Samuel Eto'o

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Samuel Eto'o
Samuel 2011.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Samuel Eto'o Fils
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Antalyaspor
Số áo 9
CLB trẻ
1992–1997 Kadji Sports Academy
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1997–2000 Real Madrid 3 (0)
1997–1998 Leganés (mượn) 30 (4)
1999 Espanyol (mượn) 0 (0)
2000 Mallorca (mượn) 19 (6)
2000–2004 Mallorca 120 (48)
2004–2009 Barcelona 145 (108)
2009–2011 Internazionale 67 (33)
2011–2013 Anzhi Makhachkala 53 (25)
2013–2014 Chelsea 21 (9)
2014–2015 Everton 14 (3)
2015 Sampdoria 18 (2)
2015– Antalyaspor 21 (14)
Đội tuyển quốc gia
2000 U-23 Cameroon 6 (1)
1997–2014 Cameroon 118 (56)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải vô địch quốc gia và cập nhật lúc 14 tháng 2, 2016.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Samuel Eto'o (sinh ngày 10 tháng 3 năm 1981 tại Nikon, Cameroon) là một cầu thủ bóng đá người Cameroon hiện đang chơi cho câu lạc bộ Antalyaspor ở vị trí tiền đạo. Anh là cầu thủ châu Phi giành nhiều huy chương nhất mọi thời đại. Anh sở hữu kỷ lục 4 lần giành danh hiệu "Cầu thủ châu Phi xuất sắc nhất Năm" vào các năm 2003, 2004, 2005 và 2010.

Khoác áo ĐTQG Cameroon khi mới 16 tuổi, đồng thời Eto'o là ​​trụ cột giúp U23 Cameroon giành HCV Olympic năm 2000 khi ở tuổi 19. Anh cũng đã tham dự 4 kỳ World Cup và 6 lần tham dự Cúp bóng đá châu Phi (là nhà vô địch hai lần) và là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử của Cúp bóng đá châu Phi, với 18 bàn thắng. Anh cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại của Cameroon với 58 bàn thắng. Anh tuyên bố giã từ ĐTQG vào ngày 27/8/2014. Năm 2015, Eto'o nhận được giải thưởng Golden Foot.

Eto'o ghi được hơn 100 bàn thắng trong 5 mùa giải với Barcelona, ​​và cũng là người giữ kỷ lục về số lần ra sân của một cầu thủ châu Phi tại La Liga. Năm 2010, anh trở thành cầu thủ đầu tiên giành hai chức vô địch Champions League liên tiếp với 2 CLB khác nhau là Barcelona và Inter. Eto'o là cầu thủ thứ hai trong lịch sử ghi bàn trong hai trận chung kết UEFA Champions League.

Samuel Eto'o được các nhà chuyên môn tại châu Phi đánh giá là "Cầu thủ châu Phi Xuất sắc nhất mọi Thời đại" khi vượt qua những Abedi Pele, Jay-jay Okocha, Nwankwo Kanu, Roger Milla, Didier Drogba xếp thứ 3, George Weah xếp thứ 2 trong cuộc bầu chọn này.

Eto'o được biết đến với biệt danh "Báo đen".

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Eto'o chơi cho Barcelona.

Samuel Eto'o chuyển đến Barcelona tháng 8-2004 từ Mallorca với mức phí chuyển nhượng là 24 triệu Euro. Eto'o có trận đấu đầu tiên trong màu áo Barca vào ngày 29-8-2004 với CLB Racing Santander. Eto'o đã đoạt danh hiệu Pichichi (Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại giải vô địch quốc gia Tây Ban Nha La Liga) vào năm 2006, với 26 bàn thắng. Cũng trong mùa giải thành công 2005-2006, Eto'o đã ghi 6 bàn thắng tại cúp châu âu UEFA Champion League, trong đó có bàn thắng ấn định chiến thắng 2-1 được ghi ở phút thứ 76 trận chung kết với CLB Arsenal.

Ngày 14 tháng 2 năm 2009, anh ghi bàn thứ 99 và 100 tại La Liga cho Barcelona trong trận hòa 2–2 với Real Betis. Eto'o ghi bàn thứ 30 trong mùa giải 2008–09 trong trận đấu với Real Valladolid. Trận đấu kết thúc với tỉ số 1–0 và Barcelona dẫn trước Real Madrid 6 điểm. Anh cũng ghi bàn trong trận đấu với Villarreal CF qua đó giúp Barcelona vô địch La Liga sớm. Eto'o đã toả sáng trong trận chung kết UEFA Champions League 2009 với Manchester United khi ghi bàn mở tỷ số ở phút thứ 10 qua đó giúp đội bóng của anh giành chiến thắng chung cuộc 2-0.

Mùa giải 2008-2009 là một mùa giải thành công nhất trong lịch sử Barça khi đội bóng giành cú ăn ba. Trong năm mùa giải chơi bóng cùng Barcelona, Eto'o đã ghi được 108 bàn thắng

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyển sang Inter Milan vào tháng 7 năm 2009 với thỏa thuận Ibrahimovic chuyển sang Barcelona thi đấu, cũng tại Inter Milan, anh vẫn chứng tỏ được khả năng của mình và là một trụ cột không thể thiếu được trong sơ đồ chiến thuật của huấn luyện viên Jose Mourinho. Tuy nhiên anh đã bị xếp đá thấp hơn so với Diego Milito, Là linh hồn trong mọi đợt phản - tấn công, anh thường xuyên được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu tại Serie A, cũng như tại UEFA Champions League, đặc biệt Samuel Eto'o chính là nhân tố giúp Inter đánh bại đội bóng cũ Barcelona của mình tại đấu trường này - đội bóng mùa trước từng cùng anh giành cú ăn 6 lịch sử. Cũng trong thời gian ở Inter anh đã đi vào lịch sử khi là người tham gia đầy đủ ở 3 trân chung kết champions league đầu tiên và đều đi đến thắng lợi sau cùng, anh cũng là người góp công lới vào cú ăn ba thần thánh của Inter mùa giải 2009/2010 khi vô địch trên cả ba mặt trận là Copa Italy, Serie A, Champions league.

FC Anzhi Makhachkala[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tạo dấu ấn rất lớn ở Inter Milan, là linh hồn trong lối chơi của đội bóng thủ đô nước Ý, anh đã được trải thảm đỏ để sang đội bóng nhà giàu nước Nga thi đấu. Tại đây, anh đã trở thành cầu thủ nhận lương cao nhất thế giới, 400.000 euro/tuần. Tuy nhiên đến tháng 7/2013, CLB Anzhi Makhachkala đã phải cắt giảm phân lớn chi phí hoạt động do ông chủ CLB là tỷ phú Suleyman Kerimov đã bị điều tra về những vi phạm kinh tế cùng với việc thua lỗ trong kinh doanh. Vì vậy Eto'o đã bi CLB Anzhi Makhachkala cắt giảm lương và anh đã yêu cầu được giải phóng hợp đồng để tìm CLB mới.

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 8 năm 2013, trang chủ câu lạc bộ Chelsea chính thức xác nhận Eto'o đã ký vào bảng hợp đồng có thời hạn 1 năm với đội chủ sân Stamford Bridge[1]. Anh sẽ mang số áo 29, số áo đang thuộc về tiền đạo Demba Ba, và Chelsea đã quyết định đổi số áo của Demba Ba thành số 19. Tại Chelsea Eto'o sẽ tái ngộ với huấn luyện viên José Mourinho, người đã từng làm việc với anh ở Inter Milan.

Anh có bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ mới đến trong trận thắng 4-1 trước Cardiff City vào ngày 19 tháng 10, trước đó anh đã kiến tạo cho Eden Hazard ghi bàn mở tỉ số.[2] Ngày 7 tháng 11 anh lập cú đúp giúp Chelsea thắng Schalke 04 4-0 trong trận đấu thuộc khuôn khổ lượt về vòng bảng Champions League[3].

Ngày 19/01/2014 Eto'o có cú Hatrick đầu tiên cho Chelsea vào lưới Manchester United tại vòng 22 Ngoại Hạng Anh, giúp Chelsea thắng chung cuộc 3-1. Anh ghi tên mình là cầu thủ thứ 4 ghi được 3 bàn thắng vào lưới Manchester United từ năm 1954 tại các giải quốc nội Anh.

Tháng 6/2014 anh chuyển sang Everton

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2014 (tức đến khi chia đội tuyển quốc gia Cameroon), Samuel Eto'o đã chơi cho đội tuyển bóng đá Cameroon 118 trận và ghi được 56 bàn thắng. Trong đó, trận đấu quốc tế đầu tiên của anh là trận giao hữu với đội tuyển Costa Rica vào ngày 9 tháng 3 năm 1996.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 15 tháng 8, 2015.[4]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia[5] Châu Âu[6] Tổng cộng
Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo
Leganés 1997–98 30 4 0 0 0 0 30 4
Tổng cộng 30 4 0 0 0 0 30 4
Real Madrid 1998–99 1 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 1 0 0 0 0 0 1 0
Espanyol 1998–99 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng 0 0 0 0 0 0 0 0
Real Madrid 1999–2000 2 0 0 0 3 0 5 0
Tổng cộng 2 0 0 0 3 0 5 0
Mallorca 1999–2000 13 6 0 0 13 6
2000–01 28 11 5 2 33 13
2001–02 30 6 1 1 9 3 40 10
2002–03 32 14 6 5 0 0 38 19
2003–04 32 17 2 0 7 4 41 21
Tổng cộng 135 54 14 8 16 7 165 69
Barcelona 2004–05 37 25 6 1 0 0 7 4 0 45 29 6
2005–06 35 26 5 2 2 0 11 6 4 48 34 9
2006–07 19 11 8 4 1 0 4 1 3 27 13 11
2007–08 18 16 3 4 0 0 7 1 0 29 17 3
2008–09 36 30 4 4 0 0 12 6 2 52 36 6
Tổng cộng 145 108 26 15 3 0 41 18 9 201 129 35
Inter Milan 2009–10 32 12 5 3 2 0 13 2 2 48 16 7
2010–11 35 21 9 7 8 1 11 8 5 53 37 15
Tổng cộng 67 33 14 10 10 1 24 10 7 101 53 22
Anzhi Makhachkala 2011–12 22 13 6 1 0 0 0 0 0 23 13 6
2012–13 25 10 5 3 2 0 16 9 3 44 21 8
2013–14 4 2 0 0 0 0 0 0 0 4 2 0
Tổng cộng 51 25 11 4 2 0 16 9 3 71 36 14
Chelsea 2013–14 21 9 4 5 0 0 9 3 2 34 12 6
Tổng cộng 21 9 4 5 0 0 9 3 2 34 12 6
Everton 2014–15 14 3 1 2 0 0 4 1 1 20 4 2
Tổng cộng 14 3 1 2 0 0 4 1 1 20 4 2
Sampdoria 2014–15 18 2 2 18 2 2
Tổng cộng 18 2 2 18 2 2
Antalyaspor 2015–16 11 9 0 0 0 0 11 9 0
Tổng cộng 11 9 0 0 0 0 11 9 0
Tổng cộng 494 246 58 50 23 1 113 48 22 655 318 81

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

[7]

Cameroon
Năm Trận Bàn
1997 3 0
1998 5 0
1999 1 0
2000 9 5
2001 9 2
2002 13 5
2003 7 2
2004 9 4
2005 6 1
2006 5 5
2007 3 1
2008 11 11
2009 8 5
2010 12 8
2011 9 4
2012 2 0
2013 4 2
2014 3 1
Tổng cộng 118 56

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Source:[7]

# Ngày Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 28 tháng 1, 2000  Bờ Biển Ngà 2–0 3–0 CAN 2000
2. 6 tháng 2, 2000  Algérie 1–0 2–1 CAN 2000
3. 10 tháng 2, 2000  Tunisia 2–0 3–0 CAN 2000
4. 13 tháng 2, 2000  Nigeria 0–1 2–2 CAN 2000
5. 19 tháng 4, 2000  Somalia 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2002
6. 28 tháng 1, 2001  Togo 0–1 0–2 Vòng loại World Cup 2002
7. 1 tháng 7, 2001  Togo 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2002
8. 7 tháng 1, 2002  Burkina Faso 1–0 3–1 Giao hữu
9. 29 tháng 1, 2002  Togo 2–0 3–0 CAN 2002
10. 27 tháng 3, 2002  Argentina 1–1 2–2 Giao hữu
11. 26 tháng 5, 2002  Anh 0–1 2–2 Giao hữu
12. 6 tháng 6, 2002  Ả Rập Saudi 1–0 1–0 World Cup 2002
13. 27 tháng 3, 2003  Madagascar 2–0 2–0 Tunis Tournament
14. 19 tháng 6, 2003  Brasil 0–1 0–1 Confed Cup 2003
15. 8 tháng 2, 2004  Nigeria 1–2 1–2 CAN 2004
16. 6 tháng 6, 2004  Bénin 1–1 2–1 Vòng loại World Cup 2006
17. 4 tháng 7, 2004  Bờ Biển Ngà 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2006
18. 15 tháng 9, 2004  Ai Cập 3–2 3–2 Vòng loại World Cup 2006
19. 4 tháng 6, 2005  Bénin 0–4 1–4 Vòng loại World Cup 2006
20. 21 tháng 1, 2006  Angola 1–0 3–1 CAN 2006
21. 2–1
22. 3–1
23. 25 tháng 1, 2006  Togo 1–0 2–0 CAN 2006
24. 29 tháng 1, 2006  CHDC Congo 2–0 2–0 CAN 2006
25. 3 tháng 6, 2007  Liberia 0–2 1–2 Vòng loại CAN 2008
26. 22 tháng 1, 2008  Ai Cập 3–1 4–2 CAN 2008
27. 4–2
28. 26 tháng 1, 2008  Zambia 4–0 5–1 CAN 2008
29. 30 tháng 1, 2008  Sudan 1–0 3–0 CAN 2008
30. 3–0
31. 31 tháng 5, 2008  Cabo Verde 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2010
32. 8 tháng 6, 2008  Mauritius 0–2 3–0 Vòng loại World Cup 2010
33. 21 tháng 6, 2008  Tanzania 1–0 2–1 Vòng loại World Cup 2010
34. 2–1
35. 11 tháng 10, 2008  Mauritius 1–0 5–0 Vòng loại World Cup 2010
36. 2–0
37. 11 tháng 2, 2009  Guinée 2–1 3–1 Giao hữu
38. 11 tháng 2, 2009  Guinée 3–1 3–1 Giao hữu
39. 5 tháng 9, 2009  Gabon 0–2 0–2 Vòng loại World Cup 2010
40. 9 tháng 9, 2009  Gabon 2–0 2–1 Vòng loại World Cup 2010
41. 14 tháng 11, 2009  Maroc 0–2 0–2 Vòng loại World Cup 2010
42. 17 tháng 1, 2010  Zambia 2–1 3–2 CAN 2010
43. 21 tháng 1, 2010  Tunisia 1–1 2–2 CAN 2010
44. 19 tháng 6, 2010  Đan Mạch 1–0 1–2 World Cup 2010
45. 24 tháng 6, 2010  Hà Lan 1–1 1–2 World Cup 2010
46. 11 tháng 8, 2010  Ba Lan 0–1 0–3 Giao hữu
47. 11 tháng 8, 2010  Ba Lan 0–2 0–3 Giao hữu
48. 4 tháng 9, 2010  Mauritius 0–1 1–3 Vòng loại CAN 2012
49. 1–2
50. 3 tháng 9, 2011  Mauritius 3–0 6–0 Vòng loại CAN 2012
51. 7 tháng 10, 2011  CHDC Congo 1–1 2–3 Vòng loại CAN 2012
52. 11 tháng 11, 2011  Sudan 3–1 3–1 2011 LG Cup (Morocco)
53. 13 tháng 11, 2011  Maroc 0–1 1–1 2011 LG Cup (Morocco)
54. 23 tháng 3, 2013  Togo 1–0 2–1 Vòng loại World Cup 2014
55. 2–1
56. 1 tháng 6, 2014  Đức 0–1 2–2 Giao hữu

Danh hiệu Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

RCD Espanyol
Real Mallorca
FC Barcelona
Inter Milan

Anzhi Makhachkala

  • Á quân Cúp Nga (Russian cup): 2013
  • Lọt vào vòng 1/16 Europa League: 2013

Chelsea FC

Đội tuyển Cameroon[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]