí thần tượng của James là Zinedine Zidane.[35] Buổi lễ ra mắt của anh tại Real Madrid đã thu hút sự tham dự của 45.000 cổ động viên.[36]

Mùa bóng 2014–15[sửa | sửa mã nguồn]

James có trận đấu đầu tiên cho Real trong trận Siêu cúp châu Âu tại Sân vận động Cardiff City với Sevilla. Real Madrid giành thắng lợi 2–0 và anh có được danh hiệu vô địch đầu tiên cùng câu lạc bộ.[37] Ngày 19 tháng 8, anh chính thức có bàn thắng đầu tiên cho Real Madrid trong trận lượt đi tranh Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha với Atletico Madrid kết thúc với tỉ số hòa 1-1 khi được vào sân trong hiệp hai thay cho Cristiano Ronaldo.[38] Ngày 16 tháng 9, anh có trận đấu đầu tiên tại UEFA Champions League trong màu áo Real Madrid và đã ghi bàn thắng thứ tư trong chiến thắng 5-1 trước Basel.[39] James có pha lập công đầu tiên tại La Liga không lâu sau đó trong chiến thắng 8-2 trước Deportivo.[40]

Ngày 1 tháng 11, James lập cú đúp trong chiến thắng 4–0 trước Granada trong đó có một quả vô lê thành bàn từ góc sút khó.[41] Ngày 2 tháng 12, anh lập một cú đúp khác, lần này là trong trận thắng Cornellà 5-0 trong khuôn khổ Cúp Nhà vua Tây Ban Nha.[42] Đến ngày 6 tháng 2 năm 2015, sau khi ghi bàn mở tỉ số trong trận đấu bù với Sevilla FC tại La Liga, James bị gãy xương bàn chân và dự tính phải nghỉ thi đấu đến hết tháng 3, lần nghỉ thương dài hạn đầu tiên của anh tại Real.[43]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Rodríguez là thành viên đội tuyển U-17 Colombia giành chức á quân Giải vô địch bóng đá U-17 Nam Mỹ và ghi được ba bàn. Cùng năm đó, anh và U-17 Colombia cũng tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2007 nhưng U-17 Colombia đã bị loại ngay ở vòng 1/8 bởi U-17 Nigeria.

Rodríguez là đội trưởng đội tuyển U-20 Colombia giành chức vô địch Giải đấu Toulon 2011, giải đấu mà anh cũng được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất giải.[44]

Tại Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2011 tổ chức ngay tại Colombia, anh tiếp tục là đội trưởng của U-20 Colombia và đội bóng của anh bị loại ở tứ kết bởi U-20 Mexico.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Rodríguez trong màu áo đội tuyển Colombia năm 2013

Ngày 29 tháng 9 năm 2011, Rodríguez lần đầu tiên được triệu tập vào đội tuyển Colombia cho trận đấu với Bolivia ngày 11 tháng 10 năm 2011.[45] Anh có trận đấu đầu tiên cho tuyển Colombia vào ngày 11 tháng 10 năm 2011 và đã có pha kiến tạo cho Falcao ấn định chiến thắng 2-1 trước Bolivia.

Ngày 3 tháng 6 năm 2012, anh có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Colombia trong chiến thắng 1-0 trước Peru tại vòng loại World Cup 2014.[46] Hơn ba tháng sau đó, anh có pha đá phạt trực tiếp thành bàn giúp Colombia đánh bại Chile 3-1 trên sân khách.[47] Ngày 7 tháng 9 năm 2013, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Ecuador để đảm bảo chắc chắn tấm vé tham dự World Cup 2014 của đội tuyển Colombia.[48]

World Cup 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 6 năm 2014, Rodríguez có tên trong danh sách 23 cầu thủ Colombia tham dự World Cup 2014 tại Brasil của huấn luyện viên José Pékerman.[49] Trong trận đấu đầu tiên của Colombia tại vòng bảng, Rodríguez đã có hai pha kiến tạo và ghi bàn ấn định chiến thắng 3-0 trước Hy Lạp và được FIFA bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[50] Đến trận đấu thứ hai với Bờ Biển Ngà, Rodríguez tiếp tục phong độ cao với một quả đánh đầu thành bàn và đường chuyền cho Juan Fernando Quintero lập công để đem về chiến thắng 2-1 cho Colombia; cá nhân anh một lần nữa lại nhận danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[51]

Rodríguez vào sân từ băng ghế dự bị trong cuộc đối đầu với Nhật Bản tại lượt cuối vòng bảng và có được một bàn thắng cùng với hai pha kiến tạo cho tiền đạo Jackson Martínez và chung cuộc Colombia giành chiến thắng đậm 4–1.[52] Sau khi kết thúc vòng bảng, Rodríguez được FIFA xếp hạng là cầu thủ có thành tích xuất sắc nhất vòng bảng.[53]

Ngày 28 tháng 6, Rodríguez ghi cả hai bàn thắng trong chiến thắng 2-0 trước Uruguay tại sân vận động Estádio do Maracanã để đưa Colombia lần đầu tiên trong lịch sử vào tứ kết World Cup và Rodríguez được FIFA chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận lần thứ ba chỉ sau bốn trận đấu tại giải đấu.[54]. Bàn thắng này giúp anh sánh ngang với kỷ lục của RonaldoRivaldo khi ghi bàn trong cả bốn trận đầu tiên của mình tại World Cup.[55] Bàn thắng đầu tiên của anh, một cú vô lê đẹp mắt từ ngoài vòng cấm đã được huấn luyện viên Uruguay Óscar Tabárez khen là "một trong những bàn thắng đẹp nhất tôi từng thấy tại World Cup" và ông cũng đánh giá Rodríguez là "cầu thủ xuất sắc nhất World Cup năm nay".[56]

Trong trận tứ kết World Cup 2014 với đội chủ nhà Brasil, anh đã có bàn thắng thứ sáu của mình tại giải đấu từ chấm phạt đền và tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong danh sách các cầu thủ ghi bàn tại World Cup 2014. Tuy nhiên điều này đã không giúp Colombia tránh khỏi thất bại 2–1 trước Brasil.[57] Sau trận đấu, anh đã chỉ trích trọng tài chính điều khiển trận đấu nhưng vẫn khen ngợi Brasil là "một đội bóng tốt".[58]

Ngày 11 tháng 7, anh có tên trong danh sách rút gọn 10 cầu thủ cho danh hiệu Quả bóng Vàng, dành cho cầu thủ xuất sắc nhất World Cup 2014.[59] Sau khi giải đấu kết thúc, dù Colombia bị loại tại tứ kết, anh vẫn giành được danh hiệu Chiếc giày Vàng với thành tích sáu bàn thắng ngay trong lần đầu tiên tham dự World Cup.[60]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

"Colombia không cần một "El Pibe" ("Cậu bé") mới nữa vì James chính là "cậu bé" ấy, người mà đội tuyển Colombia đã thiếu vắng từ lâu. Cậu ấy có tài năng đáng kinh ngạc và nhiệt huyết thi đấu hơn bất kỳ cầu thủ nào mà tôi từng thấy khi còn thi đấu và trong quá trình làm huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp. James có tố chất để trở thành cầu thủ Colombia vĩ đại nhất và có thể là một trong các cầu thủ vĩ đại nhất từng thi đấu."

'El Pibe' Valderrama khen ngợi James Rodríguez như truyền nhân của mình.[61]

Được đánh giá là một trong những tài năng trẻ hay nhất thế giới, Rodríguez có thể chơi ở nhiều vị trí khác nhau: tiền vệ công, tiền vệ cánh thậm chí là tiền đạo. Anh thường đảm nhận vai trò dẫn dắt lối chơi ở cả câu lạc bộ lẫn đội tuyển quốc gia. Khả năng đi bóng khéo léo, chuyền bóng chính xác nhất là những quả chọc khe giúp anh trở thành nguồn sáng tạo của đội tuyển Colombia.[62] Trước việc được so sánh với Valderrama, anh đã nói: "Đó là một vinh dự khi được xem là truyền nhân của 'El Pibe' ở độ tuổi của tôi".[63]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Rodríguez hiện đang kết hôn với Daniela Ospina, em gái David Ospina và có một con gái.[64] Rodríguez là một Kitô hữu.[65]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 27 tháng 9 năm 2017.
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Giải châu lục Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Envigado Primera B 2007 8 0 8 0
Primera A 2008 22 9 22 9
Tổng cộng 30 9 30 9
Banfield Clausura 2009 12 1 12 1
Apertura 2009 18 3 18 3
Clausura 2010 12 1 8 5 20 6
Tổng cộng 42 5 8 5 50 10
Porto 2010–11 15 2 7 3 9 1 31 6
2011–12 26 13 4 0 8 1 38 14
2012–13 22 10 5 1 8 1 1 0 36 12
Tổng cộng 63 25 16 4 25 3 1 0 105 32
Monaco 2013–14 34 11 4 1 38 12
Tổng cộng 34 11 4 1 38 12
Real Madrid 2014–15 29 13 4 2 9 1 4 1 46 17
2015–16 26 7 1 0 5 1 32 8
2016–17 22 8 3 3 6 0 1 0 32 11
Tổng cộng 77 28 8 5 21 2 4 1 110 36
Bayern Munich 2017–18 3 1 0 0 2 0 0 0 5 1
Tổng cộng 3 1 0 0 2 0 0 0 5 1
Tổng cộng sự nghiệp 250 77 29 10 56 10 4 1 339 97

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của đội tuyển Colombia được ghi đầu tiên.[66]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 3-6-2012 Sân vận động quốc gia, Lima, Peru  Peru
1–0
1–0
Vòng loại World Cup 2014
2. 11-9-2012 Sân vận động Monumental David Arellano, Santiago de Chile, Chile  Chile
1–1
3–1
3. 6-9-2013 Sân vận động Metropolitano Roberto Meléndez, Barranquilla, Colombia  Ecuador
1–0
1–0
4. 5-3-2014 Sân vận động Cornellà-El Prat, Barcelona, Tây Ban Nha  Tunisia
1–0
1–1
Giao hữu
5. 6-6-2014 Sân vận động Nuevo Gasómetro, Buenos Aires, Argentina  Jordan
1–0
3–0
6. 14-6-2014 Sân vận động Mineirão, Belo Horizonte, Brasil  Hy Lạp
3–0
3–0
World Cup 2014
7. 19-6-2014 Sân vận động Mané Garrincha, Brasília, Brasil  Bờ Biển Ngà
1–0
2–1
8. 24-6-2014 Arena Pantanal, Cuiabá, Brasil  Nhật Bản
4–1
4–1
9. 28-6-2014 Sân vận động Maracanã, Rio de Janeiro, Brasil  Uruguay
1–0
2–0
10.
2–0
11. 4-7-2014 Sân vận động Castelão, Fortaleza, Brasil  Brasil
1–2
1–2
12. 14-10-2014 Red Bull Arena, Harrison, Hoa Kỳ  Canada
1–0
1–0
Giao hữu
13. 12-11-2015 Sân vận động quốc gia Julio Martínez Prádanos, Santiago, Chile  Chile
1–1
1–1
Vòng loại World Cup 2018
14. 24-3-2016 Sân vận động quốc gia Hernando Siles, La Paz, Bolivia  Bolivia
1–0
1–0
15. 3-6-2016 Sân vận động quốc gia Levi's, Santa Clara, Hoa Kỳ  Bolivia
2–0
2–0
Copa América Centenario
16. 7-6-2016 Rose Bowl, Pasadena, Hoa Kỳ  Paraguay
2–0
2–1
17. 1-9-2016 Sân vận động Metropolitano Roberto Meléndez, Barranquilla, Colombia  Paraguay
1–0
2–0
Vòng loại World Cup 2018
18. 23-3-2017 Sân vận động Metropolitano Roberto Meléndez, Barranquilla, Colombia  Bolivia
1–0
1–0
19. 28-3-2017 Sân vận động Olímpico Atahualpa, Quito, Ecuador  Ecuador
1–0
2–0
20. 13-6-2017 Coliseum Alfonso Pérez, Getafe, Tây Ban Nha  Cameroon
1–0
4–0
Giao hữu
21. 10-10-2017 Sân vận động quốc gia Lima, Lima, Peru  Cameroon
1–0
1–1
Vòng loại World Cup 2018

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Envigado
  • Primera B Colombia: 2007
Banfield
Porto
  • Primeira Liga: 2010–11, 2011–12, 2012–13
  • Taça de Portugal: 2010–11
  • Supertaça Cândido de Oliveira: 2010, 2011, 2012
  • UEFA Europa League: 2010-11
Real Madrid

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

U-20 Colombia
Đội tuyển quốc gia Colombia

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Who is James Rodriguez? All you need to know about Colombia's World Cup superstar”. Mirror Online. Ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ a ă â “James Rodriguez: Thần đồng làm lu mờ [[Messi]], [[Neymar]]”. VTC News. Ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  3. ^ “James Rodriguez, the young guide to Colombia”. CONMEBOL. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ “Man United từng từ chối chiêu mộ James Rodriguez chỉ vì... Bebe”. Thể thao và Văn Hóa Online. Ngày 30 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ a ă â “Goal.com Scouting Report: James Rodriguez - Banfield”. Goal.com. Ngày 13 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “Rodriguez đổi đời nhờ bàn thắng từ chấm phạt góc”. Báo điện tử Một Thế giới. Ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ “Un Taladro rendidor”. Ole.clarin.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ “ph Internacional x-x Banfield: xxx”. Goal.com. Ngày 7 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ “The South American Cristiano Ronaldo on Manchester United's shopping list: talkSPORT Transfer Spotlight”. Talk Sport. Ngày 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  10. ^ “Football | Match | Team Lineups | Friendly Match | FC Porto v Ajax | 18th July 2010”. TEAMtalk. Ngày 18 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ “FC Porto 3-1 CSKA Sofia”. Football.co.uk. Ngày 15 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  12. ^ “Porto 6-2 Vitoria Guimaraes: James Rodriguez hat-trick helps Dragons to quadruple”. Goal.com. Ngày 22 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  13. ^ “The Rise of James Rodriguez”. Pundit Arena. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  14. ^ “Messi Who? Colombia's 'King James' Is The World Cup's New Superstar”. Fox News Latino. Ngày 30 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  15. ^ “Manchester United: 5 Transfers Who Could Bring Some Creativity to Their Midfield”. Bleacher Report. Ngày 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  16. ^ “World Cup 2014: James Rodriguez closing gap on Shakira”. BBC Sport. Ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  17. ^ “FC Porto thrashes Beira Mar 4-0 in Portugal”. News OK. Ngày 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  18. ^ “Rodriguez scoops Portuguese award Colombia News | Colombia Reports - Colombia News”. Colombia Reports. Ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  19. ^ “Porto 1-0 Paris Saint-Germain: James Rodriguez breaks through to earn deserved triumph”. Goal.com. Ngày 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  20. ^ “Porto 1-0 Paris Saint-Germain: James Rodriguez breaks through to earn deserved triumph”. Sports.ndtv.com. Ngày 26 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  21. ^ “Unbeaten Porto wrap up 27th league title”. UEFA.com. Ngày 19 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  22. ^ “James Rodriguez vs Neymar: Who has been the bigger star at World Cup 2014 so far?”. The Independent. Ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  23. ^ “Monaco pay €70 million for Porto pair”. Goal.com. Ngày 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  24. ^ “World Cup 2014: James Rodriguez joins the perfect 10s”. BBC Sport. Ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  25. ^ “Falcao, Monaco win Ligue 1 debut”. FOX Sports. Ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  26. ^ “Monaco maintain two-point lead over PSG”. UEFA.com. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  27. ^ “Primer gol oficial de James Rodríguez con el Mónaco”. Comutricolor.com. Ngày 30 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  28. ^ “Live Commentary: Vannes OC 2-3 AS Monaco - as it happened - Sports Mole”. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  29. ^ “Ligue 1 - James Rodriguez at the double as Monaco win at Bastia - Yahoo Eurosport UK”. uk.eurosport.yahoo.com. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  30. ^ “Ligue 1 Team of the Season: Ibrahimovic enjoys greatest ever campaign”. Goal.com. Ngày 8 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  31. ^ “James Rodríguez signs for Real Madrid for a reported £63m”. The Guardian. Ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  32. ^ “Real Madrid sign James Rodriguez from Monaco in £63million deal”. Sky Sports. Ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  33. ^ “James Rodriguez signs for Real Madrid inking a six-year contract in £63m transfer from Monaco”. The Telegraph. Ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  34. ^ “Real Madrid sign Monaco forward”. BBC. Ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  35. ^ “James Rodríguez: "Zidane fue mi ídolo y siempre fui del Real Madrid". Liga BBVA (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  36. ^ “Real Madrid sign Monaco forward”. Football-Espana. Ngày 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  37. ^ “Ronaldo, Real sink Sevilla to claim Super Cup”. FIFA.com. Ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014. 
  38. ^ “James Rodriguez đã ghi bàn ra mắt, Real Madrid vẫn bị Atletico cầm hòa 1-1”. Thể thao và Văn Hóa. Ngày 20 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  39. ^ “Real Madrid 5-1 FC Basel”. BBC Sports. Ngày 16 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  40. ^ “Deportivo de La Coruña 2-8 Real Madrid”. BBC Sport. Ngày 20 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  41. ^ “Granada 0-4 Real Madrid: James Rodriguez lập cú đúp, Real nối dài mạch thắng”. Thể thao và Văn Hóa. Ngày 1 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  42. ^ “Result: James Rodriguez bags brace as Real Madrid ease past Cornella”. Sports Mole. Ngày 2 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  43. ^ “Real mất James Rodriguez đến cuối tháng 3”. Vnexpress. Ngày 6 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  44. ^ John Edwards (ngày 13 tháng 11 năm 2012). “James Rodriguez: Manchester United watch Porto winger for seventh time this season | Mail Online”. Dailymail.co.uk. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  45. ^ “Convocatoria Selección Mayores para juego ante Bolivia” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Colombia national football team. Ngày 29 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011. 
  46. ^ Tom Beck (ngày 4 tháng 1 năm 2012). “Conmebol World Cup Qualifying Round-up: Forlan strike not enough as Uruguay are held by Vinotinto”. Goal.com. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  47. ^ “Colombia routs Chile 3-1, gets into qualification zone”. Deportes.terra.es. Ngày 11 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  48. ^ “Colombia 1-0 Ecuador: Rodriguez clinches vital three points”. Goal.com. Ngày 7 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  49. ^ “Recovering Falcao left off Colombia's final 23-player World Cup roster”. Fox Sports. Ngày 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  50. ^ “Colombia 3-0 Greece”. FIFA. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  51. ^ “2014 FIFA World Cup Brazil™: Colombia-Côte d'Ivoire - Overview”. FIFA.com. Ngày 19 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  52. ^ “2014 FIFA World Cup Brazil™: Japan-Colombia”. FIFA.com. Ngày 24 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  53. ^ “Rodriguez hits front as Perisic goes home in second”. FIFA. Ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  54. ^ “Colombia 2-0 Uruguay”. FIFA. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  55. ^ “World Cup - Genius Rodriguez fires Colombia past toothless Uruguay”. Eurosport. Ngày 28 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  56. ^ “Colombia’s James Rodríguez sizzles to end Uruguay World Cup saga”. The Guardian. Ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  57. ^ “Brazil 2-1 Colombia”. BBC. Ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014. 
  58. ^ “World Cup 2014: Colombia's James Rodriguez criticises referee”. BBC. Ngày 5 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  59. ^ “World Cup 2014: Fifa announces Golden Ball shortlist”. BBC. Ngày 11 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  60. ^ “World Cup 2014: James Rodriguez wins Golden Boot”. BBC. Ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  61. ^ “James Rodríguez es mi sucesor, afirma "El Pibe" Valderrama Chile”. Deportescl.terra.cl. Ngày 9 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  62. ^ “Rodriguez: I’ve got a lot to learn”. FIFA.com. Ngày 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  63. ^ “Why James Rodriguez Will Have a Massive World Cup for Colombia”. Bleacher Report.com. Ngày 3 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  64. ^ “James Rodriguez The Soccer Star is also a Family Man”. Ngày 20 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2014. 
  65. ^ “Colombia's James Rodriguez, a proud father and the man Brazil most fears at World Cup”. 
  66. ^ "James Rodríguez International Statistics"., Int.soccerway.com Retrieved on ngày 14 tháng 7 năm 2014
  67. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên youtube.com
  68. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Toulon
  69. ^ Liga Portugal
  70. ^ “Record elege o onze de 2012” [Record elects the eleven of 2012]. A Bola (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Ngày 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2013. 
  71. ^ “João Moutinho e mais dez craques” [João Moutinho and ten aces]. O Jogo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2013. 
  72. ^ “O melhor onze da I Liga”. O Jogo. Truy cập 23 tháng 10 năm 2015. 
  73. ^ “French Ligue 1 Stats: Assists Leaders – 2013–14”. ESPN FC. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  74. ^ “Ibrahimovic mejor jugador de Francia; James Rodríguez tercero”. 
  75. ^ “Sondages | Communauté | AS Monaco FC”. Asm-fc.com. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2014. 
  76. ^ “James es de oro”. Copa América. Truy cập 23 tháng 10 năm 2015. 
  77. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ReferenceA
  78. ^ “The Dream Team”. FIFA.com. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014. 
  79. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên WC14_Best_Goal
  80. ^ “FIFA Puskás award 2014 – results” (PDF). FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). Ngày 12 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  81. ^ “The 2014/15 Liga BBVA Ideal XI”. LFP. Ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]