U.C. Sampdoria

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sampdoria
logo
Tên đầy đủUnione Calcio Sampdoria S.p.A.
Biệt danhI Blucerchiati (Chiếc vòng xanh)
La Samp'
Il Doria
Thành lập12 tháng 8 năm 1946; 74 năm trước (1946-08-12)
SânStadio Luigi Ferraris
Sức chứa36.536
Chủ tịchMassimo Ferrero
Huấn luyện viên trưởngEusebio Di Francesco
Giải đấuSerie A
2019–20Serie A, 15 trên 20
Trang webTrang web của câu lạc bộ

Unione Calcio Sampdoria là một câu lạc bộ bóng đá có trụ sở ở Genova, Ý. Đội bóng được thành lập vào năm 1946 khi được tách ra từ hai câu lạc bộ thể thao Sampierdarenese và Andrea Doria.

Sampdoria hiện đang chơi ở giải Serie A. Màu áo truyền thống của đội bóng là xanh và trắng, đỏ và đen là màu áo phụ. Sampdoria có sân nhà là sân Stadio Luigi Ferraris, có sức chứa 36,536, và chia sẻ sân cùng đội bóng khác ở Genoa, đội Cricket Genoa và câu lạc bộ bóng đá. Trận đấu giữa hai đội được biết đến với cái tên Derby della Lanterna.

Sampdoria đã vô địch scudetto một lần trong lịch sử của họ, vào mùa giải 1991. CLB cũng vô địch Cúp quốc gia Italia 4 lần (1985, 1988, 1989 và 1994). Thành công lớn nhất của họ ở đấu trường châu Âu là chức vô địch Cúp C2 vào năm 1990. Họ cũng vào tới trận chung kết cúp C1 1992 và chỉ để thua FC Barcelona 1-0 sau hiệp phụ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Ginnastica Sampierdarenese được thành lập vào năm 1891, câu lạc bộ bóng đá được mở vào năm 1899. Cũng trong khoảng thời gian đó, một câu lạc bộ tên Society Andrea Doria được thành lập vào năm 1895, và họ bắt đầu được chú ý nhờ những ảnh hưởng của họ cho bóng đá.

Andrea Doria: Sự tham gia vào giải đấu thời kì đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Andrea Doria không tham gia vào giải đấu cao nhất của nước Ý được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá Ý mà thay vào đó họ đăng ký để tham dự các giải đấu được tổ chức bởi liên đoàn Ginnastica. Đội bóng cuối cùng cũng tham dự giải vô địch Ý vào năm 1903, nhưng không thắng trận nào ở giải này cho tới năm 1907 khi họ đánh bại đối thủ cùng thành phố Genoa 3-1.

Phải tới mùa giải 1910-11 đội bóng mới bắt đầu thực hiện lời hứa; Trong mùa giải đó họ về đích trên cả Juventus, Inter Milan và Genoa ở giải Piedmont-Lombardy-Liguria.

Sau thế chiến thứ I[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thế chiến thứ I, Sampierdarenese cuối cùng bắt đầu tham dự giải vô địch Ý, mùa giải đầu tiên họ trở lại Andrea Doria không xuất hiện. Tuy nhiên, vào năm 1920 Doria trở lại và hai đội gặp nhau lần đầu tiên; Doria thắng trong cả hai trận (4-1 và 1-0); họ cũng bước lên ngôi vô địch giả khu vực Liguria.

Ở mùa giải 1921-22, giải đấu cao nhất nước Ý được chia thành hai giải; cả hai đội bóng trong lịch sử của Sampdoria cũng bị chia cắt ở hai giải đấu trong năm đó. Sampierdarenese chơi ở giải F.I.G.C, trong khi Andrea Doria chơi ở giải của C.C.I.

Sampierdarenese thắng ở khu vực Ligura và sau đó vào đến bán kết, kết thúc ở nhóm ba đội dẫn đầu; điều này đưa họ tới trận chung kết gặp Novese. Cả hai lượt trận chung kết kết thúc với tỉ số 0-0, và một trận đấu nữa đã phải tổ chức ở Cremona vào ngày 21 tháng 5 năm 1922. Vẫn bất phân thắng bại, trận đấu đi đến hiệp phụ và Novese thắng 2-1.

Sau đó hệ thống giải đấu ở Ý được chuyển lại thành một giải, Sampierdarenese được đánh giá cao hơn Andrea Doria. Ở mùa giải 1924-25 hai đội bóng phải gặp nhau ở giải phía Bắc; Doria đứng cao hơn 1 bậc thắng đối thủ của họ 2-1 trong một trận, trong khi Sampierdarenese thắng 2-0 ở trận còn lại. Vào cuối mùa giải 1926-27, hai đội bóng hợp lại dưới cái tên La Dominante Genova.

Các huấn luyện viên trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Serie A: 1

Serie B: 2

Coppa Italia: 4

Supercoppa Italiana: 1

  • Vô địch: 1991
  • Về nhì: 1988, 1989, 1994

UEFA Champions League

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 9 tháng 7 năm 2020[1]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Ý Emil Auero
3 HV Ý Augello Tommaso
4 TV Anh Vieira Ronaldo
5 HV Đức Julian Chabot
6 TV Thụy Điển Albin Ekdal
7 TV Ba Lan Karol Linetti
9 Ý Federico Bonazzoli
11 Uruguay Gastón Ramírez
12 HV Ý Fabio Depaoli
14 TV Cộng hòa Séc Jakub Jankto
15 HV Gambia Omar Colley
16 TV Na Uy Kristoffer Askildsen
17 Ý Antonino La Gumina
18 TV Na Uy Morten Thorsby
20 Argentina Gonzalo Maroni
Số VT Quốc gia Cầu thủ
21 HV Ý Lorenzo Tonelli
22 TM Ý Andrea Seculin
23 Ý Manolo Gabiadini
24 HV Ba Lan Bartosz Bereszynski
25 HV Ý Alex Ferrari
26 TV Pháp Mehdi Léris
27 Ý Fabio Quagliarella ((Đội trưởng))
29 HV Ý Nicola Murru
30 TM Ý Wladimiro Falcone
32 Ý Felice D'Aamico
33 HV Brasil Kaique Rocha
34 HV Nhật Bản Maya Yoshida
91 TV Ý Andrea Bertolacci

Ra đi theo dạng cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 23 tháng 1 năm 2019

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Ý Wladimiro Falcone
HV Brasil Dodô
HV Ý Vasco Regini
HV Croatia Lorenco Šimić
TV Ý Leonardo Capezzi
TV Ý Federico Furlan
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Ý Alessandro Gabbani
TV Ý Antonio Palumbo
TV Ý Gabriele Rolando
TV Ý Valerio Verre
Ý Federico Bonazzoli

Các cựu cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Prima Squadra” (bằng tiếng Italian). U.C. Sampdoria. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)