Dries Mertens

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dries Mertens
DriesMertens.jpg
Ảnh chụp Mertens năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Dries Mertens
Ngày sinh 6 tháng 5, 1987 (32 tuổi)
Nơi sinh Leuven, Bỉ
Chiều cao 1,69 m (5 ft 7 in)
Vị trí Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Napoli
Số áo 14
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1996–1998 Stade Leuven
1998–2003 Anderlecht
2003–2005 Gent
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2007 Gent 0 (0)
2005–2006Eendracht Aalst (cho mượn) 14 (4)
2006–2007AGOVV (cho mượn) 35 (2)
2007–2009 AGOVV 73 (28)
2009–2011 Utrecht 65 (16)
2011–2013 PSV 62 (37)
2013– Napoli 205 (85)
Đội tuyển quốc gia
2004 U-17 Bỉ 4 (0)
2011– Bỉ 85 (17)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 26 tháng 5 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 11 tháng 6 năm 2019

Dries Mertens (phát âm tiếng Hà Lan: [ˈdris ˈmɛrtə(n)s], sinh ngày 6 tháng 5 năm 1987) là cầu thủ tiền vệ cánh người Bỉ hiện đang thi đấu cho câu lạc bộ Napoli tại Serie AĐội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ.

Trước khi đến Napoli, Mertens đã từng thi đấu cho các câu lạc bộ K.A.A. Gent, Eendracht Aalst, AGOVV Apeldoorn, FC UtrechtPSV Eindhoven.

Anh là thành viên đội tuyển Bỉ tham gia các giải đấu lớn World Cup 2014, Euro 2016World Cup 2018.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mertens từng gia nhập học viện đào tạo bóng đá của câu lạc bộ quê nhà Stade Leuven và sau đó là Anderlecht. Tuy nhiên, huấn luyện viên đội trẻ của Anderlecht đánh giá anh không đủ chiều cao và sức mạnh để trở thành cầu thủ chuyên nghiệp dù có kỹ thuật rê dắt và sút bóng nên Merterns đã đến Gent.[1]

Tại Gent, ban huấn luyện câu lạc bộ này tiếp tục có đánh giá tương tự như Anderlecht. Do đó, Gent đã cho câu lạc bộ tại giải hạng ba Bỉ là Eendracht Aalst mượn anh và cuối mùa bóng 2005-06, anh được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Eendracht Aalst.[1] Tuy nhiên điều này vẫn không giúp Mertens được tiếp tục thi đấu cho Gent và anh phải đến Hà Lan thi đấu cho câu lạc bộ AGOVV Apeldoorn.

AGOVV và Utrecht[sửa | sửa mã nguồn]

Tại AGOVV, anh trở thành trụ cột của đội bóng này tại giải hạng nhì Hà Lan với vai trò đội trưởng. Năm 2009, anh được trao giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất giải hạng nhì Hà Lan.[2] Ngày 25 tháng 5 năm 2009, câu lạc bộ thi đấu tại Eredivisie FC Utrecht đã hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng Mertens với AGOVV bằng mức phí chuyển nhượng 600.000 . Anh rời AGOVV với 28 bàn thắng sau 103 trận.[3] Mertens thi đấu cực kỳ thành công trong màu áo Utrecht tại mùa giải mùa giải 2010-11 với 13 bàn thắng và 17 đường kiến tạo thành bàn.[4] Anh chỉ đứng sau tiền đạo Luis Suárez của Ajax Amsterdam trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất Eredivisie mùa giải đó.[5]

PSV Eindhoven[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 6 năm 2011, Mertens và người đồng đội tại Utrecht là Kevin Strootman đồng thời chuyển đến thi đấu cho PSV Eindhoven với mức chuyển nhượng tổng cộng là 13 triệu €.[6]

Mertens có hat-trick đầu tiên cho PSV vào ngày 28 tháng 8 năm 2011 trong trận đấu với Excelsior.[7] Sau đó, anh ghi đến bốn bàn trong chiến thắng hủy diệt 7-1 trước Roda JC ngày 24 tháng 9 năm 2011.[8] Đến tháng 1 năm 2012, Mertens đã có 13 bàn thắng và 11 đường chuyền kiến tạo ở Eredivisie, đóng góp gần 50% trong số 48 bàn thắng của PSV tại Eredivisie. Kết thúc mùa giải đầu tiên cho PSV, anh có 21 bàn thắng sau 33 trận tại Eredivisie[9] và ghi bàn trong trận chung kết Cúp KNVB với Heracles Almelo để đem về chiến thắng 3-0 chung cuộc cho PSV.[10] Tháng 8 năm 2012, anh cùng PSV giành tiếp chức vô địch Cúp Johan Cruyff (Siêu cúp bóng đá Hà Lan).

Ngày 30 tháng 9 năm 2012, Mertens và Jürgen Locadia mỗi người lập một hat-trick giúp PSV đánh bại VVV Venlo 6–0.[11] Trong hai mùa giải thi đấu cho PSV, anh ghi được 45 bàn thắng và có 43 pha kiến tạo thành bàn trong 88 trận đấu.[12]

Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 6 năm 2013, câu lạc bộ PSV Eindhoven xác nhận Mertens đã chính thức gia nhập Napoli theo bản hợp đồng năm năm với giá trị chuyển nhượng 9,5 triệu € và cũng là cầu thủ đầu tiên mà Rafael Benítez mang về trên cương vị tân huấn luyện viên trưởng của Napoli.[13] Anh có trận đấu đầu tiên tại Serie A vào ngày 25 tháng 8 năm 2013 trong chiến thắng 3-0 trước Bologna.[14] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Napoli diễn ra vào ngày 30 tháng 10, ấn định chiến thắng 2-1 trước Fiorentina.[15] Ngày 6 tháng 1 năm 2014, Mertens lập cú đúp trong hiệp hai giúp Napoli đánh bại Sampdoria 2-0.[16] Anh ghi bàn ấn định chiến thắng 2-0 trước đội đầu bảng Juventus vào ngày 30 tháng 3.[17] Trong trận chung kết Cúp quốc gia Ý 2013–14 ngày 3 tháng 5 năm 2014, Mertens vào sân từ băng ghế dự bị thay cho Marek Hamšík ở phút 64 đã giúp Napoli bảo đảm chiến thắng bằng bàn nâng tỉ số lên 3–1 trước Fiorentina.[18]

Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2014-15 với cú đúp vào lưới Sparta Praha để đem về chiến thắng mở màn cho Napoli tại UEFA Europa League 2014-15.[19] Đến trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Bratislava, anh là người mở tỉ số trong chiến thắng chung cuộc 3-0 của Napoli để giúp đội bóng Ý kết thúc vòng bảng với vị trí nhất bảng.[20] Ngày 18 tháng 5 năm 2015, Mertens có cú đúp trong trận thắng 3-2 trước Cesena để giúp Napoli duy trì vị trí tham dự UEFA Champions League mùa giải sau[21] nhưng thất bại trước Juventus và Lazio ở hai vòng đấu sau cùng đã đẩy Napoli xuống hạng 5 chung cuộc nên mất suất.

Napoli khởi đầu UEFA Europa League 2015-16 với thắng lợi 5-0 trước Club Brugge, trong đó Mertens ghi được hai bàn thắng. Anh tiếp tục có cú đúp nữa tại giải đấu này trong trận thắng 5-2 trước Legia Warsaw ngày 10 tháng 12 năm 2015.

Trong trận đấu đầu tiên của Napoli tại Serie A 2016-17 với Pescara, Mertens ghi được hai bàn thắng chỉ trong vòng ba phút để giúp Napoli giành lại 1 điểm. Tại trận đấu thứ hai vòng bảng UEFA Champions League 2016-17 với Benfica ngày 28 tháng 9 năm 2016, anh lập được cú đúp, trong đó có một quả sút phạt trực tiếp đẹp mắt để đem về chiến thắng 4-2 cho Napoli.[22]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Mertens được triệu tập vào đội tuyển Bỉ tham dự hai trận đấu vòng loại Euro 2012 với KazakhstanÁo bởi huấn luyện viên Georges Leekens.[23] Nhưng phải đến ngày 9 tháng 2 năm 2011 anh mới có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển Bỉ trong trận giao hữu với Phần Lan.

Bàn thắng đầu tiên của anh cho đội tuyển Bỉ cũng đến trong một trận giao hữu, trận đấu với Hà Lan ngày 15 tháng 8 năm 2012 và chung cuộc Bỉ đã thắng 4-2.[24]

World Cup 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13 tháng 5 năm 2014, anh được triệu tập vào đội hình đội tuyển Bỉ tham dự World Cup 2014 tại Brasil.[25] Anh đã ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu giao hữu trước giải đấu với Tunisia.[26] Tại trận mở màn của đội tuyển Bỉ tại World Cup 2014 với Algeria tại Belo Horizonte, Mertens vào sân thay cho Nacer Chadli đã ấn định chiến thắng chung cuộc 2-1 cho đội tuyển Bỉ ở phút thứ 80 của trận đấu.[27] Tuyển Bỉ sau cùng đã vào đến tứ kết của giải đấu trước khi để thua Argentina với tỉ số tối thiểu 0-1 bằng bàn thắng duy nhất của tiền đạo Gonzalo Higuain.

Euro 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Anh tiếp tục được huấn luyện viên Marc Wilmots triệu tập tham dự Euro 2016 trên đất Pháp. Tại giải đấu này, anh không ghi được bàn thắng nào nhưng đã có những đường kiến tạo thành bàn để giúp Bỉ lọt vào tứ kết và thua xứ Wales với tỉ số 1-3. Cá nhân Mertens không để lại dấu ấn gì.

World Cup 2018[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là giải đấu quốc tế lần thứ hai trong sự nghiệp của Mertens. Ở lượt trận đầu bảng G gặp tân binh Panama, anh là người bàn thắng mở tỉ số trước và chung cuộc Bỉ thắng Panama với tỉ số 3-0. Đội tuyển Bỉ sau đó kết thúc giải với vị trí thứ ba chung cuộc.

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Mertens là cầu thủ thuận chân phải nhưng chủ yếu thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh trái với khả năng ghi bàn tốt. Mặc dù chiều cao chỉ có 1,69m, nhưng nhờ trọng tâm thấp, Mertens có khả năng khống chế bóng tốt và tốc độ để vượt qua đối phương.[28] Phong cách dứt điểm của Mertens có thể so sánh với tiền vệ người Hà Lan Arjen Robben ở điểm từ cánh ngoặt bóng vào bên trong rồi tung ra những cú sút.[9] Điểm mạnh khác của Mertens là khả năng kiến tạo với những đường chuyền dài hoặc những pha phối hợp bật tường. Anh cũng là một chuyên gia xử lý bóng chết.[2]

Điểm yếu của anh là khả năng phòng ngự do thiếu khả năng tắc bóng cũng như đánh chặn và là một vấn đề khi đội bóng của anh đối đầu với các đội mạnh hơn.[2]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 25 tháng 5 năm 2019.[29]
Câu lạc bộ Mùa bóng Giải vô địch quốc gia Cúp quốc gia Cúp châu Âu Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Eendracht Aalst 2005–06 14 4 0 0 14 4
AGOVV Apeldoorn 2006–07 35 2 0 0 35 2
2007–08 38 15 0 0 38 15
2008–09 35 13 2 1 37 14
Tổng cộng 108 30 2 1 0 0 110 31
Utrecht 2009–10 34 6 5 1 39 7
2010–11 31 10 4 1 12 3 47 14
Tổng cộng 65 16 9 2 12 3 86 21
PSV 2011–12 33 21 5 3 11 3 49 27
2012–13 29 16 4 1 6 1 39 18
Tổng cộng 62 37 9 4 17 4 88 45
Napoli 2013-14 33 11 4 2 10 0 47 13
2014-15 31 6 5 0 15 4 51 10
2015-16 33 5 2 1 5 5 40 11
2016–17 35 28 3 1 8 5 46 34
2017-18 38 18 2 1 9 3 49 22
2018–19 35 17 1 0 11 3 47 20
Tổng cộng 205 85 17 5 58 20 280 110
Tổng cộng sự nghiệp 458 173 37 12 87 27 582 212

Bàn thắng đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của đội tuyển Bỉ được để đầu tiên
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 15 tháng 8 năm 2012 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Hà Lan
2–2
4–2
Giao hữu
2. 6 tháng 2 năm 2013 Sân vận động Jan Breydel, Bruges, Bỉ  Slovakia
2–1
2–1
Giao hữu
3. 7 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Tunisia
1–0
1–0
Giao hữu
4. 17 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Mineirão, Belo Horizonte, Brasil  Algérie
2–1
2–1
World Cup 2014
5. 4 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Sclessin, Liège, Bỉ  Úc
1-0
2-0
Giao hữu
6. 10 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Andorra
5–0
6–0
Vòng loại Euro 2016
7.
6–0
8. 13 tháng 10 năm 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Israel
1–0
3–1
Vòng loại Euro 2016
9. 10 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Algarve, Faro/Loulé, Bồ Đào Nha  Gibraltar
4–0
6–0
Vòng loại World Cup 2018
10. 12 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Estonia
2–0
8–1
Vòng loại World Cup 2018
11.
6–1
12. 9 tháng 6 năm 2017 A. Le Coq Arena, Tallinn, Estonia  Estonia
2–0
2–0
Vòng loại World Cup 2018
13. 31 tháng 8 năm 2017 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Gibraltar
1–0
9–0
Vòng loại World Cup 2018
14. 11 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Costa Rica
1–1
4–1
Giao hữu
15. 18 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Olympic Fisht, Sochi, Nga  Panama
1–0
3–0
World Cup 2018
16. 16 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Hà Lan
1–0
1–1
Giao hữu
17. 8 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Kazakhstan
1–0
3–0
Vòng loại Euro 2020

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

PSV Eindhoven
Napoli

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Eendracht Aalst: 2005-06
  • Cầu thủ xuất sắc nhất giải hạng nhì Hà Lan năm 2009

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia Bỉ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Why Napoli’s winger Dries Mertens should start for Belgium at the World Cup”. BeNeFoot. Ngày 30 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ a ă â “Everything you need to know about... Dries Mertens”. Ngày 16 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ “Official: Utrecht Sign AGOVV Forward Dries Mertens”. Goal. Ngày 25 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ “Forget Eden Hazard – Here’s Who Arsenal Should Buy…”. Football Talk. Ngày 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ “Talent Scout: Dries Mertens”. World Soccer. Ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “PSV agree deals for Utrecht duo Dries Mertens & Kevin Strootman”. Goal. Ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ “PSV thrash Excelsior to move into third”. The Daily Herald. Ngày 28 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ “PSV Eindhoven 7–1 Roda JC”. Goal. Ngày 24 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ a ă “Liverpool and Tottenham to battle over this Belgian international”. talkSPORT. Ngày 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ “PSV end Hercules fairytale to win cup”. FIFA. Ngày 18 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  11. ^ “VVV-Venlo - PSV (ngày 30 tháng 9 năm 2012)” (bằng tiếng Hà Lan). PSV. Ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ 'Gemengde gevoelens' Brands na verkoop van Mertens” (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. Ngày 24 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  13. ^ “Official: Dries Mertens joins Napoli”. Football Oranje. Ngày 24 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  14. ^ “Napoli 3–0 Bologna”. ESPNFC. Ngày 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  15. ^ “Napoli keep pressure on Roma”. ESPNFC. Ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  16. ^ “Mertens brace beats Samp”. ESPNFC. Ngày 6 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  17. ^ “Leaders Juventus lost for only the second time in Serie A this season as they fell to defeat at Napoli.”. BBC. Ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  18. ^ “Insigne brace seals Coppa”. ESPNFC. Ngày 3 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  19. ^ “Europa League Team of the Week: Coleman & Mertens shine on Matchday One”. Goal.com. Ngày 19 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2014. 
  20. ^ “Mertens ghi bàn đẹp mắt, Napoli của Benitez đại thắng”. TTVH Online. 12 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  21. ^ “Napoli 3-2 Cesena”. BBC Sport. 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  22. ^ “Champions League round-up: Dries Mertens stars for Napoli and Dynamo Kiev salvage draw at Besiktas”. Daily Mail Online. 29 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015. 
  23. ^ “Four debutants in Belgium selection”. UEFA.com. Ngày 1 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  24. ^ “Mertens aglow after Belgium floor Dutch”. Berend Scholten on UEFA.com. Ngày 15 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  25. ^ “Adnan Januzaj included in Belgium's World Cup squad”. BBC Sport. Ngày 13 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  26. ^ “Lukaku injured in late Belgium win”. ESPNFC. Ngày 7 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  27. ^ Chowdhury, Saj (ngày 17 tháng 6 năm 2014). “Belgium 2-1 Algeria”. BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  28. ^ “Talent Scout – Dries Mertens”. Dutch Football League. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  29. ^ “Belgium - D.Mertens - Profile with news, career statistics and history”. Soccerway. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]