Thế vận hội Mùa hè 2000
Biểu trưng của Thế vận hội Mùa hè 2000[A] | |||
| Thành phố chủ nhà | Sydney, Úc | ||
|---|---|---|---|
| Khẩu hiệu | The Games of the New Millennium | ||
| Quốc gia | 199 | ||
| Vận động viên | 10,647 (6,579 nam, 4,068 nữ)[1] | ||
| Nội dung | 300 thuộc 28 môn thể thao | ||
| Lễ khai mạc | 15 tháng 9 năm 2000 | ||
| Lễ bế mạc | 1 tháng 10 năm 2000 | ||
| Khai mạc bởi | |||
| Thắp đuốc | |||
| Sân vận động | Sân vận động Australia | ||
| Mùa hè | |||
| |||
| Mùa đông | |||
| |||
| Thế vận hội Mùa hè lần thứ XXVII | ||||
|---|---|---|---|---|
| Khẩu hiệu | Share the Spirit Dare to Dream | |||
| Thời gian và địa điểm | ||||
| Quốc gia | Úc | |||
| Thành phố | Sydney | |||
| Sân vận động | Sân vận động Australia | |||
| Lễ khai mạc | 15 tháng 9 | |||
| Lễ bế mạc | 1 tháng 10 | |||
| Tham dự | ||||
| Quốc gia | 199 | |||
| Vận động viên | 10.651 (6.582 nam, 4.069 nữ)[1] | |||
| Sự kiện thể thao | 300 trong 28 môn | |||
| Đại diện | ||||
| Tuyên bố khai mạc | Toàn quyền William Deane | |||
| Vận động viên tuyên thệ | Rechelle Hawkes | |||
| Trọng tài tuyên thệ | Peter Kerr | |||
| Ngọn đuốc Olympic | Cathy Freeman | |||
| ||||
Thế vận hội Mùa hè 2000, tên chính thức là Thế vận hội Mùa hè lần thứ XXVII, được đặt thương hiệu là Sydney 2000 và còn được gọi là "Thế vận hội của Thiên niên kỷ mới", là một sự kiện thể thao đa môn quốc tế được tổ chức từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10 năm 2000 tại Sydney, New South Wales, Úc. Đây là lần thứ hai Thế vận hội Mùa hè được tổ chức tại Úc và ở Nam Bán cầu, sau lần đầu tiên tại Melbourne vào năm 1956.
Các đội tuyển từ 199 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham dự Thế vận hội 2000, và đây là kỳ Thế vận hội đầu tiên có ít nhất 300 nội dung thi đấu trong chương trình thể thao chính thức. Tổng chi phí tổ chức được ước tính vào khoảng 6,6 tỷ đô la Úc. Đây cũng là kỳ Thế vận hội cuối cùng dưới nhiệm kỳ Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) của Juan Antonio Samaranch, trước khi người kế nhiệm là Jacques Rogge nhậm chức.
Bảng tổng sắp huy chương tại Thế vận hội Mùa hè 2000 do Hoa Kỳ dẫn đầu, tiếp theo là Nga và Trung Quốc, trong khi nước chủ nhà Úc xếp thứ tư toàn đoàn. Cameroon, Colombia, Latvia, Mozambique và Slovenia lần đầu tiên giành được huy chương vàng trong lịch sử tham dự Olympic của họ, trong khi Barbados, Kuwait, Kyrgyzstan, Bắc Macedonia, Ả Rập Xê Út và Việt Nam lần đầu tiên giành được huy chương Olympic.
Úc sẽ đăng cai Thế vận hội Mùa hè tại Brisbane vào năm 2032, trở thành quốc gia châu Á - Thái Bình Dương đầu tiên đăng cai Thế vận hội Mùa hè ba lần. Đây cũng sẽ là lần thứ hai Úc đăng cai Thế vận hội Mùa hè sau Hoa Kỳ, khi mà Brisbane sẽ diễn ra sau Los Angeles – nơi đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2028.
Lựa chọn thành phố chủ nhà
[sửa | sửa mã nguồn]Sydney đã giành quyền đăng cai Thế vận hội vào ngày 24 tháng 9 năm 1993, sau khi được chọn vượt qua Bắc Kinh, Berlin, Istanbul, và Manchester qua bốn vòng bỏ phiếu tại Phiên họp thứ 101 của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) tổ chức tại Monte Carlo, Monaco. Brasília, Milan, và Tashkent cũng đã nộp đơn tranh cử nhưng rút lui trong quá trình đấu thầu.[3] Thành phố Melbourne của Úc – nơi từng đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1956 – đã thất bại trước Atlanta trong cuộc chạy đua giành quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1996 ba năm trước đó.[4]
Bắc Kinh sau đó được chọn đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2008 vào ngày 13 tháng 7 năm 2001 và Thế vận hội Mùa đông 2022 vào ngày 31 tháng 7 năm 2015 – tức là lần lượt sau 8 năm và 22 năm kể từ thất bại trước Sydney. Milan cũng giành chiến thắng trong cuộc đua đăng cai Thế vận hội Mùa đông 2026 cùng với Cortina d'Ampezzo vào ngày 24 tháng 6 năm 2019 – tức là 26 năm sau thất bại ban đầu.
Việc Bắc Kinh để thua Sydney được coi là một "đòn giáng mạnh" vào "ưu tiên chính trị cấp bách" của lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch vận động đăng cai với mức độ mạnh mẽ và tốn kém nhất vào thời điểm đó (bao gồm cả Thế vận hội mùa hè và mùa đông). Dù không rõ lý do cụ thể khiến hai thành viên của IOC bỏ phiếu cho Sydney thay vì Bắc Kinh vào năm 1993, nhưng có vẻ như chiến dịch của tổ chức Human Rights Watch nhằm "ngăn chặn Bắc Kinh" vì hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc và sự cô lập quốc tế sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989 đã đóng vai trò quan trọng.[5] Nhiều người dân Trung Quốc cảm thấy phẫn nộ trước điều mà họ cho là sự can thiệp do Mỹ dẫn đầu trong kết quả bỏ phiếu, và kết quả đó đã góp phần làm gia tăng tình cảm chống phương Tây tại Trung Quốc cũng như mở ra một giai đoạn căng thẳng mới trong quan hệ Trung – Mỹ.[6]
| Thành phố | Quốc gia | Vòng | |||
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | ||
| Sydney | 30 | 30 | 37 | 45 | |
| Bắc Kinh | 32 | 37 | 40 | 43 | |
| Manchester | 11 | 13 | 11 | — | |
| Berlin | 9 | 9 | — | — | |
| Istanbul | 7 | — | — | — | |
Môn thể thao
[sửa | sửa mã nguồn]Chương trình Thế vận hội Mùa hè 2000 bao gồm 300 nội dung thi đấu thuộc 28 môn thể thao sau đây:
| Chương trình thi đấu Thế vận hội Mùa hè 2000 | ||||
|---|---|---|---|---|
|
Mặc dù các môn thể thao biểu diễn đã bị bãi bỏ kể từ sau Thế vận hội Mùa hè 1992, Thế vận hội Sydney vẫn đưa môn đua xe lăn vào chương trình điền kinh dưới hình thức thi đấu biểu diễn.[8]
Các điều kiện kiểm dịch đặc biệt đã được áp dụng để cho phép ngựa được nhập cảnh vào Úc nhằm tham gia các nội dung cưỡi ngựa,[9] tránh việc phải tổ chức các môn này ở quốc gia khác như từng xảy ra tại Thế vận hội Mùa hè 1956 ở Melbourne.
Các quốc gia tham dự
[sửa | sửa mã nguồn]Có tổng cộng 199 Ủy ban Olympic quốc gia (NOC) tham gia Thế vận hội Sydney 2000, nhiều hơn hai đoàn so với Thế vận hội Mùa hè 1996. Ngoài ra, còn có 4 vận động viên Đông Timor tham dự dưới tư cách Vận động viên Olympic cá nhân, do quốc gia của họ chưa có Ủy ban Olympic được công nhận chính thức vào thời điểm đó. Eritrea, Liên bang Micronesia và Palau lần đầu tiên góp mặt tại Thế vận hội lần này. Cộng hòa Dân chủ Congo trở lại thi đấu dưới tên gọi này, sau khi từng tham gia với tên Zaire trong giai đoạn từ 1984 đến 1996.
Afghanistan là quốc gia duy nhất từng tham dự Thế vận hội 1996 nhưng không góp mặt tại Thế vận hội 2000. Lý do là vì Ủy ban Olympic Afghanistan bị cấm tham gia do chế độ độc tài Taliban kiểm soát đất nước, với các chính sách áp bức phụ nữ và cấm các hoạt động thể thao.
Bảng tổng sắp huy chương
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là 10 quốc gia xếp hạng cao nhất tại Thế vận hội Mùa hè 2000.
| Hạng | NOC | Vàng | Bạc | Đồng | Tổng số |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 37 | 24 | 32 | 93 | |
| 2 | 32 | 28 | 29 | 89 | |
| 3 | 28 | 16 | 14 | 58 | |
| 4 | 16 | 25 | 17 | 58 | |
| 5 | 13 | 17 | 26 | 56 | |
| 6 | 13 | 14 | 11 | 38 | |
| 7 | 13 | 8 | 13 | 34 | |
| 8 | 12 | 9 | 4 | 25 | |
| 9 | 11 | 11 | 7 | 29 | |
| 10 | 11 | 10 | 7 | 28 | |
| Tổng số (10 đơn vị) | 186 | 162 | 160 | 508 | |
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b "The Olympic Summer Games Factsheet" (PDF). International Olympic Committee. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2012. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ: tên “athletes_number” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác - ^ a b "Factsheet - Opening Ceremony of the Games of the Olympiad" (PDF) (Thông cáo báo chí). International Olympic Committee. ngày 9 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018.
- ^ "When Sydney were big winners in Monte Carlo". www.insidethegames.biz. ngày 22 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
- ^ "IOC VOTE HISTORY". www.aldaver.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011.
- ^ Tyler, Patrick E. (ngày 24 tháng 9 năm 1993). "OLYMPICS; There's No Joy in Beijing as Sydney Gets Olympics". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2021.
- ^ Keys, Barbara (2018). "Harnessing Human Rights to the Olympic Games: Human Rights Watch and the 1993 'Stop Beijing' Campaign" (PDF). Journal of Contemporary History. 53 (2): 415–438. doi:10.1177/0022009416667791. hdl:11343/217038. S2CID 159945661. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Past Olympic Host Cities List". GamesBids.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Reflections on the Olympic Wheelchair Racing Exhibition Races". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Strict quarantine conditions for overseas horses competing in the Sydney 2000 Games". Department of Agriculture. ngày 26 tháng 11 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Sydney 2000 Olympic Medal Table – Gold, Silver & Bronze". International Olympic Committee. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2024.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Thế vận hội Mùa hè 2000 trên trang chủ của IOC
- Trang thông tin về Thế vận hội Mùa hè 2000 Lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2010 tại Wayback Machine
Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “upper-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="upper-alpha"/> tương ứng