Luciano Spalletti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Luciano Spalletti
Luciano Spalletti Inter.jpg
Spalletti với Internazionale năm 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luciano Spalletti
Ngày sinh 7 tháng 3, 1959 (60 tuổi)
Nơi sinh Certaldo, Ý
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
-
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1984–1985 Castelfiorentino ? (?)
1985–1986 Entella 27 (2)
1986–1990 Spezia 120 (7)
1990–1991 Viareggio 29 (1)
1991–1993 Empoli 60 (3)
Tổng cộng 236 (13)
Các đội đã huấn luyện
1995–1998 Empoli
1998–1999 Sampdoria
1999–2000 Venezia
2001 Udinese
2001–2002 Ancona
2002–2005 Udinese
2005–2009 Roma
2009–2014 Zenit St. Petersburg
2016–2017 Roma
2017–2019 Internazionale
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia

Luciano Spalletti (phát âm tiếng Ý: [luˈtʃaːno spalˈletti] sinh ngày 7 tháng 3 năm 1959) là một huấn luyện viên người Ý và là cựu cầu thủ, ông là cựu huấn luyện viên của câu lạc bộ Internazionale đang thi đấu tại Serie A.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Spalletti sinh ra ở Certaldo, tỉnh Florence, ông chơi cho các CLB ở Serie C như Entella, Spezia, ViareggioEmpoli.

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp HLV ban đầu của Spalletti ở Empoli gặp khó khăn. Ông là huấn luyện viên trưởng từ tháng 7 năm 1993 đến tháng 6 năm 1998.[1] Ông đã dẫn dắt đội bóng vùng Tuscan thăng hạng liên tiếp từ Serie C1 đến Serie A. Spalletti sau đó đã huấn luyện Sampdoria từ tháng 7 năm 1998 đến tháng 6 năm 1999,[2]Venezia từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1999.[3]

Spalletti đã có hai giai đoạn là huấn luyện viên trưởng tại Udinese. Lần thứ nhất là giữa tháng 3 năm 2001 đến tháng 6 năm 2001.[4], lần thứ hai giữa tháng 7 năm 2002 [4] đến tháng 6 năm 2005.[5]. Khoảng thời gian giữa đó ông là HLV tại Ancona.[6]

Trong mùa giải 2004-2005, Spalletti đã dẫn dắt Udinese cán đích vị trí thứ tư ở Serie A, vượt quá mong đợi và đảm bảo một vị trí tham dự UEFA Champions League. Spalletti trở thành HLV của Roma vào tháng 6 năm 2005.[5]

Roma[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công tại một CLB với nguồn lực hạn chế đã thu hút sự chú ý của Roma. Đội bóng thủ đô đã có một mùa giải đáng thất vọng, với 4 huấn luyện viên khác nhau trong mùa giải. Spalletti được giao nhiệm vụ lập lại trật tự cho CLB. Sau nửa đầu mùa giải 2005, Spalletti đã thay đổi chiến thuật của đội để thiên về lối chơi tấn công hơn là phòng thủ. Đội hình ưa thích của Spalletti là hệ thống 4-2-3-1, sử dụng bốn hậu vệ, hai tiền vệ phòng ngự, hai tiền vệ cánh, một tiền vệ tấn công và một tiền đạo Francesco Totti, người thường hoạt động như một cuộc tiền vệ tấn công ở những mùa giải trước. Như vậy, Roma đã chơi mà không có bất kỳ tiền đạo thực sự nào, vị trí của Totti sau này được gọi là số 9 ảo.[7][8] Hệ thống này tỏ ra hiệu quả với Roma khi được giới thiệu trong mùa giải 2005-06, vì vào ngày 26 tháng 2 năm 2006, Roma đã phá vỡ kỷ lục Serie A khi giành chiến thắng liên tiếp với chiến thắng 2-0 trước Lazio, sau chuỗi 11 trận thắng liên tiếp. Kết quả là Roma đã leo từ vị trí thứ 15 lên vị trí thứ 5 trên BXH.[9] Tuy nhiên, đến cuối mùa giải, Roma không đạt được vị trí thứ tư, do đó không thể giành quyền tham dự Champions League. Spalletti đã cố gắng giúp Roma lọt vào Chung kết Coppa Italia năm 2006, nhưng cuối cùng lại mất danh hiệu trước Inter Milan. Tuy nhiên, do hậu quả của vụ bê bối dàn xếp trận đấu Serie A năm 2006, Roma đủ điều kiện tham dự UEFA Champions League 2006, khi nhà vô địch giải đấu Juventus bị xuống hạng, trong khi FiorentinaMilan đều bị trừ điểm vì có dính dáng đến vụ bê bối.

Vào cuối năm 2006, Spalletti đã được bầu làm HLV của năm Serie A[9] và trong những tháng tiếp theo, đã dẫn dắt Roma đến tứ kết Champions League sau chiến thắng 2-0 trước Lyon trên sân Stade Gerland tại lượt về vòng 1/16. Roma đã là đội đầu tiên đánh bại Inter Milan của Roberto Mancini trong tất cả các trận đối đầu năm đó, nổi bật là kết quả 1-3 tại San Siro. Roma cũng giành chiến thắng trong trận Chung kết Coppa Italia năm 2007 với Inter, với kết quả chung cuộc là 7-4; tỷ số 6-2 vang dội ở trận lượt đi tại Rome và sau đó là trận thua sát nút 2-1 ở Milan. Đó là danh hiệu quan trọng đầu tiên trong sự nghiệp của Spalletti, người chỉ giành được một Coppa Italia di Serie C với Empoli trước đó. Sau đó ông còn giành thêm Siêu cúp bóng đá Ý vào đầu mùa giải 2007–08, thắng 0-1 trước Inter Milan.

Ở vòng đấu loại trực tiếp đầu tiên của Champions League mùa 2007-08, Roma của Spalletti đã trở thành đội bóng đầu tiên của Ý đánh bại Real Madrid cả hai lượt trận (2-1 ở cả hai trận đấu tại RomeMadrid). Tại trận tứ kết, Roma một lần nữa bị loại khỏi Champions League bởi Manchester United. Tuy nhiên, họ đã thành công trong việc bảo vệ Coppa Italia, một lần nữa đánh bại đội vô địch Scudetto - Inter trong trận Chung kết Coppa Italia 2008 - trận đấu mà Roma thắng 2-1.

Spalletti phải đối mặt với một mùa giải 2008-09 khó khăn, chỉ đủ điều kiện tham dự vòng sơ loại Europa League bằng vị trí thứ 6 tại Serie A. Roma nằm ở nửa sau của bảng xếp hạng Serie A.

Mùa đó ​​Spalletti phải vật lộn với một đội hình hạn chế, tình hình còn tệ hơn sau khi bán Alberto Aquilani cho Liverpool và đội còn gặp phải vấn đề tài chính nghiêm trọng. Roma bắt đầu mùa giải bằng vòng sư loại thứ 2 Europa League 2009-10, giành chiến thắng dễ dàng cả hai trận trước Gent (10-2 sau 2 lượt trận) và Košice (10-4 sau 2 lượt trận). Tuy nhiên, khởi đầu nghèo nàn tại mùa giải 2009-10 Serie A, với hai trận thua liên tiếp (2-3 trước Genoa và 1-3, trên sân nhà, trước Juventus) đã khiến Spalletti phải từ chức vào ngày 01 tháng 9 năm 2009.

Zenit[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 2009, Spalletti đã xác nhận sẽ gia nhập câu lạc bộ Premier League của Nga - Zenit Saint Petersburg trong một hợp đồng 3 năm, thay thế huấn luyện viên tạm thời Anatoly Davydov. Ban huấn luyện người Ý gồm Daniele Baldini, Marco Domenichini và Alberto Bartali cũng gia nhập câu lạc bộ Nga. Trong năm đầu tiên, ban giám đốc của Zenit đã kỳ vọng Spalletti sẽ trở lại danh hiệu Premier League, giành Cup Nga và vượt qua vòng bảng Champions League.

Sau 4 mùa dẫn dắt Zenit, Spalletti giành được 1 chức vô địch ngoại hạng Nga, một cúp quốc gia Nga và một siêu cúp Nga.

Trở lại Roma[sửa | sửa mã nguồn]

Spalletti được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Roma lần thứ hai vào ngày 13 tháng 01 năm 2016, sau khi huấn luyện viên cũ Rudi Garcia bị sa thải do màn trình diễn kém của đội bóng. Vào ngày 21 tháng 02, Francesco Totti công khai chỉ trích Spalletti do không được thi đấu kể từ khi trở lại sau chấn thương. Sau đó Spalletti bắt đầu sử dụng Totti, quyết định này đem lại hiệu quả khi Totti tìm lại phong độ của mình - đóng góp 4 bàn thắng và 1 kiến tạo sau 5 lần ra sân liên tiếp.

Lần thứ 2 làm huấn luyện viên Roma, Spalletti giúp đội tham dự Champions League trong hai mùa liên tiếp.

Ngày 30 tháng 5 năm 2017, 2 ngày sau khi kết thúc mùa giải 2016-17 ở vị trí thứ hai, Roma xác nhận câu lạc bộ và Spalletti đồng thuận chấm dứt hợp đồng.

Internazionale[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 09 tháng 6 năm 2017, Spalletti được xác nhận là huấn luyện viên mới của Inter, với hợp đồng có thời hạn 2 năm. Thỏa thuận có được sau khi ông tới Nam Kinh, Trung Quốc, để hội đàm với Zhang Jindong, giám đốc điều hành của Suning Holdings Group, chủ sở hữu đa số của Inter.

Internazionale là đội bóng duy nhất bất bại sau 16 vòng đầu tiên Serie A. Ngày 20 tháng 5 năm 2018, tại trận đấu cuối cùng của mùa giải, Inter đã đánh bại Lazio 2-3 để kết thúc giải đấu ở vị trí thứ tư và do đó đủ điều kiện tham dự UEFA Champions League lần đầu tiên sau 6 năm. Tháng 8 năm 2018, câu lạc bộ đã gia hạn hợp đồng với Spalletti, thêm 2 năm nữa đến năm 2021.

Kết thúc mùa giải 2018-19, câu lạc bộ một lần nữa giành được suất dự UEFA Champions League. Tuy nhiên, Spalletti đã bị sa thải vào ngày 30 tháng 5 năm 2019 sau nhiều đồn đoán trước đó.

Thống kê sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 5 năm 2019
Đội Từ Đến Thống kê
Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Hiệu
số
Tỷ lệ
thắng (%)
Tham
khảo
Empoli 1 tháng 7 năm 1995[1] 30 tháng 6 năm 1998[1] &0000000000000176.000000176 &0000000000000060.00000060 &0000000000000061.00000061 &0000000000000055.00000055 &0000000000000199.000000199 &0000000000000179.000000179 +20 0&0000000000000034.09000034,09 [10][11][12]
[13][14]
Sampdoria 1 tháng 7 năm 1998[2] 30 tháng 6 năm 1999[2] &0000000000000044.00000044 &0000000000000014.00000014 &0000000000000011.00000011 &0000000000000019.00000019 &0000000000000049.00000049 &0000000000000062.00000062 −13 0&0000000000000031.82000031,82
Venezia 1 tháng 7 năm 1999[3] 31 tháng 10 năm 1999[3] &0000000000000008.0000008 &0000000000000001.0000001 &0000000000000002.0000002 &0000000000000005.0000005 &0000000000000006.0000006 &0000000000000011.00000011 −5 0&0000000000000012.50000012,50
Udinese 22 tháng 3 năm 2001[4] 30 tháng 6 năm 2001[4] &0000000000000011.00000011 &0000000000000002.0000002 &0000000000000004.0000004 &0000000000000005.0000005 &0000000000000013.00000013 &0000000000000019.00000019 −6 0&0000000000000018.18000018,18
Ancona 1 tháng 7 năm 2001[15] 30 June 2002[15] &0000000000000038.00000038 &0000000000000014.00000014 &0000000000000008.0000008 &0000000000000016.00000016 &0000000000000043.00000043 &0000000000000052.00000052 −9 0&0000000000000036.84000036,84 [16]
Udinese 1 tháng 7 năm 2002[4] 16 tháng 6 năm 2005[5] &0000000000000121.000000121 &0000000000000052.00000052 &0000000000000032.00000032 &0000000000000037.00000037 &0000000000000165.000000165 &0000000000000142.000000142 +23 0&0000000000000042.98000042,98
Roma 16 tháng 6 năm 2005[5] 1 tháng 9 năm 2009[17] &0000000000000217.000000217 &0000000000000118.000000118 &0000000000000051.00000051 &0000000000000048.00000048 &0000000000000403.000000403 &0000000000000256.000000256 +147 0&0000000000000054.38000054,38
Zenit 11 tháng 12 năm 2009[18] 10 tháng 3 năm 2014[19] &0000000000000179.000000179 &0000000000000103.000000103 &0000000000000047.00000047 &0000000000000029.00000029 &0000000000000319.000000319 &0000000000000167.000000167 +152 0&0000000000000057.54000057,54
Roma 13 tháng 1 năm 2016 30 tháng 5 năm 2017 &0000000000000075.00000075 &0000000000000050.00000050 &0000000000000011.00000011 &0000000000000014.00000014 &0000000000000169.000000169 &0000000000000082.00000082 +87 0&0000000000000066.67000066,67
Inter Milan 9 tháng 6 năm 2017 30 tháng 5 năm 2019 &0000000000000090.00000090 &0000000000000045.00000045 &0000000000000026.00000026 &0000000000000019.00000019 &0000000000000141.000000141 &0000000000000075.00000075 +66 0&0000000000000050.00000050,00
Tổng cộng &0000000000000957.000000957 &0000000000000457.000000457 &0000000000000252.000000252 &0000000000000248.000000248 &0000000000001502.0000001.502 &0000000000001042.0000001.042 +460 0&0000000000000047.75000047,75

Thành tích huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu Vô địch quốc gia Cúp quốc gia Siêu cúp quốc gia Champions League
Câu lạc bộ Mùa giải Quốc gia Châu Âu

(UEFA)

A.S. Roma 2005-06 Thứ 2 Á quân Á quân
2006-07 Thứ 2 Vô địch Vô địch Tứ kết
2007-08 Thứ 2 Vô địch Á quân Tứ kết
2008-09 Thứ 6 Tứ kết Vòng 1/16
2009-10 Thứ 2
2015-16 Thứ 3 Vòng 1/16
2016-17 Thứ 2 Bán kết Play-off
Inter Milan
2017-18 Thứ 4 Tứ kết
2018-19 Thứ 4 Tứ kết Vòng bảng

Huân chương[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Empoli

Roma

Zenit

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Empoli FC » Trainerhistorie”. World Football. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  2. ^ a ă â “Sampdoria » Trainerhistorie”. World Football. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ a ă â “FBC Unione Venezia » Trainerhistorie”. World Football. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  4. ^ a ă â b c “Udinese Calcio » Trainerhistorie”. World Football. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  5. ^ a ă â b “Spalletti übernimmt Roma”. kicker (bằng tiếng Đức). 16 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  6. ^ “Luciano Spalletti”. World Football. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  7. ^ “Great Team Tactics: Francesco Totti, Roma and the First False Nine”. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  8. ^ Jonathan Wilson (27 tháng 10 năm 2009). “The Question: Why are teams so tentative about false nines?”. The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2015. 
  9. ^ a ă “Official: Spalletti returns to lead Roma”. A.S. Roma. 14 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016. 
  10. ^ Mariani, Maurizio. “Italy Championship 1993/94”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  11. ^ Mariani, Maurizio. “Italy Championship 1994/95”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  12. ^ Mariani, Maurizio. “Italy Championship 1995/96”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  13. ^ Mariani, Maurizio. “Italy Championship 1996/97”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  14. ^ Mariani, Maurizio. “Italy Championship 1997/98”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  15. ^ a ă “Ancona Calcio » Historical results”. World Football. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  16. ^ Misha Miladinovich; Giacomo Giusti; Alberto Novello. “Italy 2001/02”. RSSSF. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Roma's Spalletti resigns, Ranieri linked with job
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Spalletti: Alles klar mit Zenit
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Zenit setzt Spalletti vor die Tür
  20. ^ “Ibra re del calcio italiano Lo segue a ruota Del Piero” (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. 19 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015. 
  21. ^ “Albo "Panchina d'Oro" (bằng tiếng Ý). Alleniamo.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]