Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Top 35 đội dẫn đầu BXH FIFA (tháng 3, 2015)[1]
1  Đức 2168
2  Hoa Kỳ 2158
3  Pháp 2103
4  Nhật Bản 2066
5  Thụy Điển 2008
6  Anh 2001
7  Brasil 1984
8  Canada 1969
8  Triều Tiên 1969
10  Úc 1968
11  Na Uy 1933
12  Hà Lan 1919
13  Ý 1875
14  Tây Ban Nha 1867
15  Đan Mạch 1848
16  Trung Quốc 1847
17  New Zealand 1832
18  Hàn Quốc 1830
19  Thụy Sĩ 1813
20  Iceland 1812
21  Scotland 1795
22  Nga 1783
23  Ukraina 1772
24  Phần Lan 1770
25  México 1748
26  Áo 1711
27  Bỉ 1700
28  Colombia 1692
29  Cộng hòa Séc 1654
29  Thái Lan 1654
31  Cộng hòa Ireland 1653
32  Ba Lan 1644
33  Nigeria 1633
34  Việt Nam 1630
35  Wales 1629
Các đội dẫn đầu bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ

Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA ra đời vào năm 2003 với lần công bố đầu tiên vào tháng Ba năm đó, như là một sự tiếp nối sau sự ra đời của bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA. Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA cố gắng để so sánh trình độ của các đội bóng quốc tế ở bất kì thời điểm nào.

Phương pháp tính toán[sửa | sửa mã nguồn]

Công thức cơ bản của WWR là trong thực tế khá đơn giản:

WWR, mới = WWR, cũ + (thực tế - dự đoán) trong đó WWR - Women's World Ranking là ví trí trong bảng xếp hạng

Các tiêu chí chính:

  • Kết quả của các trận đấu
  • Sân nhà, sân khách hay sân trung lập
  • Tầm quan trọng của trận đấu
  • Sự khác biệt trong WWR giữa hai đội

Sự khác biệt với hệ thống xếp hạng của nam[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều sự khác biệt trong công thức của bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA:

  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA chỉ công bố 4 lần một năm. Thông thường bảng xếp hạng sẽ công bố vào các tháng 3, 6,9 và 12 (4 quý). Tuy nhiên thời gian cũng có thể được điều chỉnh lại trong các năm xảy ra World Cup; ví dụ, vào năm 2007, bảng xếp hạng quý 3 công bố vào tháng 10, để cho bảng xếp hạng có thể ghi nhận được kết quả của World Cup 2007 tổ chức vào tháng 10. Trái lại bảng xếp hạng nam được công bố hàng tháng.
  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA dựa trên mỗi trận đấu mà đội tuyển thi đấu quốc tế, trở lại đến năm 1971, trận đấu quốc tế đầu tiên được FIFA chấp nhận giữa PhápHà Lan. Hệ thống xếp hạng của nam chỉ tính các trận đấu trong vòng 4 năm.
  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA không có thiên hướng làm cho nổi bật các kết quả gần đây, trong khi đó những kết quả của nam lại lệch về các thang đối chiếu, tức là nhấn mạnh đến các kết quả gần đây.

Kết quả này có nhiều sự tương tự với hệ thống chỉ số Elo trong bóng đá; chỉ số cho các đội có ít hơn 30 trận nên được xem xét tạm thời.

Các đội dẫn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đức và Mỹ là hai đội duy nhất cùng dẫn đầu bảng xếp hạng. Giữa hai đội này họ thay phiên nhau nắm giữ hai vị trí đầu của bảng xếp hạng kể từ bảng xếp hạng quý 3 năm 2003 (tháng 10/2003), ngay sau World Cup 2003 cho đến bảng xếp hạng quý 4 năm 2008 (tháng 12/2008). Đức xếp hạng 3 sau Na Uy khi bảng xếp hạng quý 1 năm 2009 công bố, và rơi ra khỏi top 2 thêm một lần nữa khi bị Brasil thế chỗ, nhưng họ đã trở lại sau thành công ở EURO 2009.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]