Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Top 35 đội dẫn đầu BXH FIFA (tháng 6, 2015)[1]
1  Hoa Kỳ 2188
2  Đức 2115
3  Pháp 2081
4  Nhật Bản 2073
5  Anh 2038
6  Brasil 1975
7  Thụy Điển 1971
8  Triều Tiên 1969
9  Úc 1968
10  Na Uy 1927
11  Canada 1924
12  Hà Lan 1919
13  Ý 1875
14  China PR 1866
15  Đan Mạch 1853
16  New Zealand 1839
17  Hàn Quốc 1824
18  Iceland 1817
19  Tây Ban Nha 1815
20  Scotland 1797
21  Thụy Sĩ 1781
22  Nga 1779
23  Ukraina 1772
24  Phần Lan 1758
25  Colombia 1747
26  México 1736
27  Áo 1719
28  Bỉ 1708
29  Nigeria 1659
30  Thái Lan 1654
30  Cộng hòa Séc 1654
30  Ba Lan 1654
33  Cộng hòa Ireland 1653
34  Costa Rica 1627
35  Việt Nam 1626
Các đội dẫn đầu bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa kỳ

Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA ra đời vào năm 2003 với lần công bố đầu tiên vào tháng Ba năm đó, như là một sự tiếp nối sau sự ra đời của bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA. Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA cố gắng để so sánh trình độ của các đội bóng quốc tế ở bất kì thời điểm nào.

Phương pháp tính toán[sửa | sửa mã nguồn]

Công thức cơ bản của WWR là trong thực tế khá đơn giản:

WWR, mới = WWR, cũ + (thực tế - dự đoán) trong đó WWR - Women's World Ranking là ví trí trong bảng xếp hạng

Các tiêu chí chính:

  • Kết quả của các trận đấu
  • Sân nhà, sân khách hay sân trung lập
  • Tầm quan trọng của trận đấu
  • Sự khác biệt trong WWR giữa hai đội

Sự khác biệt với hệ thống xếp hạng của nam[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều sự khác biệt trong công thức của bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA:

  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA chỉ công bố 4 lần một năm. Thông thường bảng xếp hạng sẽ công bố vào các tháng 3, 6,9 và 12 (4 quý). Tuy nhiên thời gian cũng có thể được điều chỉnh lại trong các năm xảy ra World Cup; ví dụ, vào năm 2007, bảng xếp hạng quý 3 công bố vào tháng 10, để cho bảng xếp hạng có thể ghi nhận được kết quả của World Cup 2007 tổ chức vào tháng 10. Trái lại bảng xếp hạng nam được công bố hàng tháng.
  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA dựa trên mỗi trận đấu mà đội tuyển thi đấu quốc tế, trở lại đến năm 1971, trận đấu quốc tế đầu tiên được FIFA chấp nhận giữa PhápHà Lan. Hệ thống xếp hạng của nam chỉ tính các trận đấu trong vòng 4 năm.
  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA không có thiên hướng làm cho nổi bật các kết quả gần đây, trong khi đó những kết quả của nam lại lệch về các thang đối chiếu, tức là nhấn mạnh đến các kết quả gần đây.

Kết quả này có nhiều sự tương tự với hệ thống chỉ số Elo trong bóng đá; chỉ số cho các đội có ít hơn 30 trận nên được xem xét tạm thời.

Các đội dẫn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đức và Mỹ là hai đội duy nhất cùng dẫn đầu bảng xếp hạng. Giữa hai đội này họ thay phiên nhau nắm giữ hai vị trí đầu của bảng xếp hạng kể từ bảng xếp hạng quý 3 năm 2003 (tháng 10/2003), ngay sau World Cup 2003 cho đến bảng xếp hạng quý 4 năm 2008 (tháng 12/2008). Đức xếp hạng 3 sau Na Uy khi bảng xếp hạng quý 1 năm 2009 công bố, và rơi ra khỏi top 2 thêm một lần nữa khi bị Brasil thế chỗ, nhưng họ đã trở lại sau thành công ở EURO 2009.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]