Giải vô địch bóng đá nữ thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
Năm bắt đầu 1991
Khu vực Quốc tế (FIFA)
Số đội tham dự 24 (vòng chung kết)
Đương kim vô địch  Hoa Kỳ (Danh hiệu thứ 3)
Đội tuyển thành công nhất  Hoa Kỳ
(3 lần)
Trang chủ Trang chính thức

Cúp bóng đá nữ thế giới hay Giải vô địch bóng đá nữ thế giới (tiếng Anh: FIFA Women's World Cup) là giải đấu bóng đá do Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) tổ chức cho tất cả các đội tuyển bóng đá nữ quốc gia của những nước hội viên FIFA. Giải đấu được đăng cai bốn năm một lần kể từ năm 1991 khi giải đấu đầu tiên, khi đó được gọi là Women's World Championship, được tổ chức ở Trung Quốc.

Theo thể thức hiện nay, các đội tuyển quốc gia tranh nhau 23 suất trong thời gian thi đấu vòng loại kéo dài ba năm (đội chủ nhà nghiễm nhiên được trao suất còn lại). Vòng chung kết chính thức được diễn ra tại các địa điểm thi đấu của nước chủ nhà trong khoảng thời gian gần một tháng.

Bảy kì World Cup đã qua chứng kiến sự lên ngôi của bốn đội tuyển quốc gia khác nhau, trong đó đội đoạt chức vô địch nhiều lần nhất là Hoa Kỳ (ba lần). Hoa Kỳ cũng là đội đương kim vô địch sau chiến thắng tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015 ở Canada.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1988 – 58 năm sau World Cup đầu tiên của nam vào năm 1930 — FIFA tổ chức giải đấu khách mời tại Trung Quốc với tính chất thử nghiệm để xem liệu việc tổ chức một kì World Cup nữ có khả thi hay không. Mười hai đội tuyển đã góp mặt trong giải đấu – bốn đội châu Âu, ba đội châu Á, hai đội Bắc Trung Mỹ và Caribe, còn lại Nam Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương mỗi khu vực có một đội tham dự. Đội đương kim vô địch châu Âu Na Uy đánh bại Thụy Điển với tỉ số 1–0 trong trận chung kết trong khi Brasil giành vị trí thứ ba sau khi chiến thắng trước đội chủ nhà trong loạt luân lưu. Sự thành công của giải đấu là tiền để để FIFA chính thức phê chuẩn cho sự ra đời của World Cup bóng đá nữ, tổ chức lần đầu năm 1991 một lần nữa tại Trung Quốc.[1] Giải đấu có sự tham gia của 12 đội với nhà vô địch là đội tuyển Mỹ khi đánh bại Na Uy 2-1 trong trận đấu cuối cùng.

giải đấu thứ ba năm 1999, một trong những khoảnh khắc đáng nhớ trong lịch sử giải đấu là màn ăn mừng của hậu vệ đội Mỹ Brandi Chastain sau khi thực hiện thành công quả sút luân lưu quyết định trước Trung Quốc. Cô đã cởi bỏ chiếc áo thi đấu và vẫy chiếc áo vòng quanh đầu (giống như nam giới hay làm), để lộ ra cơ bắp và áo nịt ngực vận động của cô. Trận chung kết năm 1999 trên sân Rose BowlPasadena, California thu hút lượng khán giả kỉ lục 90.185 người cho một sự kiện thể thao nữ.[2]

Vào năm 2003 ban đầu Trung Quốc là nước được lựa chọn tổ chức, tuy nhiên giải đấu phải rời sang Hoa Kỳ do dịch SARS hoành hành tại khu vực châu Á.[3] Bù lại, Trung Quốc được giữ quyền đăng cai 2007. Đức tổ chức kì giải tiếp theo vào năm 2011, sau khi được trao quyền đăng cai vào tháng 10 năm 2007. Vào tháng ba năm 2011, FIFA trao cho Canada quyền tổ chức Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015, giải đấu đầu tiên có 24 đội tham dự vòng chung kết.[4] Trong giải đấu này Formiga của Brasil và Sawa Homare của Nhật Bản lập kỷ lục sáu lần tham dự các kì World Cup,[5] thành tích mà chưa từng một cầu thủ nào (cả nam hay nữ) từng làm được. Christie Rampone là cầu thủ nữ lớn tuổi nhất từng thi đấu trong một trận đấu khi cô 39 tuổi, 11 tháng, 23 ngày.[6]

Thể thức[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Để có mặt trong vòng chung kết World Cup, các đội tuyển quốc gia phải tham gia thi đấu loại. Hầu hết các liên đoàn châu lục trực thuộc FIFA đều lấy các giải vô địch nữ châu lục làm vòng loại World Cup, ngoại trừ Liên đoàn bóng đá châu Âu tổ chức vòng loại riêng kể từ vòng chung kết 1999. Nước chủ nhà sẽ được đặc cách vào thẳng vòng chung kết. Số suất dự vòng chung kết phụ thuộc vào trình độ và thành tích của các châu lục: châu Âu có 8 suất châu Á 5 suất; Bắc, Trung Mỹ và Caribe 3,5 suất; châu Phi 3 suất; Nam Mỹ 2,5 suất và châu Đại Dương chỉ có một suất duy nhất. Đội xếp thứ tư tại Cúp Vàng nữ CONCACAF (Bắc, Trung Mỹ và Caribe) sẽ gặp đội thứ ba Copa América Femenina (Nam Mỹ) trong trận play-off tranh vé vớt hai lượt đi và về.

Vòng chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết có sự góp mặt của 24 đội tuyển quốc gia, thi đấu trong vòng một tháng tại quốc gia chủ nhà. Giải gồm hai giai đoạn: vòng bảng và vòng loại trực tiếp.[7]

Tại vòng bảng, các đội được phân thành 6 bảng, mỗi bảng 4 đội. Các bảng thi đấu vòng tròn một lượt tính điểm. Ba điểm cho một trận thắng (tại vòng chung kết đầu tiên là hai điểm cho một trận thắng), hòa được một điểm, thua không được điểm nào. Các trận cuối vòng bảng được thi đấu cùng giờ để tránh tiêu cực và tạo sự công bằng khi thi đấu. Hai đội đứng đầu mỗi bảng và 4 đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất được quyền vào vòng knock-out 16 đội.

Các tiêu chí xếp hạng vòng bảng theo thứ tự ưu tiên sau:[7]

  1. Tổng số điểm
  2. Hệ số bàn thắng bại
  3. Số bàn thắng ghi được
  4. Nếu các tiêu chí trên không đủ để phân hạng các đội, thứ hạng sẽ được xác định như sau:
    1. Số điểm khi các đội đối đầu với nhau
    2. Hiệu số bàn thắng bại khi các đội đối đầu với nhau
    3. Số bàn thắng ghi được khi các đội đối đầu với nhau
  5. Nếu tất cả các tiêu chí trên vẫn không thể xác định thứ hạng các đội thì sẽ tiến hành bốc thăm

Trong vòng loại trực tiếp, các đội sẽ thi đấu một trận duy nhất xác định đội vào vòng sau; hiệp phụ và loạt luân lưu sẽ lần lượt được sử dụng để quyết định đội thắng nếu thời gian chính thức kết thúc với tỉ số hòa. Giai đoạn bắt đầu bằng vòng knock-out 16 đội, sau đó đến tứ kết, bán kết, trận tranh hạng ba (giữa hai đội thua bán kết) và cuối cùng là trận chung kết.[7]

Các trận chung kết và tranh hạng ba[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chủ nhà Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư Số đội
1991  Trung Quốc
Hoa Kỳ
2–1
Na Uy

Thụy Điển
4–0
Đức
12
1995 Flag of Sweden.svg Thụy Điển
Na Uy
2–0
Đức

Hoa Kỳ
2–0
Trung Quốc
12
1999  Hoa Kỳ
Hoa Kỳ
0–0 (h.p.)
(5–4) (pen)

Trung Quốc

Brasil
0–0 [A]
(5–4) (pen)

Na Uy
16
2003  Hoa Kỳ
Đức
2–1
(b.t.v)

Thụy Điển

Hoa Kỳ
3–1
Canada
16
2007  Trung Quốc
Đức
2–0
Brasil

Hoa Kỳ
4–1
Na Uy
16
2011 Flag of Germany.svg Đức
Nhật Bản
2–2 (h.p.)
(3–1) (pen)

Hoa Kỳ

Thụy Điển
2–1
Pháp
16
2015  Canada
Hoa Kỳ
5–2
Nhật Bản

Anh
1–0 (h.p.)
Đức
24
2019  Pháp
24

A Không thi đấu hiệp phụ.[8]

Bảng thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

# Đội Vô địch Á quân Hạng ba Hạng tư Tổng
1  Hoa Kỳ 3 (1991, 1999, 2015) 1 (2011) 3 (1995, 2003, 2007) 7
2  Đức 2 (2003, 2007) 1 (1995) 2 (1991, 2015) 5
3  Na Uy 1 (1995) 1 (1991) 2 (1999, 2007) 4
4  Nhật Bản 1 (2011) 1 (2015) 2
5  Thụy Điển 1 (2003) 2 (1991, 2011) 3
6  Brasil 1 (2007) 1 (1999) 2
7  Trung Quốc 1 (1999) 1 (1995) 2
8  Anh 1 (2015) 1
9  Canada 1 (2003) 1
 Pháp 1 (2011) 1

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi mỗi kì World Cup kết thúc, các giải thưởng sẽ được trao cho các cầu thủ và đội tuyển với màn trình diễn xuất sắc nhất. Hiện nay có năm giải thưởng:

  • Giải thưởng Quả bóng vàng (Golden Ball) cho cầu thủ xuất sắc nhất, được xác định bởi phiếu bầu của các phóng viên truyền thông; Quả bóng bạcQuả bóng đồng được trao lần lượt cho các cầu thủ xếp thứ hai và thứ ba trong cuộc bầu chọn.
  • Giải thưởng Chiếc giày vàng (Golden Boot hay Golden Shoe) cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất. Các giải Chiếc giày bạcChiếc giày đồng lần lượt được trao cho các cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai và thứ ba.
  • Giải thưởng Găng tay vàng cho thủ môn xuất sắc nhất, được quyết định bởi Nhóm nghiên cứu kĩ thuật của FIFA
  • Giải thưởng Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất (Best Young Player Award) cho cầu thủ trẻ dưới 21 tuổi.
  • Giải thưởng Giải Fair Play (FIFA Fair Play Award) cho đội có tinh thần fair play nhất, dựa trên số điểm và tiêu chí của Tiểu ban Fair Play của FIFA.
  • Đội hình tiêu biểu (All-Star Team) bao gồm 23 cầu thủ xuất sắc giải đấu.

Kỷ lục và thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Marta của Brasil là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất qua các kỳ World Cup.
Xếp hạng Tên Giải Tổng
Trung Quốc
1991
Thụy Điển
1995
Hoa Kỳ
1999
Hoa Kỳ
2003
Trung Quốc
2007
Đức
2011
Canada
2015
1 Brasil Marta 3 7 4 1 15
2 Đức Birgit Prinz 1 1 7 5 0 14
Hoa Kỳ Abby Wambach 3 6 4 1 14
4 Hoa Kỳ Michelle Akers 10 0 2 12
5 Trung Quốc Tôn Văn 1 2 7 1 11
Đức Bettina Wiegmann 3 3 3 2 11
7 Na Uy Ann Kristin Aarønes 6 4 10
Đức Heidi Mohr 7 3 10
9 Na Uy Linda Medalen 6 2 1 9
Na Uy Hege Riise 1 5 3 0 9
Canada Christine Sinclair 3 3 1 2 9
12 Đức Kerstin Garefrekes 4 2 2 8
Hoa Kỳ Mia Hamm 2 2 2 2 8
Hoa Kỳ Kristine Lilly 0 3 2 2 1 8
Trung Quốc Lưu Ái Linh 4 1 3 8
Na Uy Marianne Pettersen 3 3 2 8
Đức Célia Šašić 2 6 8
Nhật Bản Sawa Homare 0 0 3 0 5 0 8
19 Brasil Cristiane 0 5 2 0 7
Úc Lisa De Vanna 4 1 2 7
Hoa Kỳ Carli Lloyd 0 1 6 7
Hoa Kỳ Tiffeny Milbrett 3 3 1 7
Brasil Sissi 0 7 7

Thi đấu nhiều vòng chung kết nhất (cầu thủ)[sửa | sửa mã nguồn]

Formiga và Sawa Homare là hai cầu thủ duy nhất xuất hiện tại 6 vòng chung kết. Formiga và Sawa Homare là hai cầu thủ duy nhất xuất hiện tại 6 vòng chung kết.
FormigaSawa Homare là hai cầu thủ duy nhất xuất hiện tại 6 vòng chung kết.
# Cầu thủ Số VCK tham dự
1 Brasil Formiga 6 (1995, 1999, 2003, 2007, 2011, 2015)
Nhật Bản Sawa Homare 6 (1995, 1999, 2003, 2007, 2011, 2015)
3 Hoa Kỳ Kristine Lilly 5 (1991, 1995, 1999, 2003, 2007)
Na Uy Bente Nordby 5 (1991*, 1995, 1999, 2003, 2007)
Đức Birgit Prinz 5 (1995, 1999, 2003, 2007, 2011)
Canada Karina LeBlanc 5 (1999*, 2003, 2007*, 2011, 2015*)
Đức Nadine Angerer 5 (1999*, 2003*, 2007, 2011, 2015)
Hoa Kỳ Christie Rampone 5 (1999, 2003, 2007, 2011, 2015)

*Không thi đấu nhưng có tên trong danh sách đăng ký.

Thi đấu nhiều trận nhất (cầu thủ)[sửa | sửa mã nguồn]

# Cầu thủ Số trận
1 Hoa Kỳ Kristine Lilly 30
2 Hoa Kỳ Abby Wambach 25
3 Brasil Formiga 24
Hoa Kỳ Julie Foudy 24
Đức Birgit Prinz 24
Nhật Bản Sawa Homare 24
7 Hoa Kỳ Joy Fawcett 23
Hoa Kỳ Mia Hamm 23
9 Na Uy Bente Nordby 22
Na Uy Hege Riise 22
Đức Bettina Wiegmann 22

Huấn luyện viên và đội trưởng đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Huấn luyện viên Đội trưởng
Trung Quốc 1991 Hoa Kỳ Anson Dorrance Hoa Kỳ April Heinrichs
Thụy Điển 1995 Na Uy Even Pellerud Na Uy Heidi Støre
Hoa Kỳ 1999 Hoa Kỳ Tony DiCicco Hoa Kỳ Carla Overbeck
Hoa Kỳ 2003 Đức Tina Theune Đức Bettina Wiegmann
Trung Quốc 2007 Đức Silvia Neid Đức Birgit Prinz
Đức 2011 Nhật Bản Sasaki Norio Nhật Bản Sawa Homare
Canada 2015 Anh Jill Ellis Hoa Kỳ Christie Rampone

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ FIFA KOs Greece. El Mundo Deportivo. 1 tháng 7, 1988
  2. ^ “Women's World Cup History”. The Sports Network. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  3. ^ Koppel, Naomi (ngày 3 tháng 5 năm 2003). “FIFA moves Women's World Cup from China because of SARS” (bằng tiếng Anh). USA Today. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  4. ^ Molinaro, John F. (ngày 3 tháng 3 năm 2011). “Canada gets 2015 Women's World Cup of soccer”. CBC Sports. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2011. 
  5. ^ “Japan legend Sawa makes cut for sixth World Cup”. Reuters. Ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  6. ^ “USWNT'S Christie Rampone Is Now The Oldest Player To Appear In The Women's World Cup”. Huffington Post. Ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  7. ^ a ă â “Regulations FIFA Women’s World Cup Canada 2015” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015. 
  8. ^ “Brazil takes third”. SI/CNN. Ngày 10 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]