UEFA Europa League

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ UEFA Cup)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
UEFA Europa League
Europa League.svg
Thành lập1971; 50 năm trước (1971)
(thay đổi thương hiệu vào năm 2009)
Khu vựcChâu Âu (UEFA)
Số đội48 (vòng bảng)
8 câu lạc bộ tham dự sau vòng bảng Champions League[1]
160 (tổng cộng)
Vòng loại choUEFA Super Cup
UEFA Champions League
Giải đấu
liên quan
UEFA Champions League
(hạng nhất)
UEFA Europa Conference League
(hạng ba)
Đội vô địch
hiện tại
Tây Ban Nha Villarreal
(lần thứ 1)
Câu lạc bộ
thành công nhất
Tây Ban Nha Sevilla
(6 lần)
Truyền hìnhDanh sách các đài truyền hình
Trang webTrang web chính thức
UEFA Europa League 2021-22
Biểu trưng của Cúp UEFA từ năn 2000-2004
Biểu trưng của cúp UEFA từ năm 2004–2009.

UEFA Europa League (tên cũ là Cúp UEFA; tên thường gọi ở Việt Nam là Cúp C3, sau này gọi là Cúp C2 do ở mức thấp hơn UEFA Champions League vốn gọi là Cúp C1[2]; viết tắt là UEL) là giải bóng đá hàng năm do Liên đoàn bóng đá châu Âu tổ chức cho các câu lạc bộ giành được thứ hạng cao nhưng không giành được quyền tham dự UEFA Champion League. Kể từ khi giải đấu đổi tên thành UEFA Europa League thì mới chỉ có Sevilla là đội bóng bảo vệ thành công chức vô địch. Từ mùa giải 2014–15, đội vô địch được tham dự vòng bảng Champions League năm sau. Sevilla là đội có nhiều lần vô địch nhất với 6 lần. Villarreal là đương kim vô địch sau khi đánh bại Manchester United 11–10 trên chấm luân lưu trong trận chung kết năm 2021.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng thành lập giải đấu này của 3 người gồm Sir Stanlay Rous (người Anh), Ernst Thornmen (người Thụy Sĩ) và Ottorino Barrasi (người Ý). Ngày 18 tháng 4 năm 1955, Cúp các hội chợ liên thành phố (Inter-Cities Fairs Cup) chính thức được tổ chức với 10 đội bóng của 10 thành phố: Barcelona (Tây Ban Nha), BaselLausanne (Thụy Sĩ), LondonBirmingham (Anh), Copenhagen (Đan Mạch), Frankfurt (Tây Đức), Leipzig (Đông Đức), Milan (Ý) và Zagreb (Croatia). Giải đầu tiên kéo dài trong 3 năm (1955 - 1958) và đội đoạt cúp là câu lạc bộ FC Barcelona. Giải lần thứ 2 kéo dài trong 2 năm (19581960) với 16 câu lạc bộ chứ không phải là đội tuyển các thành phố. Các giải sau được tổ chức đều đặn hàng năm. Đến mùa bóng 1971–72, giải đổi tên thành Cúp UEFA.

Từ mùa bóng 1999–2000, cúp C2 (Tên gọi tắt của UEFA Cup Winners' Cup) bị khai tử và sáp nhập vào cúp C3 làm một và vẫn giữ tên là Cúp UEFA, khi đó, đội đoạt các cúp trong nước sẽ giành quyền tham dự giải đấu này. Thể thức của giải cũng được thay đổi như áp dụng thể thức đấu bảng (từ năm 2004); các đội bị loại ở vòng loại thứ ba và 8 đội xếp thứ 3 ở vòng đấu bảng UEFA Champions League được chuyển sang thi đấu; các đội bóng giành cúp Liên đoàn cũng giành quyền tham dự.

Từ năm 1958 đến 1997, các trận chung kết được tổ chức 2 lượt đi và về (trừ các năm 19641965). Từ mùa giải 1997-98, trận tranh cúp vô địch chỉ diễn ra 1 lượt trên sân vận động đã chọn trước.

Mùa bóng 20092010, UEFA tăng số lượng câu lạc bộ tham dự vòng bảng lên 48 đội và đổi tên giải đấu thành UEFA Europa League.[3]

Huy hiệu đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Các CLB giành 3 chức vô địch UEFA Europa League liên tiếp hoặc có ít nhất 5 lần lên ngôi sẽ vinh dự được UEFA gắn một biểu tượng chiến thắng đặc biệt lên tay áo. Cho đến nay chỉ có một câu lạc bộ có được vinh dự này là Sevilla (vô địch 6 lần).

Thay đổi format[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu với giải 2018–19, tất cả các nhà vô địch quốc nội bị loại ở vòng loại UEFA Champions League sẽ chuyển tới UEFA Europa League chứ không chỉ là các đội bị loại ở vòng loại thứ ba và vòng play-off. Vòng loại UEFA Champions League cũng sẽ cung cấp một tuyến vô địch riêng cho các đội này (gọi là Champions Route), cho phép các nhà vô địch quốc nội nhiều cơ hội hơn để cạnh tranh với nhau.

Kể từ mùa giải 2021-22, với sự ra đời của UEFA Europa Conference League, vòng bảng của giải đấu sẽ giảm xuống còn 32 đội, đồng thời số đội thi đấu vòng loại sẽ giảm đi đáng kể. Ngoài ra, vòng 32 đội cũ sẽ chuyển thành 1 vòng đấu giữa vòng bảng và vòng loại trực tiếp, nơi các đội nhì bảng sẽ gặp các đội ba bảng tại Champions League.

Chiếc cúp vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc cúp UEFA được làm bằng bạc, cao 65 cm, nặng 15 kg. Đế của cúp làm bằng đá màu vàng. Chiếc cúp được thiết kế và chế tạo tại Milan, Ý vào năm 1972, và được sử dụng từ đó đến nay.

Thể thức[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi liên đoàn quốc gia thành viên sẽ có 3 câu lạc bộ tham dự, trừ liên đoàn xếp thứ 52-54 chỉ có 2 đội, liên đoàn thứ 55 và Liechtenstein chỉ có một đội tham dự. Dựa trên thành tích từ mùa giải trước, các đội sẽ được vào thẳng vòng bảng hay phải tham gia vòng loại nhánh không vô địch. Các đội bị loại ở vòng loại Champions League cũng sẽ được trao cơ hội ở vòng loại Europa League nhánh vô địch, và 8 đội đứng thứ 3 vòng bảng Champions League cũng sẽ tham dự vòng 32 đội. Giải đấu bao gồm vòng loại, vòng bảng 12 bảng 4 đội, vòng 32 đội, vòng 16 đội, tứ kết, bán kết và chung kết.

Tiền thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như UEFA Champions League, các đội tham dự UEFA Europa League đều nhận được các mức tiền thưởng khác nhau tùy vào vòng đấu mà họ tới được. Các đội tham dự vòng bảng sẽ nhận được 2,6 triệu , 1 trận thắng trong vòng bảng được 360,000€, 1 trận hòa được 120,000€. Đội đứng đầu vòng bảng được thưởng 600,000€, đội về nhì được thưởng 300,000€. Tiền thưởng cho vòng knock-out: 500,000€ cho vòng 32, 750,000€ cho vòng 16, 1 triệu € cho tứ kết và 1,6 triệu € cho bán kết. Đội á quân sẽ được thưởng 3.5 triệu € và đội vô địch được thưởng 6.5 triệu €.

Bắt đầu từ mùa giải 2018–19, UEFA Europa League cũng tăng tiền thưởng từ 400 triệu Euro lên 500 triệu euro

  • Vòng loại thứ nhất: €210,000
  • Vòng loại thứ hai: €225,000
  • Vòng loại thứ ba: €235,000
  • Vòng play-off: €245,000
  • Vòng bảng: €2,600,000
  • Thắng trong vòng bảng: €360,000
  • Hòa trong vòng bảng: €120,000
  • Đầu bảng: €600,000
  • Nhì bảng: €300,000
  • Vòng 32 đội: €500,000
  • Vòng 16 đội: €750,000
  • Tứ kết: €1,000,000
  • Bán kết: €1,600,000
  • Á quân: €3,500,000
  • Vô địch: €6,500,000

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích theo câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích ở Cúp UEFA và UEFA Europa League theo câu lạc bộ
Câu lạc bộ Vô địch Về nhì Năm vô địch Năm về nhì
Tây Ban Nha Sevilla 6 0 2006, 2007, 2014, 2015, 2016, 2020
Ý Inter Milan 3 2 1991, 1994, 1998 1997, 2020
Anh Liverpool 3 1 1973, 1976, 2001 2016
Ý Juventus 3 1 1977, 1990, 1993 1995
Tây Ban Nha Atlético Madrid 3 0 2010, 2012, 2018
Đức Borussia Mönchengladbach 2 2 1975, 1979 1973, 1980
Anh Tottenham Hotspur 2 1 1972, 1984 1974
Hà Lan Feyenoord 2 0 1974, 2002
Thụy Điển IFK Göteborg 2 0 1982, 1987
Tây Ban Nha Real Madrid 2 0 1985, 1986
Ý Parma 2 0 1995, 1999
Bồ Đào Nha Porto 2 0 2003, 2011
Anh Chelsea 2 0 2013, 2019
Bỉ Anderlecht 1 1 1983 1984
Hà Lan Ajax 1 1 1992 2017
Anh Manchester United 1 1 2017 2021
Hà Lan PSV Eindhoven 1 0 1978
Đức Eintracht Frankfurt 1 0 1980
Anh Ipswich Town 1 0 1981
Đức Bayer Leverkusen 1 0 1988
Ý Napoli 1 0 1989
Đức Bayern Munich 1 0 1996
Đức Schalke 04 1 0 1997
Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray 1 0 2000
Tây Ban Nha Valencia 1 0 2004
Nga CSKA Moscow 1 0 2005
Nga Zenit Saint Petersburg 1 0 2008
Ukraina Shakhtar Donetsk 1 0 2009
Tây Ban Nha Villarreal 1 0 2021
Bồ Đào Nha Benfica 0 3 1983, 2013, 2014
Pháp Marseille 0 3 1999, 2004, 2018
Tây Ban Nha Athletic Bilbao 0 2 1977, 2012
Tây Ban Nha Espanyol 0 2 1988, 2007
Đức Borussia Dortmund 0 2 1993, 2002
Anh Arsenal 0 2 2000, 2019
Anh Wolverhampton Wanderers 0 1 1972
Hà Lan Twente 0 1 1975
Bỉ Club Brugge 0 1 1976
Pháp Bastia 0 1 1978
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Red Star Belgrade 0 1 1979
Hà Lan AZ 0 1 1981
Đức Hamburger SV 0 1 1982
Hungary Fehérvár 0 1 1985
Đức 1. FC Köln 0 1 1986
Scotland Dundee United 0 1 1987
Đức VfB Stuttgart 0 1 1989
Ý Fiorentina 0 1 1990
Ý Roma 0 1 1991
Ý Torino 0 1 1992
Áo Red Bull Salzburg 0 1 1994
Pháp Bordeaux 0 1 1996
Ý Lazio 0 1 1998
Tây Ban Nha Alavés 0 1 2001
Scotland Celtic 0 1 2003
Bồ Đào Nha Sporting CP 0 1 2005
Anh Middlesbrough 0 1 2006
Scotland Rangers 0 1 2008
Đức Werder Bremen 0 1 2009
Anh Fulham 0 1 2010
Bồ Đào Nha Braga 0 1 2011
Ukraina Dnipro 0 1 2015

Thành tích theo quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích ở các trận chung kết theo quốc gia
Quốc gia Vô địch Về nhì Tổng cộng
 Tây Ban Nha 13 5 18
 Anh 9 8 17
 Ý 9 7 16
 Đức[A] 6 8 14
 Hà Lan 4 3 7
 Bồ Đào Nha 2 5 7
 Nga 2 0 2
 Thụy Điển 2 0 2
 Bỉ 1 2 3
 Ukraina 1 1 2
 Thổ Nhĩ Kỳ 1 0 1
 Pháp 0 5 5
 Scotland 0 3 3
 Áo 0 1 1
 Hungary 0 1 1
 Nam Tư[B] 0 1 1
Ghi chú
  • ^ Bao gồm các câu lạc bộ Tây Đức, không có câu lạc bộ Đông Đức xuất hiện trong một trận chung kết.
  • ^ Lần xuất hiện trận chung kết của Nam Tư là bởi câu lạc bộ từ CHXHCN Serbia.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hai đội đứng đầu mỗi bảng đi tiếp vào vòng 32 đội, nơi họ tham dự cùng với 8 đội đứng ba ở vòng bảng Champions League.
  2. ^ Từ mùa bóng 1999-2000 giải này sáp nhập với giải UEFA Cup Winners' Cup (Cúp C2) vào làm một và vẫn giữ tên là Cúp UEFA thì tên thường gọi ở Việt Nam phổ biến nhất là Cúp C2
  3. ^ [1] Lưu trữ 2009-05-15 tại Wayback Machine Cúp UEFA đổi tên thành UEFA Europa League và sửa đổi thể lệ thi đấu

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]