Maarten Stekelenburg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Maarten Stekelenburg
Maarten Stekelenburg (2010).jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Maarten Stekelenburg
Ngày sinh 22 tháng 9, 1982 (34 tuổi)
Nơi sinh Haarlem, Hà Lan
Chiều cao 1,97 m (6 ft 5 12 in)[1]
Vị trí Thủ môn
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Everton
Số áo 22
CLB trẻ
Zandvoort '75
Schoten
1997–2002 Ajax
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2002–2011 Ajax 191 (0)
2011–2013 Roma 48 (0)
2013–2016 Fulham 19 (0)
2014–2015 Monaco (mượn) 1 (0)
2015–2016 Southampton (mượn) 17 (0)
2016– Everton 3 (0)
Đội tuyển quốc gia
2004– Hà Lan 54 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 27 tháng 8, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 13 tháng 11, 2015

Maarten Stekeleburg (phát âm tiếng Hà Lan: [ˈmaːrtə(n) ˈsteːkələ(n)ˌbʏrx]; sinh ngày 22 tháng 9, 1982) là một thủ môn chuyên nghiệp hiện đang đá cho RomaSerie A. Stekeleburg bắt đầu sự nghiệp ở Zandoort 75 trước khi tới VV Schoten, nơi anh đến Ajax năm anh 15 tuổi. Anh có vị trí chính thức ở Ajax vào ngày 22 tháng 1 năm 2002, trong trận tiếp NAC Breda. Vào đầu mùa giải 2002/2003 anh có được danh hiệu đầu tiên cùng Ajax khi câu lạc bộ đoạt Johan Cruiff Schaal. Vào năm 2004 anh cùng Ajax giành danh hiệu vô địch Hà Lan, mùa giải đó anh chơi 1 trận.

Vào ngày 3 tháng 9 năm 2004, anh có trận đấu đầu tiên trong đội tuyển quốc gia khi tiếp Liechtenstein, trận đó Hà Lan thắng 3-0. Mặc dù anh vào đội tuyển từ năm 2004 nhưng phải đến mùa 2006/2007 anh mới là thủ môn số 1 của Ajax. Vào năm 2006 anh giành cúp quốc gia Hà Lan đầu tiên và được huấn luyện viên Marco van Basten gọi chuẩn bị cho World Cup 2006 ở Đức, nhưng anh không thi đấu trận nào trong giải này vì Edwin van der Sar là sự lựa chọn số 1. Vào đầu mùa 2006/2007 anh giành được cúp Johan Cruiff Schall thứ hao, và anh đã giúp hàng phòng ngự trở nên vững chãi hơn nhiều, và sau đó vào mùa 2006/2007, anh giành được Cúp bóng đá Hà Lan thứ hai.

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Stekeleburg được van Basten gọi tham dự Euro 2008 để làm dự bị cho van der Sar. Anh đã được thi đấu trong trận tiếp Romania ở bảng C vào ngày 17 tháng 6. Với việc Hà Lan đã vào bán kết, van Basten đã tạo cơ hội cho các cầu thủ đội dự bị, và Stekeleburg đã được trao cơ hội.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Stekelenburg (phải) và Jan Vertonghen trong màu áo Ajax Amsterdam.

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu Âu Khác[2] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Ajax 2002–03 9 0 0 0 3 0 1 0 13 0
2003–04 10 0 0 0 1 0 0 0 11 0
2004–05 11 0 1 0 4 0 1 0 17 0
2005–06 27 0 4 0 6 0 4 0 41 0
2006–07 32 0 4 0 9 0 5 0 50 0
2007–08 31 0 1 0 4 0 5 0 41 0
2008–09 12 0 1 0 2 0 0 0 15 0
2009–10 33 0 7 0 10 0 0 0 50 0
2010–11 26 0 4 0 13 0 1 0 43 0
Tổng cộng 191 0 22 0 52 0 17 0 282 0
Roma 2011–12 29 0 2 0 2 0 33 0
2012–13 19 0 3 0 0 0 21 0
Tổng cộng 48 0 5 0 2 0 55 0
Fulham 2013–14 19 0 1 0 1 0 0 0 21 0
Tổng cộng 19 0 1 0 1 0 0 0 21 0
Monaco (mượn) 2014–15 1 0 4 0 3 0 0 0 8 0
Southampton (mượn) 2015–16 17 0 1 0 3 0 4 0 25 0
Everton 2016–17 3 0 0 0 1 0 0 0 4 0
Tổng cộng 3 0 0 0 1 0 0 0 4 0
Tổng cộng sự nghiệp 279 0 33 0 8 0 58 0 17 0 395 0

Tính đến ngày 9 tháng 1, 2015.[3][4][5]

Maarten Stekelenburg trong màu áo đội tuyển Hà Lan.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia Hà Lan
Năm Trận Bàn
2004 1 0
2005 0 0
2006 2 0
2007 7 0
2008 5 0
2009 9 0
2010 15 0
2011 5 0
2012 10 0
2013 0 0
2014 0 0
2015 0 0
Tổng cộng 54 0

Tính đến ngày 16 tháng 10, 2012[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Maarten Stekelenburg Profile”. World Cup 2010. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008. 
  2. ^ Bao gồm Johan Cruijff Shield
  3. ^ “Football: Maarten Stekelenburg”. Football Database EU. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2011. 
  4. ^ “Maarten Stekelenburg”. ESPN Soccernet. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010. 
  5. ^ “Maarten Stekelenburg Statistics”. Voetbal International. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010. 
  6. ^ “Stekelenburg, Maarten”. National Football Teams. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]