Ajax Amsterdam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ajax
Ajax Amsterdam.svg
Tên đầy đủ Amsterdamsche Football Club Ajax
Biệt danh de Godenzonen (Những đứa con của Chúa),[1][2] de Joden (Những người Do Thái), I Lancieri (The Lancers), Lucky Ajax
Thành lập 18 tháng 3, 1900; 118 năm trước
Sân vận động Johan Cruyff Arena
Sức chứa sân 54,033[3]
Chủ sở hữu AFC Ajax NV (Euronext: AJAX)
Chủ tịch điều hành Hennie Henrichs
Quản lý Erik ten Hag
Giải đấu Eredivisie
2017–18 Eredivisie, 2nd
Website Trang chủ của câu lạc bộ
Sân khách
Mùa giải hiện nay

Ajax Amsterdam hay Ajax có tên đầy đủ là Amsterdamsche Football Club Ajax (AFC Ajax), là câu lạc bộ bóng đá ở Amsterdam, Hà Lan. Trong lịch sử, Ajax (đặt tên từ tên của 1 nhân vật thần thoại Hy Lạp) là đội bóng thành công nhất Hà Lan, với 33 chức vô địch Hà Lan and 18 Cúp KNVB. Họ vẫn đang chơi tại Giải bóng đá VĐQG Hà Lan, hạng đấu cao nhất của bóng đá Hà Lan, từ khi giải đấu trở thành chuyên nghiệp từ năm 1956. Cùng với Feyenoord Rotterdam và PSV Eindhoven, họ là 3 CLB thống trị giải bóng đá quốc gia Hà Lan và là một trong năm câu lạc bộ giành đủ ba loại cúp (Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia, Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc giaCúp UEFA).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ do Floris Stempel, Carel Reeser, anh em Han và Johan Dade thành lập tại Amsterdam, ngày 18 tháng 3 năm 1900. Câu lạc bộ thăng hạng cao nhất của bóng đá Hà Lan từ năm 1911 và có chức vô địch đầu tiên vào năm 1917 (Cúp KNVB). Mùa giải sau đó, họ giành chức vô địch quốc gia lần đầu tiên. Câu lạc bộ bảo vệ chức vô địch vào mùa 1918–19, trở thành đội bóng duy nhất có mùa giải bất bại tại Giải VĐQG Hà Lan.

Throughout the 1920s, Ajax was a strong regional power, winning the Eerste Klasse West division in 1921, 1927 and 1928, but could not maintain its success at national level. Khi giải đấu được thay đổi vào những năm 30, họ vô địch 5 lần (1931, 1932, 1934, 1937, 1939), trở thành đội bóng Hà Lan thành công nhất vào thời điểm đó. Ajax giành cúp KNVP lần thứ 2 vào mùa 1942–43 và chức vô địch Hà Lan lần thứ 8 vào mùa 1946–47, mùa giải cuối cùng câu lạc bộ được dẫn dắt bởi HLV Jack Reynolds, thâu tóm tất cả các chức vô địch nội địa, kể cả chiếc Cúp KNVB năm 1917.

Vào năm 1956, mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên của Giải VĐQG Hà Lan được diễn ra, Ajax tham dự với tư cách là người sang lập. Câu lạc bộ thủ đô giành chức vô địch đầu tiên trong kỉ nguyên này, đồng thời ra mắt tại đấu trường Cúp Châu Âu trong trận thua ĐKVĐ của Hungary Vasas SC với tổng tỉ số 6-2 tại vòng tứ kết. Họ tiếp tục vô địch Giải VĐQG vào năm 60 và giành Cúp KNVB lần thứ 3 vào năm 1961.

Năm 1965, Rinus Michels, người từng chơi cho CLB trong khoảng từ 1946-1958 trở thành HLV của Ajax. Ông đem triết lí về Bóng đá Tổng lực, không chỉ riêng tới Ajax mà còn cả Đội tuyển quốc gia Hà Lan. 1 năm sau, Johan Cruyff, huyền thoại bóng đá Hà Lan, có trận đấu đầu tiên cho CLB. Trong khoảng thời gian này, Michels và Cruyff tạo nên thời kì hoàng kim nhất trong lịch sử CLB, vô địch Hà Lan đến 7 lần, 4 Cúp KNVB và 3 Cúp C1 liên tiếp (1971-1973).

Ajax vô địch quốc nội vào các năm 1966-1968, và đã vào đến trận chung kết Cúp Châu Âu vào năm 1969, khi họ để thua Milan. Trong mùa giải 1966-67, Ajax ghi tới 122 bàn thắng tại Giải VĐQG, lần đầu đoạt cú đúp danh hiệu Cúp KNVB và VĐQG Hà Lan. Mùa giải 1969-70, Ajax vô địch Hà Lan lần thứ 4 và cú đúp quốc nội lần thứ 2 trong 5 năm, thắng 27/34 trận và ghi 100 bàn.

Chung kết Cúp C1 châu Âu 1971, Ajax - Panthinaikos

Mùa giải 1970-71, Ajax bảo vệ Cúp KNVB và vào đến trận chung kết Cúp C1 năm 71, nơi họ thắng Panathinaikos 2-0 để lần đầu đoạt Cúp Châu Âu. Johan Cruyff đoạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong mùa giải này. Sau mùa giải đó, Rinus Michels chuyển tới Barcelona, thay thế cho ông là Stefan Kovács. Mùa giải đầu tiên của mình, ông giúp CLB đoạt cú ăn ba (Cúp C1, Cúp KNVB, vô địch Hà Lan). Mùa giải tiếp theo, họ đánh bại CLB của Argentina Independiente để vô địch Cúp Liên lục địa năm 72, bảo vệ chức vô địch quốc nội, trở thành đội bóng đầu tiên sau Real Madrid ở những năm 50 giành 3 chức vô địch C1 liên tiếp.

Năm 1973, Johan Cruyff chuyển tới Barca với mức phí kỉ lục thế giới (~2 triệu USD). Kovács chuyển đến dẫn dắt Đội tuyển quốc gia Pháp, kết thúc thời kì vàng son của CLB.

<thêm tiếp tại đây>

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động đầu tiên của Ajax được xây vào năm 1911. Sân được xây bằng gỗ nên nó được gọi là Het Houten Stadion ("The Wooden Stadium"). Sau đó, Ajax chuyển đến sân vận động đã từng được tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1928 tại Amsterdam. Sân này được thiết kế bởi Jan Wils, nơi được biết đến là Olympic Stadium. Vào năm 1934, Ajax chuyển tới sân De Meer Stadion ở phía Tây Amsterdam, thiết kế bởi kiến trúc sư và thành viên của Ajax Daan Roodenburgh, người cũng tham gia thiết kế sân vận động đầu tiên của câu lạc bộ. Sân có sức chứa là 29500 chỗ ngồi, họ chơi ở đây đến năm 1996. Đối với những trận đấu của UEFA hay là của Đội tuyển quốc gia, câu lạc bộ thường chuyển tới SVĐ Olympic Stadium với sức chứa gấp đôi.

Năm 1996, Ajax chuyển tới sân vận động mới ở phía Đông Nam thành phố, được biết đến với cái tên Amsterdam Arena. Nó được xây dựng bởi chính quyền thành phố Amsterdam với khoản phí khoảng 134 triệu USD. Sân vận động có sức chứa khoảng 52000 chỗ. Khán giả trung bình tới sân vào mùa 2006–07 là 48610, mùa sau là 49128. Amsterdam ArenA có mái che, và tạo nên trào lưu cho những sân vận động hiện đại mới ở châu Âu trong vài năm. Tại Hà Lan, sân vận động này đã dính đến một vấn đề với chất lượng cỏ tồi tệ bởi mái che có thể tháo gỡ nên mỗi khi mở thì nó phung phí quá nhiều ánh nắng và không khí trong sạch. Xuyên suốt mùa giải 2008–09, nhân viên mặt đất đã giới thiệu một công nghệ ánh sáng để khắc phục vấn đề này.

Sân vận động được yêu thích nhất De Meer Stadion đã bị phá và đất ở đây được bán cho hội đồng thành phố. Chỉ còn một thứ duy nhất là dòng chữ "AJAX", nơi hiện tại năm trong façade của trung tâm đào tạo trẻ De Toekomst, gần SVĐ Amsterdam ArenA.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch Hà Lan: 33 (kỷ lục của Hà Lan)
    • 1918, 1919, 1931, 1932, 1934, 1937, 1939, 1947, 1957, 1960
    • 1966, 1967, 1968, 1970, 1972, 1973, 1977, 1979, 1980, 1982
    • 1983, 1985, 1990, 1994, 1995, 1996, 1998, 2002, 2004, 2011
    • 2012, 2013, 2014
  • Cúp Quốc gia Hà Lan: 18 (kỷ lục của Hà Lan)
    • 1917, 1943, 1961, 1967, 1970, 1971, 1972, 1979, 1983, 1986
    • 1987, 1993, 1998, 1999, 2002, 2006, 2007, 2010
  • Siêu cúp Hà Lan: 8
    • 1993, 1994, 1995, 2002, 2005, 2006, 2007, 2013

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 19 July 2018[4]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
2 Đan Mạch HV Rasmus Nissen Kristensen
3 Hà Lan HV Joël Veltman (đội trưởng)
4 Hà Lan HV Matthijs de Ligt (đội phó)
5 Áo HV Maximilian Wöber
6 Hà Lan TV Donny van de Beek
7 Brasil David Neres
8 Hà Lan HV Daley Sinkgraven
9 Hà Lan Klaas-Jan Huntelaar
10 Serbia TV Dušan Tadić
12 Maroc TV Noussair Mazraoui
15 Hà Lan TV Carel Eiting
17 Hà Lan HV Daley Blind
18 Burkina Faso Hassane Bandé
19 Maroc TV Zakaria Labyad
20 Đan Mạch TV Lasse Schöne
21 Hà Lan TV Frenkie de Jong
22 Maroc TV Hakim Ziyech
24 Cameroon TM André Onana
25 Đan Mạch Kasper Dolberg
Số áo Vị trí Cầu thủ
26 Hy Lạp TM Kostas Lamprou
27 Hà Lan HV Perr Schuurs
28 Colombia HV Luis Manuel Orejuela
30 Hà Lan TV Dani de Wit
31 Argentina HV Nicolás Tagliafico
32 Cộng hòa Séc Václav Černý
33 Croatia TM Dominik Kotarski
35 Hà Lan HV Mitchel Bakker
36 Hà Lan TV Azor Matusiwa
37 Hà Lan TV Noa Lang
38 Hà Lan TV Ryan Gravenberch
39 Hà Lan Kaj Sierhuis
40 Hà Lan TV Jurgen Ekkelenkamp
41 Na Uy Dennis Johnsen
42 Hà Lan HV Navajo Bakboord
46 Hà Lan Ché Nunnely
48 Hà Lan HV Sven Botman
51 Hà Lan TM Stan van Bladeren

Cầu thủ cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Colombia Mateo Cassierra (at FC Groningen until 30 June 2019)
Hà Lan TV Siem de Jong (at Sydney FC until 30 June 2019)
Hà Lan TM Benjamin van Leer (at NAC Breda until 30 June 2019)

Số áo bất tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • 14Hà Lan Johan Cruyff (Tiền đạo, 1964–73, 1981–83). Số áo được treo vào dịp sinh nhật lần thứ 60 của Cruyff.[5]

UEFA ranking[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 6 April 2018[6]
Rank Country Team Points
27 Anh Liverpool 56.000
28 Hy Lạp Olympiacos 54.000
29 Ý Fiorentina 54.000
30 Hà Lan Ajax 53.500
31 Tây Ban Nha Villarreal 52.000
32 Áo Red Bull Salzburg 50.500
33 Bỉ Anderlecht 48.000

Số áo bất tử[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Perryman, Mark (2013). Hooligan Wars: Causes and Effects of Football Violence. Mainstream. tr. 167. ISBN 978-1-78057-813-2. 
  2. ^ Stokvis, Ruud (2014). Lege kerken, volle stadions. Amsterdam UP. tr. 45–. ISBN 978-90-485-2180-7. 
  3. ^ “Amsterdam: First red stand opened in Amsterdam”. stadiumdb.com. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2017. 
  4. ^ “The Players”. AFC Ajax. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2016. 
  5. ^ “Cruijff viert 60ste verjaardag lo”. De Ondernemer. 25 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ “UEFA coefficients”. UEFA.com. UEFA. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011.