Hulk (cầu thủ bóng đá)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hulk
Givanildo Vieira de Souza.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Givanildo Vieira de Souza
Ngày sinh 25 tháng 7, 1986 (32 tuổi)
Nơi sinh Campina Grande, Brasil
Chiều cao 1,82 m (5 ft 11 12 in)
Vị trí Tiền đạo, Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Thượng Hải SIPG
Số áo 10
CLB trẻ
2001–2002 Vilanovense
2002 São Paulo
2003–2004 Vitória
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2005 Vitória 1 (0)
2005Frontale (mượn) 9 (1)
2006–2008 Frontale 2 (0)
2006Consadole (mượn) 38 (25)
2007Tokyo Verdy (mượn) 42 (37)
2008 Tokyo Verdy 11 (7)
2008–2012 Porto 89 (45)
2012–2016 FC Zenit Saint Petersburg 97 (56)
2016– Thượng Hải SIPG 14 (9)
Đội tuyển quốc gia
2009–2016 Brasil 48 (12)

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 21 tháng 4 năm 2017.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 12 tháng 6 năm 2016

Givanildo Vieira de Souza (sinh 25 tháng 7 năm 1986), hay còn gọi là Hulk, là một cầu thủ bóng đá Brasil đang chơi cho Thượng Hải SIPGTrung Quốc. Vị trí sở trường là tiền đạo hoặc cầu thủ chạy cánh.

Biệt danh Hulk là do bố của anh, một người hâm mộ bộ phim truyền hình The Incredible Hulk đặt cho.

Sau quãng thời gian tại Nhật Bản, anh đã chơi bóng vài mùa tại Bồ Đào Nha cho Porto, giành được 10 danh hiệu, trong đó có chức vô địch Europa League năm 2011 và 3 chức vô địch quốc gia, từng 1 lần giành danh hiệu vua phá lưới. Ngày 4 tháng 9 năm 2012, Hulk ký hợp đồng 5 năm chuyển sang chơi cho Zenit Saint Petersburg với giá 50.7 triệu USD.

Hulk đại diện cho nhóm cầu thủ trên 23 tuổi của Brasil thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 2012.

Anh nổi tiếng với cú sút penalty mạnh nhất thế giới, với vận tốc đo được là hơn 200 km/h.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Brasil và Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp tại CLB Esporte Clube Vitoria ở Salvado, Bahia, Hulk sau đó chuyển tới Nhật Bản chơi cho Kawasaki Frontale theo một hợp đồng cho mượn. Mặc dù sau đó được mua hẳn, nhưng Hulk lại được đem đi cho Consadole Sapporo, một đội bóng hạng 2 mượn. Tại đó, anh chơi cả mùa 2006, ghi được 25 bàn thắng.

Vào năm 2007, Hulk lại được cho một đội bóng hạng 2 khác mượn, Tokyo Verdi. Mùa bóng này, anh ghi được 37 bàn thắng trong 42 trận, trở thành vua phá lưới của giải. Hết hợp đồng, anh trở về Kawasaki vào năm 2008 nhưng lại gia nhập Verdy chỉ sau 2 trận thi đấu.

F.C. Porto

Sau thời gian chơi bóng tại Nhật Bản, Hulk chuyển đến Bồ Đào Nha và ký hợp đồng với đương kim vô địch F.C. Porto, đội bóng đã mua 50% quyền sở hữu Hulk với giá 5,5 triệu Euro từ đội bóng Uruguay, CA Rentistas.

Khi đồng đội người Maroc Tarik Sektioui bị chấn thương, anh đã được trao cơ hội thi đấu và ghi bàn thắng chính thức đầu tiên tại giải vô địch quốc gia vào lưới CF Os Belenenses. Sau đó,anh chiếm một suất đá chính, hợp thành bộ ba tấn công cùng với Cristian RodríguezLisandro López. Sau vài màn trình diễn xuất sắc tại UEFA Champions League anh được UEFA bầu là một trong 10 ngôi sao triển vọng nhất. Cuối tháng 8 năm 2009, anh gia hạn hợp đồng đến tháng 6 năm 2014, phí giải phóng hợp đồng tăng lên thành 100 triệu Euro.

Ngày 13 tháng 5 năm 2011, Porto trả 13.5 triệu Euro cho Rentistas để mua thêm 40% quyền sở hữu Hulk, và ký hợp đồng đến năm 2016 cùng điều khoản phá vỡ hợp đồng là 100 triệu Euro.

Zenit

Ngày 3 tháng 9 năm 2012, Hulk hoàn tất bản hợp đồng để chuyển tới đầu quân cho đội bóng của Nga là Zenit Saint Petersburg với giá 55 triệu euro.

Sự nghiệp Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hulk thi đấu trận đầu tiên cho đội tuyển quốc gia Brasil vào ngày 14 tháng 11 năm 2009 trong một trận đấu giao hữu với Anh tại Doha. Vào ngày 26 tháng 5 năm 2012, Hulk ghi 2 bàn thắng đầu tiên cho Brasil trong chiến thắng 3-1 trước Đan Mạch.

Tháng 7 năm 2012, Hulk được đăng ký là một trong 3 cầu thủ quá tuổi của Brasil thi đấu tại Olympic Luân Đôn 2012.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 7 tháng 3 năm 2017.
Mùa giải Câu lạc bộ Giải đấu Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu lục Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
2004 Vitória Série A 2 0 2 0
Tổng cộng Brasil 2 0 2 0
2005 Kawasaki Frontale J. League 1 9 1 2 2 1 0 12 3
2006 Consadole Sapporo (mượn) J. League 2 38 25 3 1 41 26
2007 Tokyo Verdy (mượn) 42 37 0 0 42 37
2008 Kawasaki Frontale J. League 1 2 0 0 0 0 0 2 0
Tokyo Verdy 11 7 0 0 3 1 14 8
Tổng cộng Nhật Bản 102 70 5 3 4 1 111 74
2008–09 Porto Primeira Liga 25 8 7 1 1 0 10 0 1 0 44 9
2009–10 19 5 3 2 0 0 8 3 1 0 31 10
2010–11 26 23 7 4 3 1 16 8 1 0 53 36
2011–12 26 16 1 0 2 1 8 4 2 0 39 21
2012–13 3 2 0 0 0 0 0 0 0 0 3 2
Tổng cộng Bồ Đào Nha 99 54 18 7 6 2 42 15 5 0 170 89
2012–13 Zenit Saint Petersburg Giải bóng đá ngoại hạng Nga 18 7 3 1 9 3 30 11
2013–14 24 17 0 0 10 5 34 22
2014–15 28 15 2 0 15 6 45 21
2015–16 27 17 4 2 7 4 1 0 39 23
Tổng cộng Nga 97 56 9 3 41 18 1 0 148 77
2016 Thượng Hải SIPG Chinese Super League 7 4 0 0 1 0 8 4
2017 1 1 0 0 3 2 4 3
Tổng cộng Trung Quốc 8 5 0 0 4 2 0 0 12 7
Tổng cộng sự nghiệp 308 185 32 13 10 3 87 34 6 0 443 239

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Brasil
Năm Trận Bàn
2009 2 0
2011 6 0
2012 10 6
2013 14 2
2014 8 1
2015 4 2
2016 3 0
Tổng cộng 47 11

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
01. 26 tháng 5 năm 2012 Volksparkstadion, Hamburg, Đức  Đan Mạch 1–0 3–1 Giao hữu
02. 3–0 3–1
03. 9 tháng 6 năm 2012 Sân vận động MetLife, East Rutherford, New Jersey, Hoa Kỳ  Argentina 3–2 3–4
04. 10 tháng 9 năm 2012 Sân vận động Morumbi, São Paulo, Brasil  Nam Phi 1–0 1–0
05. 10 tháng 9 năm 2012 Sân vận động Arruda, Recife, Brasil  Trung Quốc 4–0 8–0
06. 11 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Swedbank, Malmö, Thụy Điển  Iraq 4–0 6–0
07. 19 tháng 11 năm 2013 Sân vận động Sun Life, Miami, Florida, Hoa Kỳ  Honduras 5–0 5–0
08. 19 tháng 11 năm 2013 Rogers Centre, Toronto, Canada  Chile 1–0 2–1
09. 3 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Serra Dourada, Goiânia, Brasil  Panama 3–0 4–0
10. 5 tháng 9 năm 2015 Red Bull Arena, Harrison, Hoa Kỳ  Costa Rica 1–0 1–0
11. 8 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Gillette, Foxborough, Hoa Kỳ  Hoa Kỳ 1–0 4–1

Bàn thắng tại Thế vận hội Mùa hè[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
01. 11 tháng 8 năm 2012 Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh  México 1–2 1–2 Thế vận hội Mùa hè 2012

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ F.C. Porto

Cá nhân

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]