Giải bóng đá Cúp câu lạc bộ thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
FIFA Club World Cup
FIFA Club World Cup logo.svg
Biểu trưng của FIFA Club World Cup
Thành lập 2000 (2005 thể thức
hiện tại)
Khu vực Quốc tế (FIFA)
Số đội 7 (từ 6 liên đoàn châu lục)
Đương kim vô địch hiện tại Tây Ban Nha Barcelona (3 lần)
Câu lạc bộ thành công nhất Tây Ban Nha Barcelona (3 lần)
Trang chủ FIFA Club World Cup
FIFA Club World Cup 2015

The Giải bóng đá vô địch thế giới các câu lạc bộ (tiếng Anh: FIFA Club World Cup), trước đây được gọi là FIFA Club World Championship, là 1 giải đấu bóng đá quốc tế dành cho nam được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), cơ quan quản lý bóng đá toàn cầu. Giải đấu lần đầu tiên được tổ chức với tên gọi Giải bóng đá vô địch thế giới các câu lạc bộ 2000. Giải sau đó không được tổ chứ từ năm 2001 tới 2004 do nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất vẫn là do sự sụp đổ của đối tác tiếp thị của FIFA là International Sport and Leisure. Từ 2005, giải được tổ chức hàng năm, và đã được tổ chức ở Brazil, Nhật Bản, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Ma Rốc.

Giải bóng đá vô địch thế giới các câu lạc bộ lần đầu tiên được tổ chức tại Brazil năm 2000. Giải đấu vẫn thi đấu song song với Cúp Liên Lục địa (hay còn được biết đến với tên gọi Cúp châu Âu/Nam Mỹ), một giải đấu được tổ chức chung bởi Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) và Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) lần đầu tranh tài năm 1960 giữa đội vô địch của European Champions' Cup và Copa Libertadores. Năm 2005, sau trận đấu cuối cùng của Cúp Liên Lục địa, giải đấu này được hợp nhất với phiên bản đầu tiên của Club World Cup và đổi tên thành "FIFA Club World Championship." Năm 2006, giải đấu lấy tên như hiện tại.

Thể thức hiện tại của giải đấu sẽ bao gồm 7 đội tham dự diễn ra trong 2 tuần ở 1 nước chủ nhà; đội vô địch của AFC Champions League (châu Á), CAF Champions League (châu Phi), CONCACAF Champions League (Bắc Mỹ), Copa Libertadores (Nam Mỹ), OFC Champions League (châu Đại Dương) và UEFA Champions League (châu Âu) năm đó, cùng với đội vô địch quốc gia của nước chủ nhà, tham dự giải đấu theo thể thức loại trực tiếp. Đội vô địch quốc gia của nước chủ nhà sẽ gặp đội vô địch châu Đại Dương trong 1 trận play-off đội giành chiến thắng sẽ cùng với các đội vô địch châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ tham dự vòng tứ kết. Các đội thắng ở tứ kết sẽ gặp các đội vô địch châu Âu và Nam Mỹ, những đội được vào thẳng bán kết.

Đương kim vô địch đang là Real Madrid, đội đã đánh bại San Lorenzo 2–0 trong trận chung kết FIFA Club World Cup 2014 để lần đầu vô địch giải đấu. Tính tới 2014, FIFA Club World Cup đã có 9 câu lạc bộ vô địch khác nhau. Barcelona (Tây Ban Nha) và Corinthians (Brasil) là những đội thành công nhất với 2 chức vô địch. Các nhà vô địch khác bao gồm São PauloInternacional (Brasil), MilanInternazionale (Ý), Manchester United (Anh), Bayern Munich (Đức), và Real Madrid (Tây Ban Nha). Brasileirão của Brasil là giải vô địch quốc gia thành công nhất với 4 chức vô địch, trong khi đó Barcelona đang giữ kỷ lục thi đấu nhiều trận chung kết nhất với 4 lần.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

ISL. Đó là sau đó dự định tổ chức các sự kiện trong năm 2003, nhưng điều này cũng không xảy ra. FIFA cuối cùng đã đồng ý các điều khoản với Intercontinental Cup để hợp nhất hai cuộc thi. Các Intercontinental Cup cuối cùng đã được các ấn bản 2004, với sự góp đầu tiên của relaunched Club World Championship tổ chức tại Nhật Bản từ 11 tháng 12 và 18 tháng 12 năm 2005.

Các phiên bản 2005 relaunched được ngắn hơn trước Giải vô địch thế giới, làm giảm các vấn đề của lịch các giải đấu trên khắp các mùa câu lạc bộ khác nhau trên khắp lục địa mỗi. Nó chứa đựng chỉ là trị vì sáu vô địch lục địa, với CONMEBOL và vô địch UEFA nhận được byes đến bán kết của giải đấu.

cạnh tranh được sau đó đổi tên là FIFA Club World Cup cho sự kiện năm 2006, được tổ chức hàng năm tại Nhật Bản cho đến năm 2008. Sự kiện Các năm 2009 và 2010 sẽ được tổ chức bởi United Arab Emirates. Đối với 2007 FIFA Club World Cup, một trận đấu play-off giữa OFC vô địch và vô địch quốc gia sở tại cho nhập cảnh vào giai đoạn tứ kết đã được giới thiệu để tăng gia đình quan tâm đến giải đấu. Các reintroduction của trận đấu cho vị trí thứ năm cho cuộc thi năm 2008 cũng đã thúc đẩy một sự gia tăng tiền thưởng của Hoa Kỳ $ 500,000 cho một tổng số của Mỹ 16.500.000 $. Những người chiến thắng đã đi 5.000.000 $, thứ hai được đặt đội nhận được $ 4.000.000, đội thứ ba được đặt $ 2.500.000, đội thứ tư được đặt $ 2.000.000, đội thứ năm đặt $ 1.500.000, đội thứ sáu-đặt 1.000.000 $ và lần thứ bảy- đặt đội nhận được $ 500,000. [3]

Trong tháng 2 năm 2008 một FIFA Club World Cup Champions Huy hiệu đã được giới thiệu, có một hình ảnh của các danh hiệu, trong đó nhà vô địch trị vì được quyền hiển thị trên kit của nó cho đến khi cuối cùng của giải vô địch tiếp theo. Ban đầu, tất cả bốn nhà vô địch trước đó đã được phép đeo huy hiệu cho đến năm 2008 [cuối cùng 4], nơi mà Manchester United giành được quyền duy nhất để mang huy hiệu của chiến thắng trong cúp.

Bảng thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona đang giữ kỷ lục vô địch nhiều nhất với 3 lần. Chức vô địch ở mùa giải mở màn của Corinthians là thành tích tốt nhất của đội vô địch quốc gia nước chủ nhà. Các đội đến từ Brasil hiện có 4 lần vô địch, là quốc gia giành được nhiều chức vô địch nhất.[1]

Kí hiệu trong bảng
dagger Trận đấu được quyết định bằng hiệp phụ double-dagger Trận đấu được quyết định bằng sút luân lưu
Năm Chủ nhà Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư Tham khảo
2000
Chi tiết
 Brazil Brasil Corinthians 0–0double-dagger
[n 1]
Brasil Vasco da Gama México Necaxa 1–1double-dagger
[n 2]
Tây Ban Nha Real Madrid [4]
[5]
2005
Chi tiết
 Nhật Bản Brasil São Paulo 1–0 Anh Liverpool Costa Rica Saprissa 3–2 Ả Rập Saudi Al-Ittihad [6]
[7]
2006
Chi tiết
 Nhật Bản Brasil Internacional 1–0 Tây Ban Nha Barcelona Ai Cập Al Ahly 2–1 México América [8]
[9]
2007
Chi tiết
 Nhật Bản Ý AC Milan 4–2 Argentina Boca Juniors Nhật Bản Urawa Reds 2–2double-dagger
[n 3]
Tunisia Étoile du Sahel [11]
[12]
2008
Chi tiết
 Nhật Bản Anh Manchester United 1–0 Ecuador LDU Quito Nhật Bản Gamba Osaka 1–0 México Pachuca [13]
[14]
2009
Chi tiết
 UAE Tây Ban Nha Barcelona 2–1dagger
[n 4]
Argentina Estudiantes Hàn Quốc Pohang Steelers 1–1double-dagger
[n 5]
México Atlante [17]
[18]
2010
Chi tiết
 UAE Ý Inter Milan 3–0 Cộng hòa Dân chủ Congo TP Mazembe Brasil Internacional 4–2 Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma [19]
[20]
2011
Chi tiết
 Nhật Bản Tây Ban Nha Barcelona 4–0 Brasil Santos Qatar Al Sadd 0–0double-dagger
[n 6]
Nhật Bản Kashiwa Reysol [22]
[23]
2012
Chi tiết
 Nhật Bản Brasil Corinthians 1–0 Anh Chelsea México Monterrey 2–0 Ai Cập Al Ahly [24]
[25]
2013
Chi tiết
 Maroc Đức Bayern Munich 2–0 Maroc Raja Casablanca Brasil Atlético Mineiro 3–2 Trung Quốc Guangzhou Evergrande [26]
[27]
2014
Chi tiết
 Maroc Tây Ban Nha Real Madrid 2–0 Argentina San Lorenzo New Zealand Auckland City 1–1double-dagger
[n 7]
México Cruz Azul
2015
Chi tiết
 Nhật Bản Tây Ban Nha Barcelona 3–0 Argentina River Plate Nhật Bản Sanfrecce Hiroshima 2–1 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
2016
Chi tiết
 Nhật Bản
2017
Chi tiết
 UAE
2018
Chi tiết
 UAE

Kết quả theo liên đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Đại diện châu Phi xuất sắc nhất tính tới hiện tại là TP Mazembe của Cộng hòa Dân chủ Congo và câu lạc bộ Ma Rốc Raja Casablanca. Họ là đội duy nhất ngoài châu Âu và Nam Mỹ tham dự trận chung kết

Các câu lạc bộ của México NecaxaMonterrey, cũng như của Costa Rica Saprissa, đều giành vị trí thứ 3, thành tích tốt nhất của đại diện Bắc Mỹ. Thành tích tốt nhất của các câu lạc bộ châu Á cũng là giành huy chương đồng của các câu lạc bộ Nhật Bản Urawa Red Diamonds, Gamba Osaka, Sanfrecce Hiroshima và Hàn Quốc Pohang Steelers và đại diện Qatar Al Sadd. Auckland City 1 lần giành hạng 3 và là đội duy nhất của OFC lọt vào bán kết.

Kết quả theo liên đoàn
Liên đoàn Vô địch Á quân Hạng ba Hạng tư
UEFA 8 3 1
CONMEBOL 4 7 2
CAF 2 1 2
AFC 5 5
CONCACAF 3 4
OFC 1
Tính tới 20 tháng 12, 2015.

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quả bóng vàng Quả bóng bạc Quả bóng đồng Chiếc giày vàng Phong cách
2000 Brasil Edílson Brasil Edmundo Brasil Romário Brasil Romário (3)
Pháp Nicolas Anelka (3)
Flag of Saudi Arabia.svg Al-Nassr
2005 Brasil Rogerio Ceni Anh Steven Gerrard Costa Rica Cristian Bolaños Brasil Amoroso(2)
Anh Peter Crouch(2)
Costa Rica Alvaro Saborio(2)
Ả Rập Saudi Mohammed Noor(2)
Anh Liverpool FC
2006 Bồ Đào Nha Deco Brasil Iarley Brasil Ronaldinho Ai Cập Mohamed Aboutrika (3) Tây Ban Nha FC Barcelona
2007 Brasil Kaká Hà Lan Clarence Seedorf Argentina Rodrigo Palacio Brasil Washington (3) Nhật Bản Urawa Red Diamonds
2008 Anh Wayne Rooney Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo Argentina Damián Manso Anh Wayne Rooney (3) Úc Adelaide United
2009 Argentina Lionel Messi Argentina Juan Sebastián Verón Tây Ban Nha Xavi Hernández Brasil Denilson (4) México Atlante
2010 Cameroon Samuel Eto'o Cộng hòa Dân chủ Congo Dioko Kaluyituka Argentina Andrés D'Alessandro Colombia Mauricio Molina (3) Ý Inter Milan
2011 Argentina Lionel Messi Tây Ban Nha Xavi Brasil Neymar Argentina Lionel Messi (2)
Brasil Adriano (2)
Tây Ban Nha Barcelona

Ghi bàn nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

5 bàn thắng
3 bàn thắng

Chỉ có một cầu thủ đã ghi bàn thắng cho nhiều hơn một câu lạc bộ trong lịch sử Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ:

Xếp hạng theo câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Vô địch Á quân Hạng 3 Hạng 4
Tây Ban Nha Barcelona 3 (2009, 2011, 2015) 1 (2006)
Brasil Corinthians 2 (2000, 2012)
Brasil Internacional 1 (2006) 1 (2010)
Tây Ban Nha Real Madrid 1 (2014) 1 (2000)
Đức Bayern Munich 1 (2013)
Ý Inter Milan 1 (2010)
Anh Manchester United 1 (2008)
Ý AC Milan 1 (2007)
Brasil São Paulo 1 (2005)
Argentina River Plate 1 (2015)
Argentina San Lorenzo 1 (2014)
Maroc Raja Casablanca 1 (2013)
Anh Chelsea FC 1 (2012)
Brasil Santos 1 (2011)
Cộng hòa Dân chủ Congo TP Mazembe 1 (2010)
Argentina Estudiantes 1 (2009)
Ecuador LDU Quito 1 (2008)
Argentina Boca Juniors 1 (2007)
Anh Liverpool 1 (2005)
Brasil Vasco da Gama 1 (2000)
Ai Cập Al-Ahly 1 (2006) 1 (2012)
Nhật Bản Sanfrecce Hiroshima 1 (2015)
New Zealand Auckland City 1 (2014)
Brasil Atlético Mineiro 1 (2013)
México Monterrey 1 (2012)
Qatar Al-Sadd 1 (2011)
Hàn Quốc Pohang Steelers 1 (2009)
Nhật Bản Gamba Osaka 1 (2008)
Nhật Bản Urawa Red Diamonds 1 (2007)
Costa Rica Deportivo Saprissa 1 (2005)
México Necaxa 1 (2000)
Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo (Guangzhou Evergrande) 2 (2013, 2015)
México Cruz Azul 1 (2014)
Nhật Bản Kashiwa Reysol 1 (2011)
Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma 1 (2010)
México Atlante 1 (2009)
México Pachuca 1 (2008)
Tunisia Étoile du Sahel 1 (2007)
México América 1 (2006)
Ả Rập Saudi Al-Ittihad 1 (2005)

Xếp hạng theo quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Vô địch Á quân Hạng 3 Hạng 4
Brasil Brasil 4 (2000,2005,2006,2012) 2 (2000, 2011) 2 (2010, 2013)
Tây Ban Nha Tây Ban Nha 4 (2009, 2011, 2014) 1 (2006) 1 (2000)
Ý Ý 2 (2007, 2010)
Anh Anh 1 (2008) 2 (2005, 2012)
Đức Đức 1 (2013)
Argentina Argentina 3 (2007, 2009, 2014)
Ecuador Ecuador 1 (2008)
Cộng hòa Dân chủ Congo Cộng hòa Dân chủ Congo 1 (2010)
Maroc Maroc 1 (2013)
México Mexico 2 (2000, 2012) 4 (2006, 2008, 2009, 2014)
Nhật Bản Nhật Bản 3 (2007, 2008, 2015) 1 (2011)
Ai Cập Ai Cập 1 (2006) 1 (2012)
Hàn Quốc Hàn Quốc 1 (2009) 1 (2010)
New Zealand New Zealand 1 (2014)
Qatar Qatar 1 (2011)
Costa Rica Costa Rica 1 (2005)
Trung Quốc Trung Quốc 2 (2013, 2015)
Tunisia Tunisia 1 (2007)
Ả Rập Saudi Ả Rập Saudi 1 (2005)

Xếp hạng theo Liên đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn Vô địch Á quân Hạng 3 Hạng 4
UEFA 8 (2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2013, 2015) 3 (2005, 2006, 2012) 1 (2000)
CONMEBOL 4 (2000, 2005, 2006, 2012) 7 (2000, 2007, 2008, 2009, 2011, 2014, 2015) 2 (2010, 2013)
CAF 2 (2010, 2013) 1 (2006) 1 (2007)
AFC 5 (2007, 2008, 2009, 2011, 2015) 5 (2005, 2010, 2011, 2013, 2015)
CONCACAF 2 (2000, 2005) 4 (2006, 2008, 2009, 2014)
OFC 1 (2014)

Tiền thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với từng đội, Đội vô địch được nhận 5 triệu $, Đội Á quân nhận 4 triệu $, Đội hạng ba 2.5 triệu $, Hạng tư 2 triệu $, Đội hạng năm 1.5 triệu $, Đội hạng sáu 1 triệu $ và đội hạng bảy nhận 500,000 $.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 10 tháng 1 năm 2013). “FIFA Club World Championship”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Reference_34
  3. ^ “Real Madrid – Necaxa”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 14 tháng 1 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ “FIFA Club World Championship Brazil 2000”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Pontes, Ricardo (ngày 29 tháng 5 năm 2007). “FIFA Club World Championship 2000”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ “FIFA Club World Championship Toyota Cup Japan 2005”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  7. ^ Nakanishi, Masanori "Komabano"; de Arruda, Marcelo Leme (ngày 30 tháng 4 năm 2006). “FIFA Club World Championship 2005”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  8. ^ “FIFA Club World Cup Japan 2006”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  9. ^ Nakanishi, Masanori "Komabano"; de Arruda, Marcelo Leme (ngày 10 tháng 5 năm 2007). “FIFA Club World Championship 2006”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  10. ^ “Shootout sends bronze to Urawa”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  11. ^ “FIFA Club World Cup Japan 2007”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 28 tháng 5 năm 2008). “FIFA Club World Championship 2007”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ “FIFA Club World Cup Japan 2008”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ Nakanishi, Masanori "Komabano"; de Arruda, Marcelo Leme (ngày 21 tháng 5 năm 2009). “FIFA Club World Championship 2008”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  15. ^ “Club Estudiantes de La Plata – FC Barcelona”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  16. ^ “Pohang Steelers FC – Atlante Futbol Club”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  17. ^ “FIFA Club World Cup UAE 2009”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  18. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 14 tháng 5 năm 2010). “FIFA Club World Championship 2009”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  19. ^ “FIFA Club World Cup UAE 2010”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  20. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 17 tháng 7 năm 2012). “FIFA Club World Championship 2010”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  21. ^ “Al-Sadd take third on penalties”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  22. ^ “FIFA Club World Cup Japan 2011”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  23. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 17 tháng 7 năm 2012). “FIFA Club World Championship 2011”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  24. ^ “FIFA Club World Cup Japan 2012”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  25. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 10 tháng 1 năm 2013). “FIFA Club World Championship 2012”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  26. ^ “FIFA Club World Cup Morocco 2013”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014. 
  27. ^ de Arruda, Marcelo Leme (ngày 23 tháng 12 năm 2013). “FIFA Club World Championship 2013”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014. 
  28. ^ “Auckland City claim historic bronze”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “n”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="n"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu