Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
FIFA U-20 World Cup
Năm bắt đầu 1977
Khu vực Quốc tế (FIFA)
Số đội tham dự 24
Đương kim vô địch  Serbia (lần thứ 2)
Đội tuyển thành công nhất  Argentina (6 lần)
Trang chủ FIFA.com
Soccerball current event.svg Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2015

Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới (tiếng Anh: FIFA U-20 World Cup), tên trước đây là Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới (tiếng Anh: FIFA World Youth Championship, là giải đấu bóng đá dành cho nam giới độ tuổi từ 20 trở xuống và được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA). Giải đấu được tổ chức 2 năm một lần và lần đầu tiên là vào năm 1977 ở Tunisia[1].

Trong lần thứ 16 giải được tổ chức, mới chỉ có 8 quốc gia từng vô địch. Argentina là đội vô địch nhiều nhất với 6 lần, theo sau đó là Brazil với 4 lần. Bồ Đào Nha vô địch 2 lần trong khi Ghana, Đức, Tây Ban Nha cùng những đội chỉ có trong quá khứ như Liên Xô hay Yugoslavia đều đã vô địch 1 lần.

Cũng có một giải đấu dành cho nữ, giải U20 nữ vô địch thế giới, bắt đầu tổ chức vào năm 2002 với tên "Giải vô địch nữ U19 thế giới" và có độ tuổi giới hạn là 19. Độ tuổi giới hạn cho giải đấu nữ được tăng lên thành 20 ở giải năm 2006, và giải đấu đổi tên thành "Cúp thế giới" vào năm 2007 để chuẩn bị cho sự kiện vào năm 2008.

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu này, cũng được biết tới với cái tên FIFA Coca-Cola Cup tới năm 1997, quy tụ 24 đội bóng ở vòng chung kết. 23 quốc gia, bao gồm cả đội đương kim vô địch, đều phải đá vòng loại ở sáu khu vực. Nước đăng cai nghiễm nhiêm được vào thẳng vòng bảng.

Khu vực Giải đấu
AFC (châu Á) Giải vô địch bóng đá U-19 châu Á
CAF (châu Phi) Giải vô địch bóng đá trẻ châu Phi
CONCACAF (Bắc Mĩ, Trung Mĩ và Caribbean) Giải vô địch bóng đá U-20 CONCACAF
CONMEBOL (Nam Mĩ) Giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ
OFC (châu Đại Dương) Giải vô địch bóng đá U-20 châu Đại Dương
UEFA (châu Âu) Giải vô địch bóng đá U19 châu Âu

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chủ nhà Chung kết Hạng ba Số đội tham dự
Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư
1977
Chi tiết
 Tunisia
Liên Xô
2–2 h.p.
(9–8 pen.)

México

Brasil
4–0
Uruguay
16
1979
Chi tiết
 Nhật Bản
Argentina
3–1
Liên Xô

Uruguay
1–1 h.p.
(5–3 pen.)

Ba Lan
16
1981
Chi tiết
 Úc
Tây Đức
4–0
Qatar

România
1–0
Anh
16
1983
Chi tiết
 México
Brasil
1–0
Argentina

Ba Lan
2–1h.p.
Hàn Quốc
16
1985
Chi tiết
 Liên Xô
Brasil
1–0h.p.
Tây Ban Nha

Nigeria
0–0 h.p.
(3–1 pen.)

Liên Xô
16
1987
Chi tiết
 Chile
Nam Tư
1–1 h.p.
(5–4 pen.)

Tây Đức

Đông Đức
2–2 h.p.
(3–1 pen.)

Chile
16
1989
Chi tiết
 Ả Rập Saudi
Bồ Đào Nha
2–0
Nigeria

Brasil
2–0
Hoa Kỳ
16
1991
Chi tiết
 Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha
0–0 h.p.
(4–2 pen.)

Brasil

Liên Xô
1–1 h.p.
(5–4 pen.)

Úc
16
1993
Chi tiết
 Úc
Brasil
2–1
Ghana

Anh
2–1
Úc
16
1995
Chi tiết
 Qatar
Argentina
2–0
Brasil

Bồ Đào Nha
3–2
Tây Ban Nha
16
1997
Chi tiết
 Malaysia
Argentina
2–1
Uruguay

Cộng hòa Ireland
2–1
Ghana
24
1999
Chi tiết
 Nigeria
Tây Ban Nha
4–0
Nhật Bản

Mali
1–0
Uruguay
24
2001
Chi tiết
 Argentina
Argentina
3–0
Ghana

Ai Cập
1–0
Paraguay
24
2003
Chi tiết
 UAE
Brasil
1–0
Tây Ban Nha

Colombia
2–1
Argentina
24
2005
Chi tiết
 Hà Lan
Argentina
2–1
Nigeria

Brasil
2–1
Maroc
24

Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chủ nhà Chung kết Tranh hạng ba Số đội tham dự
Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư
2007
Chi tiết
 Canada
Argentina
2–1
Cộng hòa Séc

Chile
1–0
Áo
24
2009
Chi tiết
 Ai Cập
Ghana
0–0 h.p.
(4–3 pen.)

Brasil

Hungary
1–1 h.p.
(2–0 pen.)

Costa Rica
24
2011
Chi tiết
 Colombia
Brasil
3–2 h.p.
Bồ Đào Nha

México
3–1
Pháp
24
2013
Chi tiết
 Thổ Nhĩ Kỳ
Pháp
0–0 h.p.
(4–1 pen.)

Uruguay

Ghana
3–0
Iraq
24
2015
Chi tiết
 New Zealand
Serbia
2–1 h.p.
Brasil

Mali
3–1
Sénégal
24
2017
Chi tiết
 Hàn Quốc 24

Sự thể hiện của các đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là 28 quốc gia đã vào được tối thiểu là vòng bán kết giải vô địch U20 thế giới. Argentina là đội tuyển thành công nhất, dẫn đầu với 6 chức vô địch, 7 lần vào chung kết và 1 lần về đích ở vị trí thứ tư.

Đội tuyển Vô địch Á quân Hạng ba Hạng tư
 Argentina 6 (1979, 1995, 1997, 2001, 2005, 2007) 1 (1983) 1 (2003)
 Brasil 5 (1983, 1985, 1993, 2003, 2011) 3 (1991, 1995, 2009, 2015) 3 (1977, 1989, 2005)
 Bồ Đào Nha 2 (1989, 1991) 2 (1995, 2011)
 Serbia 1 (19871, 2015)
 Ghana 1 (2009) 2 (1993, 2001) 1 (2013) 1 (1997)
 Tây Ban Nha 1 (1999) 2 (1985, 2003) 1 (1995)
 Liên Xô 1 (1977) 1 (1979) 1 (1991) 1 (1985)
 Đức 1 (19812) 1 (19872) 1 (19873)
 Pháp 1 (2013) 1 (2011)
 Uruguay 1 (1997, 2013) 1 (1979) 2 (1977, 1999)
 Nigeria 2 (1989, 2005) 1 (1985)
 México 1 (1977) 1 (2011)
 Qatar 1 (1981)
 Nhật Bản 1 (1999)
 Cộng hòa Séc 1 (2007)
 Mali 1 (1999, 2015)
 Ba Lan 1 (1983) 1 (1979)
 Anh 1 (1993) 1 (1981)
 Chile 1 (2007) 1 (1987)
 România 1 (1981)
 Cộng hòa Ireland 1 (1997)
 Ai Cập 1 (2001)
 Colombia 1 (2003)
 Hungary 1 (2009)
 Úc 2 (1991, 1993)
 Hàn Quốc 1 (1983)
 Hoa Kỳ 1 (1989)
 Paraguay 1 (2001)
 Maroc 1 (2005)
 Áo 1 (2007)
 Costa Rica 1 (2009)
 Iraq 1 (2013)
 Sénégal 1 (2015)
  • Chú thích
1 Tư cách là Nam Tư
2 Tư cách là Tây Đức
3 Tư cách là Đông Đức

Sự thể hiện của các đội tuyển trong khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Mọi khu vực trừ châu Đại Dương đều đã có đại diện góp mặt trong trận chung kết. Tới tới nay, Nam Mỹ đang dẫn đầu với 11 chức vô địch, theo sau là châu Âu với 8 chức vô địch và châu Phi với 1 danh hiệu. Các đội tuyển từ châu ÁBắc Mỹ đã 3 lần vào chung kết, nhưng đều gây thất vọng. Vị trí thứ tư tính tới thời điểm này đang là thành tích tốt nhất của châu Đại Dương, họ giành được vị trí này vào năm 1993.

Liên đoàn (khu vực) Màn trình diễn
CONMEBOL (Nam Mĩ) 11 danh hiệu, của Argentina (6) và Brasil (5)
UEFA (Châu Âu) 8 danh hiệu, bởi Serbia (2), Bồ Đào Nha (2), Tây Ban Nha (1), Liên Xô (1), Đức (1) và Pháp (1)
CAF (Châu Phi) 1 danh hiệu, bởi Ghana
AFC (Châu Á) Về nhì (Nhật Bản, 1999), Về nhì (Qatar, 1981)
CONCACAF (Bắc Mĩ, Nam Mĩ và Caribbean) Về nhì (Mexico, 1977)
OFC (châu Đại Dương) Về thứ tư (Úc, 19911993)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Quả bóng vàng của Adidas[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Quả bóng vàng của adidas được trao cho cầu thủ thi đấu nổi bật nhất giải đấu. Nó được bầu chọn bởi giới truyền thông.

Giải đấu Người giành giải
1977 Tunisia Liên Xô Volodymyr Bessonov
1979 Nhật Argentina Diego Maradona
1981 Úc România Romulus Gabor
1983 Mexico Brasil Geovani
1985 Liên Xô Brasil Paulo Silas
1987 Chile Nam Tư Robert Prosinečki
1989 Arab Saudi Brasil Bismarck
1991 Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Emílio Peixe
1993 Úc Brasil Adriano
1995 Qatar Brasil Caio
1997 Malaysia Uruguay Andrés Nicolás Olivera
1999 Nigeria Mali Seydou Keita
2001 Argentina Argentina Javier Saviola
2003 UAE Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Ismail Matar
2005 Hà Lan Argentina Lionel Messi
2007 Canada Argentina Sergio Agüero
2009 Ai Cập Ghana Dominic Adiyiah
2011 Colombia Brasil Henrique
2013 Thổ Nhĩ Kỳ Pháp Paul Pogba
2013 New Zealand Mali Adama Traore

Giải thưởng Chiếc giày vàng của Adidas[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Chiếc giày vàng của adidas được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải đấu. Nếu có nhiều hơn một cầu thủ ghi cùng một số bàn thắng, họ sẽ chọn cầu thủ theo số lần kiến tạo nhiều nhất trong giải đấu.

Giải đấu Người giành giải Bàn thắng
1977 Tunisia Brasil Guina 4
1979 Nhật Bản Argentina Ramón Díaz 8
1981 Úc Úc Mark Koussas 4
1983 Mexico Brasil Geovani 6
1985 Liên Xô Tây Ban Nha Sebastián Losada 3
1987 Chile Tây Đức Marcel Witeczek 7
1989 Ả Rập Saudi Liên Xô Oleg Salenko 5
1991 Bồ Đào Nha Liên Xô Sergei Sherbakov 5
1993 Úc Colombia Henry Zambrano 3
1995 Qatar Tây Ban Nha Joseba Etxeberria 7
1997 Malaysia Brasil Adaílton Martins Bolzan 10
1999 Nigeria Tây Ban Nha Pablo Couñago 5
2001 Argentina Argentina Javier Saviola 11
2003 UAE Hoa Kỳ Eddie Johnson 4
2005 Hà Lan Argentina Lionel Messi 6
2007 Canada Argentina Sergio Agüero 6
2009 Ai Cập Ghana Dominic Adiyiah 8
2011 Colombia Brasil Henrique 5
2013 Thổ Nhĩ Kỳ Ghana Ebenezer Assifuah 6
2015 New Zealand Ukraina Viktor Kovalenko 5

Giải thưởng Găng tay vàng của Adidas[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Găng tay vàng của adidas được trao cho thủ môn xuất sắc nhất giải đấu.

Giải đấu Người giành giải
2009 Ai Cập Costa Rica Esteban Alvarado
2011 Colombia Bồ Đào Nha Mika
2013 Thổ Nhĩ Kỳ Uruguay Guillermo de Amores
2015 New Zealand Serbia Predrag Rajković

Giải FIFA Fair Play[sửa | sửa mã nguồn]

FIFA Fair Play là giải thưởng được trao cho đội chơi đẹp nhất giải đấu và được bầu chọn bởi Hội đồng Fair Play của FIFA.

Giải đấu Đội giành giải
1977 Tunisia  Brasil
1979 Nhật Bản  Ba Lan
1981 Úc  Úc
1983 Mexico Hàn Quốc Hàn Quốc
1985 Liên Xô  Colombia
1987 Chile  Đức
1989 Ả Rập Saudi  Hoa Kỳ
1991 Bồ Đào Nha  Liên Xô
1993 Úc  Anh
1995 Qatar  Nhật Bản
1997 Malaysia  Argentina
1999 Nigeria  Croatia
2001 Argentina  Argentina
2003 UAE  Colombia
2005 Hà Lan  Colombia
2007 Canada  Nhật Bản
2009 Ai Cập  Brasil
2011 Colombia  Nigeria
2013 Thổ Nhĩ Kỳ  Tây Ban Nha
2015 New Zealand  Ukraina

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]