Erik ten Hag

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Erik ten Hag
Erik ten Hag 2017.jpg
Ten Hag dẫn dắt Utrecht năm 2017
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Erik ten Hag[1]
Ngày sinh 2 tháng 2, 1970 (52 tuổi)[1]
Nơi sinh Haaksbergen, Hà Lan
Chiều cao 1,82 m[2]
Vị trí Trung vệ[3]
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Manchester United (huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1989–1990 Twente 14 (0)
1990–1992 De Graafschap 54 (6)
1992–1994 Twente 45 (2)
1994–1995 RKC Waalwijk 31 (2)
1995–1996 Utrecht 30 (2)
1996–2002 Twente 162 (3)
Tổng cộng 336 (15)
Các đội đã huấn luyện
2012–2013 Go Ahead Eagles
2013–2015 Bayern Munich II
2015–2017 Utrecht
2017–2022 Ajax
2022– Manchester United
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia

Erik ten Hag (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1970) là một cựu trung vệhuấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp người Hà Lan. Ông hiện là huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ Manchester United tại Premier League.[4]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ten Hag sinh ra ở Haaksbergen, Overijssel.[1]

Sự nghiệp thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Ten Hag từng chơi ở vị trí trung vệ cho FC Twente, De Graafschap, RKC WaalwijkFC Utrecht. Ông đã có 3 lần khoác áo FC Twente vào những năm 1989–90, 1992–94, 1996–2002 và đã giành được Cúp KNVB trong mùa giải 2000–01.[cần dẫn nguồn]

Ten Hag cũng đã giành được chức vô địch Eerste Divisie (giải hạng 2 Hà Lan) khi thi đấu cho De Graafschap trong mùa giải 1990–91. Ông giải nghệ vào năm 2002 ở tuổi 32 trong màu áo FC Twente, sau khi mùa giải 2001–02 kết thúc.[cần dẫn nguồn]

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, Ten Hag được Marc Overmars, bổ nhiệm làm huấn luyện viên của câu lạc bộ Go Ahead Eagles tại Eerste Divisie (giải hạng 2 Hà Lan).[1][5] Trong mùa đầu tiên dẫn dắt Go Ahead Eagles, ông đã đưa câu lạc bộ lên chơi tại Eredivisie sau 17 năm.[cần dẫn nguồn]

Ông từng có quãng thời gian 2 năm làm huấn luyện viên đội 2 của Bayern Munich (Bayern Munich II) từ 6 tháng 6 năm 2013 đến năm 2015 trước khi câu lạc bộ bổ nhiệm Heiko Vogel làm huấn luyện trưởng.[6][7] Trận đấu cuối cùng ông dẫn dắt câu lạc bộ là trận thua 1–0 trước Nürnberg II vào ngày 22 tháng 5 năm 2015.[8] Trong 2 năm tại Đức, Ten Hag đã tích lũy được những kinh nghiệm quý báu khi thường xuyên được làm việc cùng Pep Guardiola (người được mệnh danh là một trong những huấn luyện viên bóng đá xuất sắc nhất thế giới). Ông từng chia sẻ rằng:

Tôi học được mọi thứ về phương pháp huấn luyện của Pep, từ cách ông ấy truyền bá triết lý trên sân tập, cách triển khai bóng, quá trình chuyển đổi trạng thái, tấn công. Ở tất cả các khâu, Pep đều huấn luyện các cầu thủ một cách kỹ lưỡng.

Tôi từng theo dõi buổi tập của Ten Hag với đội. Ông ấy đến từ 8 giờ sáng và chỉ rời di sau 8h tối. Trên sân tập, Ten Hag muốn mọi cầu thủ thực hiện chính xác những gì ông yêu cầu, không được phép sai lệnh. Mọi buổi tập của Ten Hag đều hoàn hảo đến mọi khía cạnh.

Michael Tarnat nhận xét về Ten Hag.

Khi đã hoàn thiện những triết lý bóng đá của riêng mình, ông quay trở về quê nhà Hà Lan và bắt đầu tạo dựng tiếng tăm. Mùa hè năm 2015, Ten Hag trở thành huấn luyện viên trưởng, kiêm giám đốc thể thao tại câu lạc bộ Utrecht, câu lạc bộ mà ông từng gắn bó trong giai đoạn làm cầu thủ. Trong mùa đầu tiên dẫn dắt câu lạc bộ, ông đã giúp Utrecht cán đích ở vị trí thứ 5.[9] Kết thúc mùa giải 2016-2017, câu lạc bộ Utrecht cán đích ở vị trí thứ 4, giành một suất tham dự vòng loại UEFA Europa League.[cần dẫn nguồn]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, ông được bổ nhiệm ngồi vào ghế nóng của đội chủ sân Johan Cruyff Arena, sau khi câu lạc bộ sa thải huấn luyện viên Marcel Keizer. Sau khi trở thành huấn luyện viên của câu lạc bộ, ông đã có một cuộc cách mạng khi thay đổi lối chơi và làm mới lại đội hình. Năm 2019, ông đã tạo được tiếng vang lớn khi dẫn dắt đại diện thủ đô loạt vào bán kết UEFA Champions League kể từ năm 1997, sau khi đánh bại nhà đương kinh vô định Real Madrid với tỷ số 4–1 trên sân vận động Santiago Bernabéu Stadium ở loạt trận 16 đội,[10] và đánh bại một đại diện đến từ nước Ý Juventus với tỷ số 1–2 sau trận lượt đi và tỷ số hòa 1–1 tại trận lượt về trên sân nhà. Trước khi dừng bước trước Tottenham Hotspur, do quá xuất sắc và may mắn. Ở trận lượt đi trên Sân vận động Tottenham Hotspur, ông dẫn dắt đội bóng giành chiến thắng với tỷ số 1–0.[11] Tuy nhiên ở lượt về trên sân nhà, đội bóng của ông đã để thất bại 3–2 (tổng tỷ số sau hai loạt trận là 3–3), sau khi Lucas Moura lập cú một cú hat-trick trong hiệp hai cho Tottenham Hotspur, qua đó Tottenham Hotspur giành vé vào chơi trận chung kết do luật bàn thắng sân khách.[12]

Ông giành được danh hiệu đầu tiên cùng với Ajax vào ngày 5 tháng 5 năm 2019 tại giải đấu Cúp Hiệp hội Bóng đá Hoàng gia Hà Lan, sau khi đánh bại Willem II trong trận chung kết. Chỉ 10 ngày sau đó, câu lạc bộ Ajax do Ten Hag dẫn dắt đã lên ngôi vô địch Eredivisie sau chiến thắng 1–4 trước câu lạc bộ De Graafschap mang về cú đúp cho câu lạc bộ.[13]

Vào ngày 18 tháng 4 năm 2020, Ten Hag đã giúp câu lạc bộ giành Cúp Hiệp hội Bóng đá Hoàng gia Hà Lan lần thứ 20 trong lịch sử sau khi đánh bại Vitesse với tỷ số 2–1 trong trận chung kết. Hai tuần sau đó, Ten Hag gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến hết mùa giải 2022–23.[14] Vào ngày 16 tháng 1 năm 2022, Ten Hag trở thành nhà cầm quân đạt được mốc 100 trận thắng nhanh nhất trong lịch sử Ajax, huấn luyện viên người Hà Lan chỉ cần 128 trận đấu để cán mốc 100 trận thắng, khi đội bóng của ông đánh bại Utrecht với tỷ số 3–0 trên sân khánh trong trận đấu vào ngày 19.[15]

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Mới đây sau nhiều nỗ lực đàm phán, vào ngày 21 tháng 4 năm 2022, Manchester United đã có được chữ ký của Ten Hag vào mùa sau với bản hợp đồng kéo dài 3 năm (đến tháng 6 năm 2025) với điều khoản gia hạn thêm 1 năm.[4]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu KNVB Cup Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Twente 1989–90[16][17] Eredivisie 14 0 0 0 14 0
De Graafschap 1990–91[16] Eerste Divisie 37 5 37 5
1991–92[16] Eredivisie 17 1 17 1
Tổng cộng 54 6 54 6
Twente 1992–93[16] Eredivisie 24 1 24 1
1993–94[16][18] Eredivisie 21 1 1[a] 0 22 1
Tổng cộng 45 2 1 0 46 2
RKC Waalwijk 1994–95[16] Eredivisie 31 2 31 2
Utrecht 1995–96[16] Eredivisie 30 2 30 2
Twente 1996–97[16] Eredivisie 26 1 26 1
1997–98[16][19] Eredivisie 33 0 5[a] 0 38 0
1998–99[16][20] Eredivisie 29 0 4[b] 0 33 0
1999–2000[16] Eredivisie 30 2 30 2
2000–01[16] Eredivisie 28 0 28 0
2001–02[16][21] Eredivisie 16 0 2[a] 0 1[c] 0 19 0
Tổng cộng 162 3 11 0 1 0 174 3
Tổng cộng sự nghiệp 336 15 12 0 1 0 349 15
  1. ^ a b c Ra sân tại UEFA Cup
  2. ^ Ra sân tại UEFA Intertoto Cup
  3. ^ Ra sân tại Johan Cruyff Shield

Thống kê sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến trận đấu ngày 23 tháng 4 năm 2022
Câu lạc bộ Từ Đến Thống kê
P W D L GF GA GD % Thắng
Go Ahead Eagles 1 tháng 7 năm 2012 6 tháng 6 năm 2013[6] &000000000000003900000039 &000000000000001800000018 &000000000000001100000011 &000000000000001000000010 0&000000000000004620000046,2 46,2 0&0000000000000046200000
Bayern Munich II 6 tháng 6 năm 2013[6] 22 tháng 5 năm 2015[8] &000000000000007200000072 &000000000000004800000048 &000000000000001000000010 &000000000000001400000014 0&000000000000006670000066,7 66,7 0&0000000000000066700000
Utrecht 23 tháng 5 năm 2015[9][22] 27 tháng 12 năm 2017 &0000000000000111000000111 &000000000000005600000056 &000000000000002600000026 &000000000000002900000029 0&000000000000005050000050,5 0&000000000000005050000050,5
Ajax 28 tháng 12 năm 2017 22 tháng 05 năm 2022 &0000000000000211000000211 &0000000000000156000000156 &000000000000002600000026 &000000000000002900000029 0&000000000000007390000073,9 73,9 0&0000000000000073900000
Manchester United 23 tháng 05 năm 2022 nay 4 3 1 0 13 4 +9 75
Tổng cộng &0000000000000433000000433 &0000000000000278000000278 &000000000000007300000073 &000000000000008200000082 0&000000000000006420000064,2 64,2 0&0000000000000064200000

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

De Graafschap

Twente

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern Munich II

Ajax

Cá nhân

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d “E. Ten Hag: Summary”. Soccerway. Perform Group. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2022.
  2. ^ “Erik ten Hag: Profile”. worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2022.
  3. ^ Jackson, Jamie (21 tháng 4 năm 2022). “Ten Hag confident of Manchester United revival without lavish budget”. The Guardian. London. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2022.
  4. ^ a b “Official statement: Erik ten Hag”. Manchester United. 21 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2022.
  5. ^ “Overmars commissaris bij Go Ahead Eagles” [Overmars Commissioner at Go Ahead Eagles]. Voetbal International (bằng tiếng Hà Lan). Amsterdam. 11 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014.
  6. ^ a b c Warmbrunn, Benedikt (6 tháng 6 năm 2013). “Unterrichter in kniffligen Fragen”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013.
  7. ^ “Heiko Vogel trainiert künftig die U23 des FC Bayern”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). 15 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015.
  8. ^ a b “Bayern München II”. Kicker (bằng tiếng Đức). Olympia-Verlag. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
  9. ^ a b “Ten Hag wird Trainer und Sportdirektor beim FC Utrecht”. Kicker (bằng tiếng Đức). Olympia-Verlag. 22 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
  10. ^ “Ajax close to perfection in Real Madrid thrashing, says Erik ten Hag”. Sky Sports. 6 tháng 3 năm 2019.
  11. ^ “De Ligt powers Ajax into semi-finals”. Sky Sports. 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2019.
  12. ^ Bushnell, Henry (8 tháng 5 năm 2019). “Tottenham stuns Ajax with last-second winner in Champions League semifinal”. Yahoo! Sports. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  13. ^ “Ajax Clinches Eredivisie Title, Dutch Domestic Double”. Sports Illustrated. 15 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2019.
  14. ^ “Ajax boss Ten Hag extends contract ending links with Tottenham”. ESPN. 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  15. ^ “Geen enkele Eredivisie-trainer won ooit zo snel 100 keer met 1 club als Ten Hag met Ajax”. sportnieuws.nl (bằng tiếng Hà Lan). DPG Media. 16 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2022.
  16. ^ a b c d e f g h i j k l m “Ten Hag”. Voetbal International. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2009.
  17. ^ For 1989–90 UEFA Cup: Ionescu, Romeo (2004). The Complete Results & Line-ups of the UEFA Cup 1971–1991. Cleethorpes: Soccer Books. tr. 385. ISBN 978-1-86223-109-2.
  18. ^ For 1993–94 UEFA Cup: Ionescu, Romeo (2004). The Complete Results & Line-ups of the UEFA Cup 1991–2004. Cleethorpes: Soccer Books. tr. 54. ISBN 978-1-86223-115-3.
  19. ^ For 1997–98 UEFA Cup: Ionescu. The Complete Results & Line-ups of the UEFA Cup 1991–2004. tr. 192, 197, 201.
  20. ^ For 1998 UEFA Intertoto Cup: “Erik ten Hag: Club Matches: UI-Cup 1998/1999”. worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
  21. ^ For 2001–02 UEFA Cup: Ionescu. The Complete Results & Line-ups of the UEFA Cup 1991–2004. tr. 356, 370.
    For 2001 Johan Cruyff Shield: “Erik ten Hag: Club Matches: Supercup 2001”. worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
  22. ^ “FC Utrecht”. Kicker (bằng tiếng Đức). Olympia-Verlag. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
  23. ^ a b Wallace, Sam (21 tháng 4 năm 2022). “The making of Erik ten Hag: 'Only one coach could analyse games like him – and that was Fergie'. The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
  24. ^ “Ten Hag vertrekt bij Bayern München”. NOS. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2022.
  25. ^ “Ajax strike late to down Vitesse and lift their 20th KNVB Cup”. Football Oranje. 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  26. ^ “Ten Hag wins Rinus Michels Award”. AFC Ajax. 10 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2022.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]