Giải thưởng FIFA Fair Play

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Những cậu bé nhặt bóng ở Somalia cầm biểu ngữ FIFA Fair Play.

Giải thưởng FIFA Fair Play là giải thưởng FIFA công nhận hành vi gương mẫu mà khuyến khích tinh thần fair play và nhân văn trong bóng đá trên khắp thế giới. Lần đầu giải được trao năm 1987, nó được trao cho cá nhân (bao gồm cả đã mất), các đội tuyển, cổ động viên, khán giải, liên đoàn/hiệp hội bóng đá và thậm chí toàn bộ cộng đồng bóng đá. Một hoặc nhiều giải thưởng được trao hàng năm, với việc có ít nhất một người nhận giải mỗi năm trừ năm 1994, khi không có giải thưởng được trao.

Giành giải[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn[1]

Năm Giành giải Lý do Ghi chú
1987 Scotland Cổ động viên của Dundee United Cư xử đẹp của người hâm mộ đối với đội chiến thắng IFK Göteborg tại chung kết UEFA Cup [2]
1988 Đức Frank Ordenewitz Tinh thần thể thao khi thừa nhận chơi bóng bằng tay trong một tình huống phạt đền ở trận đấu giữa 1. FC KölnWerder Bremen. [b]
Hàn Quốc Khán giả của giải bóng đá Olympic Seoul 1988 Các cổ động viên để lại ấn tượng lâu dài với cách cổ vũ của họ.
1989 Trinidad và Tobago Khán giả của Trinidad và Tobago Tinh thần thể thao mặc dù đội nhà để thua Hoa Kỳ trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá CONCACAF 1989
1990 Anh Gary Lineker Sự nghiệp 15 năm cầu thủ chuyên nghiệp không nhận bất kỳ một chiếc thẻ vàng hay đỏ.
1991 Tây Ban Nha Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha Sự gương mẫu của chính phủ, truyền thông, trường học, các nghệ sĩ và các nhà tài trợ tham gia vào các hoạt động fair play.
Brasil Jorginho Có cư xử mẫu mẫu và sự nghiệp độc đáo cả trong và ngoài sân cỏ.
1992 Bỉ Hiệp hội bóng đá Bỉ Thúc đẩy fair play với chiến dịch ”Football in Peace“ và dự án viện trợ ”Casa Hogar“ ở Toluca, Mexico.
1993 Hungary Nándor Hidegkuti Tôn vinh hành vi mẫu mực khi còn là cầu thủ cũng như huấn luyện viên
Zambia Liên đoàn bóng đá Zambia Những nỗ lực tổ chức lại đội tuyển quốc gia sau thảm họa hàng không đội tuyển bóng đá quốc gia Zambia 1993.
1994 Không trao
1995 Pháp Jacques Glassmann Thái độ can đảm trong trường hợp hối lộ giữa ValenciennesMarseille.
1996 Liberia George Weah Thể hiện tình yêu đích thực của mình trong các trận đấu và phát đi các thông điệp về Fair Play cho công chúng một cách rộng rãi nhất.
1997 Cộng hòa Ireland Cổ động viên Ireland Hành xử mẫu mực, đặc biệt trong trận đấu vòng loại World Cup với Bỉ. [3][l]
Slovakia Jozef Zovinec 60 năm đá bóng nghiệp dư không nhận một chiếc thẻ vàng.
Hoa Kỳ Julie Foudy Nỗ lực chống lại bóc lột sức lao động trẻ em, trở thành phụ nữ đầu tiên và cũng là người Mỹ đầu tiên giành giải thưởng.
1998 Hoa Kỳ Liên đoàn bóng đá Mỹ Thể hiện tinh thần thể thao trong trận đấu tại World Cup, mặc dù có căng thẳng chính trị trong gần 20 năm.
Iran Liên đoàn bóng đá Iran
Bắc Ireland Hiệp hội bóng đá Bắc Ireland của Bắc Ireland Nỗ lực hòa giải cộng đồng Công giáoTin Lành trong trận đấu tại Belfast giữa CliftonvilleLinfield
1999 New Zealand Cộng đồng bóng đá New Zealand Nỗ lực góp phần tạo nên thành công rực rỡ của Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới 1999.
2000 Cộng hòa Nam Phi Lucas Radebe Hoạt động trẻ em ở Nam Phi và đấu tranh chống phân biệt chủng tộc trong bóng đá.
2001 Ý Paolo Di Canio Dùng tay khống chế lại bóng, khi thủ môn đối phương Paul Gerrard đang bị chấn thương trên sân.
2002 Nhật BảnHàn Quốc Cộng đồng bóng đá Nhật BảnHàn Quốc Cho thấy tinh thần đoàn kết và thượng võ khi cùng nhau tổ chức World Cup 2002.
2003 Scotland Cổ động viên của Celtic Cư xử mẫu mực trong trận chung kết UEFA 2003, mặc dù Celtic để thua 3–2 trong hiệp phụ trước Porto.
2004 Brasil Liên đoàn bóng đá Brazil Tổ chức “Trậnn đấu vì hòa bình” thi đấu giữa đội tuyển quốc gia BrazilHaiti, khi vé được đổi bằng súng.
2005 Peru Cộng đồng của Iquitos, Peru Toàn tâm ủng hộ Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2005, và góp phần vào bóng đá.
2006 Đức Cổ động viên của World Cup 2006. Tinh thần fair play, tôn trọng lẫn nhau và tạo nên một không khí đặc biệt cả trong lẫn ngoài sân cỏ.
2007 Tây Ban Nha FC Barcelona Từ chối những hợp đồng tài trợ lớn trên áo đấu để gắn logo của UNICEF. [4]
2008 Thổ Nhĩ Kỳ Liên đoàn bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ Nỗ lực tạo nên các cuộc đối thoại giữa hai nước mà không có bất kỳ mối quan hệ ngoại giao nào. [5]
Armenia Liên đoàn bóng đá Armenia
2009 Anh Bobby Robson Truy tặng giải thưởng vì tinh thần fair play trong cả sự nghiệp cầu thủ lẫn huấn luyện viên. [6]
2010 Haiti Đội tuyển bóng đá nữ U-17 quốc gia Haiti Nỗ lực vực dậy sau động đất Haiti 2010. [7]
2011 Nhật Bản Hiệp hội bóng đá Nhật Bản Nỗ lực vực dậy sau động đất Nhật Bản 2011, khi giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2011.
2012 Uzbekistan Liên đoàn bóng đá Uzbekistan Thể hiện tinh thần fair play, cạnh tranh không loại bỏ lẫn nhau mà bổ sung cho nhau.
2013 Afghanistan Liên đoàn bóng đá Afghanistan Tinh thần đoàn kết trong bóng đá chống lại sự bất hòa sau hậu quả của chiến tranh, rối loạn và xung đột. [8]
2014 Brasil Các tình nguyện viên FIFA World Cup 2014 Cho những việc họ đã làm, hỗ trợ không biết mệt mỏi, sự nhiệt tình và niềm đam mê cho các trận đấu.
2015   Tất cả các tổ chức bóng đá hỗ trợ người tị nạn Các hoạt động để hỗ trợ người tị nạn trong các cuộc xung đột. Gerald Asamoah thay mặt nhận giải thưởng - người đã vận động phúc lợi cho người tị nạn.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  • b – Cầu thủ của Werder Bremen tự nhận dùng tay chơi bóng bằng tay trong vòng cấm trước trọng tài trong trận đấu tại Giải Đức gặp 1. FC Köln ngày 7 tháng 5 năm 1988. Cologne trận đó giành chiến thắng 2–0.[9] The following year, he moved to Cologne.
  • l – Caroline Hanlon nhận thay các cổ động viên.[3]

Năm 2009 Liên đoàn bóng đá Ireland từ chối nhận giải Fair Play sau vụ tranh cãi dùng tay chơi bóng trong trận đấu Play-off World Cup 2010 giữa Pháp và Cộng hòa Ireland.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “FACTSheet FIFA awards” (PDF). FIFA. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2016. 
  2. ^ Low, Dave. “Dundee Utd reach the UEFA Cup Final 1987”. BBC Scotland. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2008. 
  3. ^ a ă “A Night of Records and Premieres”. FIFA. Ngày 24 tháng 2 năm 1998. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008. 
  4. ^ “Barcelona scoop FIFA Fair Play award”. FIFA. 
  5. ^ “Fair Play for Armenia, Turkey”. FIFA. Ngày 12 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009. 
  6. ^ “Fair Play Award honours Robson” (Thông cáo báo chí). FIFA. Ngày 21 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  7. ^ “Haiti's standard bearers show the way”. FIFA. 
  8. ^ “FIFA Awards Afghanistan 'Fair Play Award For 2013'. Rferl.org. Ngày 14 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 
  9. ^ “International Federations” (PDF). LA84 Foundation. tr. 100. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008.