Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Na Uy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Na Uy
Huy hiệu áo/Huy hiệu liên đoàn
Biệt danh Gresshoppene (Những chú châu chấu)
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Na Uy
(Norges Fotballforbund)
Liên đoàn châu lục UEFA (Châu Âu)
Huấn luyện viên Martin Sjögren
Đội trưởng Maren Mjelde
Thi đấu nhiều nhất Hege Riise (188)[1]
Vua phá lưới Marianne Pettersen (66)[1]
Mã FIFA NOR
Trang phục chính
Trang phục phụ
Xếp hạng FIFA
Hiện tại 14 giảm 3 (1.9.2017)
Cao nhất 2 (7.2003)
Thấp nhất 14 (9.2017)
Trận quốc tế đầu tiên
 Thụy Điển 2–1 Na Uy 
(Kolding, Đan Mạch; 7.7.1978)
Trận thắng đậm nhất
 Na Uy 17–0 Slovakia 
(Ulefoss, Na Uy; 19.9.1995)
Trận thua đậm nhất
 Thụy Điển 5–0 Na Uy 
(Norrköping, Thụy Điển; 22.8.1985)
 Trung Quốc 5–0 Na Uy 
(Foxboro, Hoa Kỳ; 4.7.1999)
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
Số lần tham dự 7 (Lần đầu vào năm 1991)
Kết quả tốt nhất Vô địch (1995)
Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu
Số lần tham dự 11 (Lần đầu vào năm 1984)
Kết quả tốt nhất Vô địch (1987, 1993)

Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Na Uy là đội bóng nữ đại diện cho Hiệp hội bóng đá Na Uy trên bình diện quốc tế trong các trận thi đấu giao hữu quốc tế cũng như trong Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu của UEFAGiải vô địch bóng đá nữ thế giới do FIFA tổ chức. Đội bóng đá nữ quốc gia Na Uy là một trong các đội tuyển bóng đá nữ có nhiều thành tích trên thế giới. Đội từng là á quân Giải vô địch bóng đá nữ thế giới năm 1991 và vô địch năm 1995, vô địch Thế vận hội Mùa hè 2000 và vô địch châu Âu vào các năm 1987 và 1993.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Na Uy ra mắt vào năm 1978 tại giải vô địch Nordic, thời điểm có thể coi là khá sớm đối với các nước Tây Âu, nhưng là muộn đối với các nước Nordic, và chỉ sớm hơn Iceland. Na Uy phải nỗ lực nhiều mới có thể bắt kịp các đội Thụy ĐiểnĐan Mạch. Trong giai đoạn đầu họ thường xuyên thất bại trước các đội láng giềng cho tới khi có trận thắng đầu tiên trước Bắc Ireland.

Dần dần, Na Uy bắt đầu trở thành một đội tuyển mạnh tại châu Âu.[2] Tại vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu (khi đó có tên là Giải các đội tuyển nữ đại diện châu Âu), Na Uy cùng bảng với Thụy Điển, Phần Lan và Iceland. Na Uy thua cả hai trận trước Thụy Điển, nhưng vượt qua Phần Lan trong cả hai lượt. Dù hòa ở trận lượt đi với Iceland nhưng chiến thắng ở lượt về đảm bảo cho Na Uy vị trí nhì bảng (tuy nhiên vẫn bị loại vì chỉ đội đầu bảng được đi tiếp). Đội đầu bảng Thụy Điển sau đó cũng chính là đội vô địch Euro đầu tiên. Na Uy tiếp tục cải thiện thành tích, họ hạ Đan Mạch và Tây Đức để vượt qua vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1987. Na Uy sau đó được chọn tổ chức các trận tại vòng chung kết năm 1987. Họ vượt qua Ý tại bán kết và gặp Thụy Điển trong trận chung kết, nơi họ lần đầu tiên đánh bại đối thủ với tỉ số 2–1. Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Na Uy trở thành đội tuyển thể thao đầu tiên của Na Uy giành chức vô địch quốc tế, điều phải 11 năm sau đội tuyển bóng ném nữ quốc gia Na Uy mới lặp lại.

Tại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989 Na Uy tiếp tục vào trận chung kết, lần này với Tây Đức, nhưng thua với tỉ số cách biệt 1–4. Sau trận thua này các huận luyện viên khác từ chức và Even Pellerud lên nắm quyền. Pellerud đưa Na Uy lọt vào vòng chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới đầu tiên vào năm 1991. Trước đó cũng trong năm 1991, Na Uy lọt trận chung kết thứ ba liên tiếp của giải vô địch châu Âu (cũng là vòng loại World Cup nữ) gặp Đức. Lần này họ lại bị Đức vượt qua trong hiệp phụ với tỉ số 3-1. Tại giải vô địch thế giới Na Uy lọt vào tới bán kết nơi họ chịu dừng bước trước đội tuyển Mỹ. Hai năm sau tại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1993, Na Uy lần lượt vượt qua Đan Mạch tại bán kết và Ý tại chung kết để lần thứ hai lên ngôi vô địch châu Âu. Họ tiếp nối chiến quả này bằng chức vô địch giải bóng đá giao hữu ở Algarve đầu tiên được tổ chức năm 1994. Tại giải vô địch nữ châu Âu đồng thời là vòng loại World Cup một năm sau, dù dừng bước tại bán kết trước kình địch Thụy Điển với tổng tỉ số 5–7 sau hai lượt trận, tuy nhiên Na Uy vẫn có suất dự World Cup 1995.

Tại vòng bảng Giải vô địch thế giới 1995 ở Thụy Điển, Na Uy toàn thắng cả ba trận để gặp một Đan Mạch bất bại tại vòng bảng ở tứ kết. Na Uy dễ dàng vượt qua đối thủ 3–1. Na Uy tiếp tục vượt qua Hoa Kỳ trong trận bán kết căng thẳng được quyết định bởi bàn thắng duy nhất của Ann Kristin Aarønes ở đầu hiệp một. Na Uy gặp đối thủ kỵ giơ Đức trong trận chung kết. Mặc dù từng hai lần thua tại chung kết Euro, Na Uy vẫn vượt qua Đức bằng hai bàn thắng trong vòng bốn phút và trở thành nhà vô địch thế giới. Pellerud từ nhiệm không lâu sau đó.[3] Chức vô địch này giúp Na Uy có mặt tại Thế vận hội Mùa hè 1996, thế vận hội đầu tiên bóng đá nữ được tổ chức. Họ hòa Brasil, đánh bại Đức và Nhật để tiến vào bán kết, nơi họ thua Mỹ trong hiệp phụ nhưng vẫn giành được chiếc huy chương đồng an ủi trước Brasil.

Vòng chung kết Euro 1997 trên sân nhà lại là một giải đấu thất bại của nhà đương kim vô địch thế giới khi chỉ tới bán kết. Tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 1999, Na Uy vượt qua tất cả các đối thủ tại vòng bảng cũng như không gặp nhiều khó khăn để lọt vào bán kết sau khi hạ Thụy Điển 3–1 ở tứ kết. Tuy nhiên bất ngờ xảy đến khi họ bị Trung Quốc hạ gục 5–0, trở thành một trong hai trận thua đậm nhất của Na Uy tới nay (Na Uy thua Thụy Điển cùng tỉ số này 13 năm trước đó). Trong trận tranh huy chương đồng, họ tiếp tục thất bại trước Brasil trên chấm phạt đền. Mặc dù không được đánh giá cao tại Thế vận hội Sydney 2000 và thua Mỹ ngay trận đầu ra quân, Na Uy vẫn có các chiến thắng trước Nigeria và Trung Quốc để lọt vào vòng bán kết. Tại đây Na Uy hạ Đức nhờ bàn phản lưới nhà của Tina Wunderlich dù bị Đức ép sân cả trận. Trận chung kết với Mỹ là một trận đấu hấp dẫn. Tiffeny Milbrett đưa Mỹ dẫn trước, nhưng Na Uy vượt lên dẫn 2–1 sau bàn thắng của Gro Espeseth và cú đánh đầu của Ragnhild Gulbrandsen. Tuy nhiên Milbrett một lần nữa lên tiếng với bàn gỡ hòa ở những phút bù giờ buộc trận đấu bước sang hiệp phụ. Tuy nhiên Na Uy cuối cùng cũng có tấm huy chương vàng Olympic nhờ bàn thắng vàng gây tranh cãi.[4]

Sau chức vô địch Thế vận hội Na Uy lần lượt dừng bước tại bán kết và tứ kết của Giải vô địch châu Âu 2001Cúp thế giới 2003. Điểm sáng lớn nhất là việc giành ngôi á quân Euro 2005. Tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007 tại Trung Quốc, họ hòa Úc, CanadaGhana để đứng đầu vòng bảng. Họ tiến vào bán kết sau chiến thắng chủ nhà Trung Quốc 1–0, nhưng thua 0–3 trước Đức. Trong trận tranh giải ba Na Uy thua 1–4 trước Mỹ và đành chấp nhận vị trí thứ bốn chung cuộc, tuy nhiên vẫn đủ điều kiện dự Thế vận hội tại Băc Kinh. Trong lần thứ hai liên tiếp tại Trung Quốc, dù chiến thắng trước Hoa Kỳ, họ lại thua đậm Nhật Bản 1–5 và bị loại tại tứ kết bởi Brasil. Vào tháng 10 năm 2008, năm cầu thủ từ chối triệu tập đội tuyển vì bất đồng với huấn luyện viên Bjarne Berntsen. Mặc dù vậy Na Uy vẫn đạt thành tích chấp nhận được tại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2009 khi đi tới trận bán kết.

Eli Landsem, nữ huấn luyện viên trưởng đầu tiên của đội, lên nắm quyền vào cuối 2009. Những cầu thủ từng từ chối lên tuyển cũng đã trở lại. Na Uy tiến tới Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2011 sau thành tích bất bại tại vòng loại. Tuy nhiên Na Uy để lại thất vọng lớn khi không vượt qua vòng bảng.[5] Na Uy khởi đầu vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2013 với hai thất bại cùng tỉ số 1–3 trước Iceland và Bắc Ireland, nhưng mạch toàn thăng 8 trận sau đó vẫn giúp họ có mặt tại Thụy Điển.[6] Tại đây Na Uy thi đấu thuyết phục và kết thúc giải ở vị trí á quân sau Đức.

Tại vòng chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015, Even Pellerud một lần nữa nắm đội và giúp Na Uy vượt qua bảng đấu có sự góp mặt của Đức. Tuy nhiên họ sớm phải dừng cuộc chơi khi bị Anh lội ngược dòng 1-2 tại vòng 1/8.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Thế vận hội Mùa hè[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1979: Vòng bảng (giải không chính thức)
  • 1984: Không vượt qua vòng loại
  • 1987: Vô địch
  • 1989: Á quân
  • 1991: Á quân
  • 1993: Vô địch
  • 1995: Bán kết
  • 1997: Vòng bảng
  • 2001: Bán kết
  • 2005: Á quân
  • 2009: Hạng ba
  • 2013: Á quân
  • 2017: Vòng bảng

Giải đấu giao hữu khác[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là đội hình được triệu tập tham dự vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019 gặp SlovakiaBắc vào tháng 9 năm 2017.

Huấn luyện viên: Martin Sjögren

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1 1TM Ingrid Hjelmseth 10 tháng 4, 1980 (38 tuổi) 115 0 Na Uy Stabæk
12 1TM Cecilie Fiskerstrand 20 tháng 3, 1996 (22 tuổi) 14 0 Na Uy Lillestrøm

3 2HV Maria Thorisdottir 5 tháng 6, 1993 (25 tuổi) 16 0 Na Uy Klepp
13 2HV Stine Pettersen Reinås 15 tháng 7, 1994 (24 tuổi) 5 1 Na Uy Stabæk
16 2HV Anja Sønstevold 21 tháng 6, 1992 (26 tuổi) 13 0 Na Uy Lillestrøm
18 2HV Frida Leonhardsen Maanum 16 tháng 7, 1999 (18 tuổi) 3 0 Thụy Điển Linköping
21 2HV Kristine Bjørdal Leine 6 tháng 8, 1996 (21 tuổi) 0 0 Na Uy Røa

2 3TV Ingrid Moe Wold 29 tháng 1, 1990 (28 tuổi) 41 3 Na Uy Lillestrøm
4 3TV Guro Reiten 26 tháng 7, 1994 (23 tuổi) 16 1 Na Uy Lillestrøm
6 3TV Maren Mjelde (c) 6 tháng 11, 1989 (28 tuổi) 119 17 Anh Chelsea
7 3TV Ingrid Schjelderup 21 tháng 12, 1987 (30 tuổi) 19 0 Thụy Điển Eskilstuna United
17 3TV Kristine Minde 8 tháng 8, 1992 (25 tuổi) 79 9 Thụy Điển Linköping
22 3TV Ingrid Marie Spord 12 tháng 7, 1994 (24 tuổi) 9 0 Na Uy Lillestrøm

9 4 Elise Thorsnes 14 tháng 8, 1988 (29 tuổi) 107 16 Na Uy Avaldsnes
10 4 Caroline Graham Hansen 18 tháng 2, 1995 (23 tuổi) 52 15 Đức Wolfsburg
15 4 Lisa-Marie Karlseng Utland 19 tháng 9, 1992 (25 tuổi) 22 2 Na Uy Røa
20 4 Emilie Haavi 16 tháng 6, 1992 (26 tuổi) 63 15 Na Uy Lillestrøm
4 Synne Skinnes Hansen 12 tháng 8, 1995 (22 tuổi) 1 0 Na Uy Røa

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Caps and goals
  2. ^ “U.S. vs. Norway: Big rivalry of contrasts and styles - Chicago Tribune”. chicagotribune.com. 1 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2013. 
  3. ^ Jere Longman (13 tháng 6 năm 1999). “WOMEN'S WORLD CUP; Norway's Rivalry With U.S. Is Intense – New York Times”. Nytimes.com. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ “CNNSI.com – Olympic Sports – Norway's golden goal dethrones United States – September 28, 2000 12:53 PM”. Sportsillustrated.cnn.com. 28 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ “Norge ute av VM – og OL | Aftenposten.no”. Fotball.aftenposten.no. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ “Women's EURO 2013 – Qualif. Grp –”. Uefa.com. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí thể thao
Tiền nhiệm:
1991  Hoa Kỳ
Vô địch thế giới
1995
Kế nhiệm:
1999  Hoa Kỳ
Tiền nhiệm:
1996  Hoa Kỳ
Huy chương vàng Thế vận hội
2000
Kế nhiệm:
2004  Hoa Kỳ
Tiền nhiệm:
1984  Thụy Điển
Vô địch châu Âu
1987
Kế nhiệm:
1989  Tây Đức
Tiền nhiệm:
1991  Đức
Vô địch châu Âu
1993
Kế nhiệm:
1995  Đức