Willian Borges da Silva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Willian
20141118 AUTBRA 5071.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Willian Borges da Silva
Ngày sinh 9 tháng 8, 1988 (27 tuổi)
Nơi sinh Ribeirão Pires, Brasil
Chiều cao 1,74 m (5 ft 8 12 in)
Vị trí Tiền vệ cánh, Tiền vệ tấn công
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Chelsea
Số áo 22
CLB trẻ
Corinthians
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2007 Corinthians 41 (2)
2007–2013 Shakhtar Donetsk 140 (20)
2013 Anzhi Makhachkala 11 (1)
2013– Chelsea 93 (11)
Đội tuyển quốc gia
2007 U-20 Brasil 11 (0)
2011– Brasil 38 (6)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 2 tháng 5, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 12 tháng 6, 2016

Willian Borges da Silva, (sinh ngày 9 tháng 8, 1988), thường gọi là Willian, là cầu thủ bóng đá người Brasil, thi đấu ở vị trí tiền vệ cánhtiền vệ tấn công cho câu lạc bộ ChelseaĐội tuyển bóng đá quốc gia Brasil.

Willian sinh ra tại Brasil và bắt đầu sự nghiệp tại Corinthians, trước khi đến Shakhtar vào tháng 8 năm 2007 với phí chuyển nhượng 19 triệu $. Tháng 1 năm 2013, anh đến Nga thi đấu cho Anzhi Makhachkala và sau chỉ 7 tháng tại đây, anh gia nhập Chelsea với phí chuyển nhượng cỡ 30 triệu £.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Corinthians[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, sau khi được đôn lên từ đội trẻ, Willian bắt đầu thi đấu cho đội hình một của Corinthians, khoác áo số 10. Anh có trận đấu đầu tiên tại giải vô địch Brasil ở tuổi 18 trong chiến thắng 1-0 trước Juventude ngày 3 tháng 5 năm 2007.[1] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Corinthians là cú đúp trong trận hòa 2-2 với Atlético-PR ngày 2 tháng 8 năm 2007.[2] Sau hai mùa bóng thi đấu cho Corinthians, anh ra sân 37 lần, trong đó có 16 trận tại giải vô địch quốc gia và ghi được 2 bàn.

Shakhtar Donetsk[sửa | sửa mã nguồn]

2007–08[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 8 năm 2007, Willian ký hợp đồng có thời hạn 5 năm với Shakhtar Donetsk, phí chuyển nhượng là 14 triệu .[3] Trận đầu tiên của anh cho câu lạc bộ Ukraina là chiến thắng 2-1 trước Chornomorets Odesa ngày 15 tháng 9.[1] Bàn thắng đầu tiên đến vào ngày 31 tháng 10 trong chiến thắng 4-1 trước Arsenal Kyiv tại cúp quốc gia Ukraina.[1] Tại đấu trường châu Âu, trận ra mắt của anh không thành công khi vào sân ở phút 73 thay cho Răzvan Raț trong trận thua 0-3 trước A.C. Milan tại Champions League ngày 6 tháng 11.[4] Anh kết thúc mùa giải đầu tiên với 28 lần ra sân và 1 bàn thắng, cùng với Shakhtar giành chức vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia UkrainaCúp vô địch quốc gia Ukraina.[5]

2008–09[sửa | sửa mã nguồn]

Willian trong màu áo Shakhtar Donetsk năm 2009

Anh cùng Shakhtar giành danh hiệu Siêu cúp bóng đá Ukraina 2008 sau chiến thắng trên loạt sút luân lưu trước Dynamo Kyiv ngày 15 tháng 7.[6] Ngày 27 tháng 8, anh ghi bàn trong chiến thắng 3-1 trước Dinamo Zagreb tại Champions League.[7] Ngày 1 tháng 11, anh có bàn thắng đầu tiên tại giải bóng đá vô địch quốc gia và giúp Shakhtar đánh bại Zorya Luhansk 3-1.[8] Ngày 16 tháng 11, anh ghi bàn thắng duy nhất trong các trận đấu với Dynamo Kyiv.[9] và Chornomorets Odesa ngày 25 tháng 4.[10] Anh thi đấu trong hiệp phụ trận chung kết cúp UEFA 2009 với Werder Bremen và Shakhtar đã đăng quang với chiến thắng 2-1.[11] Tổng cộng anh có 52 lần ra sân và 8 bàn thắng trong mùa giải 2008–09.

2009–10[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng đầu tiên của Willian cho Shakhtar Donetsk trong mùa giải 2009-10 vào ngày 15 tháng 8 với chiến thắng 6-1 trước Dniester Ovidiopol tại cúp quốc gia Ukraina.[12] Ngày 17 tháng 9, anh ghi bàn thắng thứ hai cho Shakhtar trong chiến thắng 4-1 trước câu lạc bộ của Bỉ Club Brugge ở vòng bảng Europa League.[13] Trong mùa giải này, anh có 39 lần ra sân và 7 bàn thắng, cùng Shakhtar vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia với 77 điểm, hơn 6 điểm so với đội về nhì là Dynamo Kyiv.[14]

2010–11[sửa | sửa mã nguồn]

Willian bắt đầu mùa giải 2010–11 bằng bàn thắng trong chiến thắng áp đảo 7–1 trước Tavriya Simferopol tại Siêu cúp Ukraina ngày 4 tháng 7.[15] Một tuần sau, anh tiếp tục ghi bàn trong trận mở màn giải vô địch quốc gia với Kryvbas.[16] Ngày 15 tháng 8, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Karpaty Lviv ở những phút bù giờ hiệp một[17] và sau đó ngày 29 tháng 8 trong trận đấu với Illichivets Mariupol.[18]

Ngày 8 tháng 3, Willian lập công trong chiến thắng 3-0 trước đội bóng Ý AS Roma tại vòng 16 đội Champions League, giúp đội bóng của anh vào tứ kết với tổng tỉ số sau hai lượt là 6-2.[19] Ngày 25 tháng 5, anh góp mặt trong chiến thắng 2-0 trước Dynamo Kyiv tại trận chung kết cúp quốc gia Ukraina, nhưng bị thay ra ở phút 77 bởi Alex Teixeira.[20] Shakhtar kết thúc mùa giải cực kỳ thành công với cú ăn ba ở các giải đấu trong nước, riêng Willian có 8 bàn sau 43 trận.[21]

2011–12[sửa | sửa mã nguồn]

Willian thi đấu tại Champions League trong màu áo Shakhtar

Shakhtar Donetsk khởi đầu mùa giải 2011-12 không tốt khi để thua Dynamo Kyiv 3-1 trong trận siêu cúp ngày 5 tháng 7, trận đấu mà Willian chơi đủ 90 phút.[22] Ngày 19 tháng 10, anh ghi bàn mở tỉ số trong trận hòa 2-2 với đội bóng Nga Zenit Saint Petersburg vòng bảng Champions League 2011-12.[23] Ngày 10 tháng 3, anh ghi bàn thắng thứ hai cho Shakhtar, giúp đội bóng này đánh bại Illichivets Mariupol 2-1.[24] Ngày 6 tháng 5, anh cùng Shakhtar bảo vệ thành công ngôi vô địch cúp quốc gia với chiến thắng 2-1 trước Metalurh Donetsk.[25] Shakhtar sau đó cũng giành danh hiệu vô địch giải vô địch quốc gia ba năm liên tiếp. Trong mùa giải này, Willian có 37 lần ra sân và 6 bàn thắng.[26]

2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Willian đã không có mặt trong trận siêu cúp Ukraina 2012, nơi mà Shakhtar đã đánh bại Metalurh Donetsk 2-0.[27] Phải đến trận đấu thứ tư tại giải vô địch quốc gia gặp Volyn Lutsk ngày 6 tháng 8, anh mới được ra sân.[28] Ngày 19 tháng 8, anh ghi một bàn và kiến thiết hai đường chuyền thành bàn trong chiến thắng 5-1 trước Chornomorets Odesa.[29] Willian có một màn trình diễn đáng nhớ tại Champions League 2012-13 với cú đúp vào lưới Chelsea ngày 7 tháng 11, nhưng chung cuộc Shakhtar lại thua 3-2 do những sai lầm của thủ môn Andriy Pyatov.[30]

Anzhi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 1 năm 2013, Willian hoàn tất vụ chuyển nhượng đến câu lạc bộ Anzhi của Nga với phí chuyển nhượng vào khoảng 35 triệu €.[31][32] Ban đầu anh chọn khoác áo số 10 nhưng do luật của UEFA không cho phép cầu thủ thay đổi số áo đấu đã sử dụng tại UEFA Champions League trước đó nên anh đành quay lại với số áo 88 mà anh mặc ở Shaktar Donetsk.[33] Ngay trong trận đấu đầu tiên cho Anzi gặp Newcastle United tại Europa League, Willian đã bị chấn thương.[34]

Vào tháng 8 năm 2013, do những khó khăn về tài chính buộc phải cắt giảm ngân sách hoạt động, Anzhi đã phải đưa vào danh sách chuyển nhượng toàn bộ đội hình của mình, trong đó có cả Willian dù anh chỉ mới đến câu lạc bộ có bảy tháng.[35]

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

2013-14[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 8 năm 2013, Chelsea thông báo đã đạt được thỏa thuận mua Willian từ Anzhi và đội bóng nước Anh chỉ còn chờ xin giấy phép lao động cho cầu thủ người Brasil.[36] Trước đó câu lạc bộ khác của Anh là Tottenham Hotspur đã gần như có được Willian khi đã đạt được thỏa thuận cá nhân và anh đã kiểm tra y tế tại White Hart Lane nhưng Chelsea với sức mạnh tài chính tốt hơn đã có được tiền vệ người Brasil này.[36][37]

Ngày 28 tháng 8 năm 2013, Willian chính thức ra mắt Chelsea với bản hợp đồng 5 năm sau khi được cấp giấy phép lao động. Tại Stamford Bridge, anh sẽ khoác số áo 22.[38] Anh có trận đầu chính thức đầu tiên cho Chelsea tại trận đấu UEFA Champions League với Basel nhưng có màn ra mắt không thành công và Chelsea đã để thua bất ngờ 1-2 vào ngày 18 tháng 9.[39] Phải đến ngày 6 tháng 10 anh mới có trận đấu đầu tiên tại Premier League khi vào sân thay cho Juan Mata ở phút 80 trận đấu với Norwich City. Tuy nhiên chỉ vài phút sau đó, anh đã có bàn thắng đầu tiên trong màu áo Chelsea với pha cứa lòng hoàn hảo bằng chân trái, ấn định chiến thắng 3-1 trước Norwich.[40]

Trong trận đấu đầu tiên của năm 2014 vào ngày 1 tháng 1, Willian khi được đưa vào sân từ băng ghế dự bị đã ghi bàn nâng tỉ số lên 2-0, giúp Chelsea giành thắng lợi chung cuộc 3-0 trước Southampton.[41] Willian bị đuổi khỏi sân sau khi nhận hai thẻ vàng trong trận thua bất ngờ 1-0 trước Aston Villa trong đó tình huống nhận thẻ thứ hai gây tranh cãi và huấn luyện viên José Mourinho đã đề xuất không để trọng tài chính trận này, Chris Foy, bắt chính những trận đấu còn lại của Chelsea.[42] Ngày 27 tháng 4, anh có bàn thắng cuối cùng trong mùa giải khi ấn định chiến thắng 2-0 trước Liverpool[43]

2014-15[sửa | sửa mã nguồn]

Willian trong trận đấu với Aston Villa vào tháng 9 năm 2014

Willian có được bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2014-15 với pha ghi bàn ấn định ấn định chiến thắng 3-0 trước Aston Villa tại vòng 6 Premier League 2014-15. Trong trận này, anh còn có một pha kiến tạo cho cầu thủ đồng hương Oscar lập công.[44] Anh có bàn thắng đầu tiên cho Chelsea tại UEFA Champions League trong trận Chelsea đánh bại Schalke 04 5-0 trên sân Veltins-Arena ngày 25 tháng 11 năm 2014.[45]

Willian trở thành người khai hỏa đầu tiên cho Chelsea tại Cúp FA 2014-15, trong chiến thắng 3-0 trước Watford.[46] Trong hiệp phụ trận bán kết lượt về League Cup với Liverpool ngày 28 tháng 1 năm 2015, từ quả đá phạt của Willian, Branislav Ivanović đã đánh đầu ghi bàn thắng đưa Chelsea vào chung kết.[47] Ngày 11 tháng 2 năm 2015, anh ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu với Everton tại Giải Ngoại hạng Anh ở phút thứ 89 bằng cú volley ngay sát vòng cấm.[48] Kết thúc mùa giải, Willian có được cú đúp danh hiệu

2015-16[sửa | sửa mã nguồn]

Willian mùa giải 2015-16

Willian trở thành cầu thủ đầu tiên của Chelsea ghi bàn tại UEFA Champions League 2015-16 sau cú đá phạt từ khoảng cách hơn 30 mét vào lưới Maccabi Tel Aviv. Trong trận này anh còn mang về một quả phạt đền nhưng đồng đội của anh không thực hiện thành công và rời sân sớm ngay trong hiệp 1 do chấn thương.[49] Ngày 26 tháng 9, anh lại tiếp tục có một pha lập công nữa từ đá phạt, lần này là ở phút 86, giúp Chelsea tránh được trận thua trước Newcastle United dù đã bị dẫn trước 2-0 trước đó.[50] Bốn ngày sau, anh có cú sút phạt thành bàn trong trận thua 1-2 trước Porto tại Champions League.[51] Willian có được cú sút phạt thành bàn thứ tư liên tiếp ở bốn trận gần nhất với pha mở tỉ số trong trận thua 1-3 trước Southampton.[52] Chuỗi trận liên tiếp ghi bàn từ đá phạt này của Willian kết thúc sau trận thắng 2-0 trước Aston Villa, nhưng trong trận này anh vẫn thể hiện phong độ ấn tượng với pha cướp bóng rồi kiến tạo cho đồng đội Diego Costa lập công và đồng thời được đánh giá là cầu thủ Chelsea chơi hay nhất trận.[53][54]

Willian một lần nữa trở thành người hùng của Chelsea trong trận đấu lượt về vòng bảng Champions League với Dynamo Kyiv, khi anh là người có đường chuyền khiến hậu vệ đối phương Aleksandar Dragović phản lưới nhà và ấn định chiến thắng 2-1 ở phút 83 bằng pha đá phạt trực tiếp.[55] Trong trận lượt về với Maccabi Tel Aviv, Willian tiếp tục có pha lập công khác bằng đá phạt.[56] Ngày 9 tháng 12, anh có bàn thắng thứ năm tại Champions League khi ấn định chiến thắng 2-0 trước Porto, đưa Chelsea vào vòng knockout với vị trí nhất bảng[57] và cá nhân anh được UEFA chọn vào danh sách đội hình tiêu biểu sau khi kết thúc sáu trận vòng bảng.[58]

Trong trận đấu đầu tiên của Chelsea trong năm 2016, Willian ghi một bàn thắng từ cú sút xa tuyệt đẹp và tạo điều kiện cho Diego Costa ấn định chiến thắng 3-0 trước Crystal Palace[59]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Willian với đội tuyển Brasil năm 2014

Willian ra mắt trong màu áo đội tuyển U-20 Brasil năm 2007 tại giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ và có trận ra mắt gặp Chile. Brasil đã vô địch giải đấu đó.[60] Cùng năm đó, anh tiếp tục được dự Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới tại Canada nhưng Brasil bị loại ở tứ kết bởi U-20 Tây Ban Nha. Anh chính thức được gọi vào đội tuyển Brasil năm 2011 trong trận giao hữu gặp Gabon.[61] Ngày 16 tháng 11 năm 2013, anh có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia trong chiến thắng 5-0 trước Honduras tại Miami, Florida.[62]

Willian có tên trong danh sách chính thức 23 cầu thủ Brasil tham dự World Cup 2014 ngay tại quê hương.[63] Tại giải đấu này, anh được ra sân 5/7 trận đấu của đội tuyển Brasil (trong đó có 4 lần vào sân từ ghế dự bị). Tại trận đấu vòng 16 đội với Chile, anh đá hỏng một quả phạt đền trong loạt sút luân lưu nhưng may mắn cho anh là Brasil vẫn giành thắng lợi chung cuộc 3-2.[64]

Tại Cúp bóng đá Nam Mỹ 2015, Willian có mặt trong đội hinh xuất phát ở cả bốn trận đấu của đội tuyển Brasil và có một đường chuyền thành bàn trong trận thắng 2-1 trước Venezuela tại vòng bảng.[65] Tuy nhiên, đội tuyển Brasil đã phải dừng bước ở tứ kết sau khi để thua Paraguay ở loạt sút luân lưu 11m sau khi hai đội hòa 0-0 sau 90 phút thi đấu chính thức. Tại lượt trận thứ hai vòng loại World Cup 2018, Willian đã lập cú đúp giúp Brasil đánh bại Venezuela 3-1.[66]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Willian không phải mẫu tiền vệ có khả năng ghi bàn đều đặn nhưng phong cách thi đấu của anh thiên về sáng tạo và kiến thiết.[67] Tại Shakhtar Donetsk, anh tỏa sáng trong đội hình đậm chất tấn công của huấn luyện viên Mircea Lucescu, thường chơi lệch trái trong sơ đồ 4-2-3-1.[68] Tốc độ và sức mạnh cũng là những ưu điểm của Willian.[67]

Khi chuyển sang Chelsea, Willian được đánh giá cao với khả năng hoạt động năng nổ với những đường đi bóng lắt léo, thường xuyên xâm nhập vòng cấm địa đối phương và có những tình huống dứt điểm uy lực tuy nhiên tỷ lệ dứt điểm trúng đích và hiệu suất ghi bàn thấp vẫn là điểm hạn chế của anh.[69] Từ mùa giải 2015-16, Willian nổi lên như một chuyên gia sút phạt khi đạt hiệu suất ghi bàn từ sút phạt rất cao.[70]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Corinthians
Shakhtar Donetsk
U-20 Brasil

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 15 tháng 5, 2016.[71][72]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu lục Khác Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Corinthians 2006 5 0 0 0 3 0 0 0 8 0
2007 15 2 4 0 14 0 0 0 33 2
Tổng cộng 20 2 4 0 17 0 0 0 41 2
Shakhtar Donetsk 2007–08 20 0 6 1 2 0 28 1
2008–09 29 5 5 1 17 2 1 0 52 8
2009–10 22 5 4 1 13 1 0 0 39 7
2010–11 28 3 4 2 10 2 1 1 43 8
2011–12 27 5 3 0 6 1 1 0 37 6
2012–13 14 2 2 1 6 4 0 0 22 7
Tổng cộng 140 20 24 6 54 10 3 1 221 37
Anzhi Makhachkala 2012–13 7 1 3 0 3 0 13 1
2013–14 4 0 0 0 0 0 4 0
Tổng cộng 11 1 3 0 3 0 17 1
Chelsea 2013–14 25 4 3 0 3 0 11 0 42 4
2014–15 36 2 2 1 4 0 7 1 49 4
2015–16 35 5 4 1 1 0 8 5 1 0 46 11
Tổng cộng 93 11 9 2 8 0 26 6 1 0 137 19
Tổng cộng sự nghiệp 260 34 40 8 25 0 83 16 4 1 412 59

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 12 tháng 6, 2016 [73]
Đội tuyển quốc gia Năm
Số lần ra sân Số bàn thắng
Brasil 2011 2 0
2013 2 1
2014 14 3
2015 14 2
2016 6 0
Tổng cộng 38 6

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 16 tháng 11, 2013 Sân vận động Sun Life, Miami, Hoa Kỳ  Honduras 4–0 5–0 Giao hữu
2. 3 tháng 6, 2014 Sân vân động động Serra Dourada, Goiânia, Brasil  Panama 4–0 4–0
3. 9 tháng 9, 2014 Sân vận động Metlife, New Jersey, Hoa Kỳ  Ecuador 1–0 1–0
4. 12 tháng 11, 2014 Sân vận động Şükrü Saracoğlu, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Thổ Nhĩ Kỳ 3–0 4–0
5. 13 tháng 10, 2015 Sân vận động Castelão, Fortaleza, Brasil  Venezuela 1–0 3–1 Vòng loại World Cup 2018
6. 2–0

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Willian special matches”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ [1]
  3. ^ “FC Shakhtar signed Willian”. Shakhtar Donetsk. Ngày 23 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  4. ^ “Shakhtar vs AC Milan 0–3”. Ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  5. ^ “Ukraine 2007/08”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  6. ^ “Shakhtar vs Dynamo 1–1”. Ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  7. ^ “Dinamo Zagreb vs Shakhtar 1–3”. Ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  8. ^ “Shakhtar vs Zorya 3–1”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  9. ^ “Shakhtar vs Dynamo 1–0”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  10. ^ “Shakhtar vs Chornomorets”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  11. ^ “Shakhtar vs Werder Bremen 2–1”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  12. ^ “Odesa vs Shakhtar 1–6”. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012. 
  13. ^ “Club Brugge vs Shakhtar 1–4”. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012. 
  14. ^ “Ukraine 2009/10”. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2012. 
  15. ^ “Shakhtar vs Tavriya 7–1”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  16. ^ “Shakhtar vs Kryvbas”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  17. ^ “Shakhtar vs Karpaty 1–0”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  18. ^ “Shakhtar vs Illichivets 1–0”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  19. ^ “Shakhtar vs Roma: match report”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  20. ^ “Dynamo vs Shakhtar 0–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  21. ^ “Ukraine 2010/11”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  22. ^ “Shakhtar vs Dynamo 1–3”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  23. ^ “Shakhtar vs Zenit 2–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  24. ^ “Illichivets vs Shakhtar”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ “Metalurh Donetsk vs Shakhtar 1–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  26. ^ “Ukraine 2011/12”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  27. ^ “Metalurh Donetsk vs Shakhtar 0–2”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  28. ^ “Volyn vs Shakhtar 0–4”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  29. ^ “Chornomorets vs Shakhtar 1–5”. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  30. ^ Hà Uyên (ngày 8 tháng 11 năm 2012). “Chelsea thoát hiểm phút chót”. Vnexpress. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ “Chelsea miss out on Willian as Anzhi close in on deal”. Metro. Ngày 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  32. ^ “Anzhi signs Willian from Shakhtar”. Fox Sports. Ngày 1 tháng 2 năm ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  33. ^ “Виллиан выбрал номера 10 и 88” (bằng tiếng Nga). fcanji.ru. Ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013. 
  34. ^ “Willian delighted to sign for Anzhi Makhachkala”. Goal.com. Ngày 2 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2013. 
  35. ^ “Tottenham and Chelsea transfer target Willian poised for bargain move as Anzhi slash budget”. Daily Mirror. Ngày 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  36. ^ a ă Hữu Hải (ngày 25 tháng 8 năm 2013). “Chelsea xác nhận đã có Willian”. Bóng đá số. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  37. ^ Nguyễn Huy (ngày 24 tháng 8 năm 2013). “Vào cuộc muộn, Chelsea vẫn "cuỗm" được Willian từ tay Tottenham”. Dân Trí. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  38. ^ Anh Tuấn (ngày 28 tháng 8 năm 2013). “Có giấy phép lao động, Willian đã là người của Chelsea”. Bóng Đá +. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013. 
  39. ^ “Thua Basel, Mourinho chỉ trích học trò”. Goal.com. Ngày 19 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2013. 
  40. ^ “Willian "mở tài khoản" tại Chelsea bằng siêu phẩm”. Bóng Đá +. Ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2013. 
  41. ^ “Southampton 0-3 Chelsea: Đẳng cấp của Mourinho”. Bóng Đá +. Ngày 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2014. 
  42. ^ “Mourinho questions whether Foy should ever officiate Chelsea again after Willian and Ramires red cards during Villa defeat”. Mail Online. Ngày 16 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014. 
  43. ^ “Liverpool 0-2 Chelsea”. BBC Sports. Ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014. 
  44. ^ “CHELSEA 3 ASTON VILLA 0: THỐNG KÊ SAU TRẬN ĐẤU”. Chelseafc.com.vn. Ngày 27 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2014. 
  45. ^ “Schalke 0-5 Chelsea”. BBC Sports. Ngày 25 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2014. 
  46. ^ “Chelsea 3-0 Watford: Willian, Loic Remy and Kurt Zouma on target as Chelsea reach FA Cup fourth round... and Jose Mourinho APOLOGISES to referee following second half penalty claim”. Mail Online. 5 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 
  47. ^ McNulty, Phil (ngày 27 tháng 1 năm 2015). “Chelsea 1-0 Liverpool”. BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  48. ^ “Chelsea 1-0 Everton: Willian leaves it late to break down 10-man Toffees after Gareth Barry sees red... but will Branislav Ivanovic be banned for 'bite' on James McCarthy?”. Mail Online. Ngày 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  49. ^ Cryer, Andy (ngày 17 tháng 9 năm 2015). “Chelsea 4–0 Maccabi Tel Aviv”. BBC Sport. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  50. ^ “Newcastle 2-2 Chelsea”. BBC Sport. Ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2015. 
  51. ^ “Porto 2-1 Chelsea: Ngày về đắng ngắt của Mourinho”. BBC Sport. Ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  52. ^ “Chelsea 1-3 Southampton”. BBC Sport. Ngày 3 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  53. ^ “Chelsea 2-0 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 17 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  54. ^ “Willian: Vai diễn phụ vươn tầm kép chính ở Chelsea”. Bóng Đá +. Ngày 19 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  55. ^ “Chelsea 2-1 Dynamo Kiev: Willian scores stunning free-kick to rescue crucial Champions League victory for Jose Mourinho's side after Aleksandar Dragovic had scored at both ends”. Mail Online. Ngày 4 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  56. ^ Rose, Gary (24 tháng 11 năm 2015). “M'bi Tel Aviv 0-4 Chelsea”. BBC Sport. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 
  57. ^ “Chelsea 2-0 FC Porto”. BBC Sport. 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 
  58. ^ “Champions League team of the group stage: Cristiano Ronaldo leads UEFA XI with just two Premier League stars making the cut”. Mail Online. Ngày 2015-12-15. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. 
  59. ^ “Crystal Palace 0-3 Chelsea”. BBC Sport. 3 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. 
  60. ^ “Willian - UEFA.com”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  61. ^ “Gabon 0 Brazil 2”. Goal.com. Ngày 10 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  62. ^ “Five-star Brazil hammer Honduras”. Eurosport Australia. Ngày 17 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013. 
  63. ^ “World Cup 2014: Which players are going to Brazil?”. BBC Sports. Ngày 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014. 
  64. ^ Ornstein, David (ngày 28 tháng 6 năm 2014). “Brazil 1-1 Chile”. BBC Sport. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2014. 
  65. ^ “Brazil 2-1 Venezuela Copa America 2015 RESULT: Goals from Thiago Silva and Roberto Firmino enough to see Dunga's side into quarter-finals”. Mail Online. Ngày 21 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2015. 
  66. ^ Vũ Mạnh (15 tháng 10 năm 2015). “Brazil thắng Venezuela 3-1: Khi Willian đóng vai của Neymar”. Thể thao và Văn hóa. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 
  67. ^ a ă “Những điều cần biết về Willian, người sắp cập bến Tottenham”. Bóng Đá +. Ngày 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  68. ^ Trần Trọng (ngày 22 tháng 8 năm 2013). “Willian: Không cần phải là Gareth Bale”. Thể thao và Văn hóa. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  69. ^ Quang Minh (ngày 22 tháng 2 năm 2014). “Chelsea cần nhiều hơn những bàn thắng của Willian”. Bóng Đá +. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2014. 
  70. ^ Phù Sa (27 tháng 11 năm 2015). “Willian biến sút phạt thành vũ khí đáng sợ nhất của Chelsea”. Dân Trí. Truy cập 2015-12-24ngày 29 tháng 9 năm 2014.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  71. ^ Willian Borges da Silva tại Soccerway. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2015.
  72. ^ “Willian Premier League Player Profile”. Premier League official website. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2015. 
  73. ^ “Willian”. NFT. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]