AFC Champions League

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


AFC Champions League
AFC Champions League 2008 logo.svg
Thành lập1967; 53 năm trước (1967) (kể từ năm 2002 trong định dạng hiện tại)
Khu vựcChâu Á (AFC)
Số đội45 (tổng số)
32 (vòng bảng)
Vòng loại choGiải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ
Giải đấu
liên quan
Red Arrow Down.svg Cúp AFC (hạng dưới)
Đội vô địch
hiện tại
Ả Rập Xê Út Al-Hilal (lần thứ 3)
Câu lạc bộ
thành công nhất
Hàn Quốc Pohang Steelers
Ả Rập Xê Út Al-Hilal
(Mỗi đội 3 lần)
Trang webAFC Champions League
AFC Champions League 2019

Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á (tiếng Anh: AFC Champions League) còn được biết đến với tên gọi Asian Champions League là giải bóng đá thường niên do Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) tổ chức cho các câu lạc bộ bóng đá vô địch quốc gia hoặc đoạt cúp quốc gia của các nền bóng đá phát triển thuộc AFC. Giải đấu gồm 32 câu lạc bộ tham gia ở vòng đấu bảng, đội vô địch giải đấu sẽ đủ điều kiện đại diện cho các câu lạc bộ bóng đá trực thuộc AFC tham dự FIFA Club World Cup.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1967–2002: Mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu với tên gọi là Giải đấu vô địch các câu lạc bộ châu Á (Asian Champion Club Tournament), giải đấu đầu tiên diễn ra bằng các trận đấu loại trực tiếp đơn giản. 2 câu lạc bộ thành công nhất của kỷ nguyên này là Hapoel Tel AvivMaccabi Tel Aviv. Kết thúc mùa giải năm 1971, đánh dấu 4 năm của 1 giải đấu thiếu chuyên nghiệp và không có lợi nhuận. Vì vậy, giải đấu đã tạm ngừng tổ chức.

Trong năm 1985-1986 đánh dấu sự trở lại của giải đấu các câu lạc bộ hàng đầu châu Á với tên gọi Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á (Asian Club Championship). Năm 1990, Liên đoàn bóng đá châu Á cho ra mắt giải đấu Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á (Asian Cup Winners Cup, thường được gọi là Cúp C2 châu Á), cùng với đó là mùa giải năm 1995 đánh dấu sự ra đời của Siêu Cúp châu Á.

2002–nay: Kỷ nguyên Champions League[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2002/03 chứng kiến Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á, Cúp C2 châu ÁSiêu cúp bóng đá châu Á kết hợp để trở thành AFC Champions League. Vòng sơ loại theo thể thức trực tiếp sẽ lựa chọn ra 8 đội mạnh nhất cùng với 8 câu lạc bộ xuất sắc nhất từ 2 khu vực phía đôngtây châu Á tiến vào vòng bảng. Trong mùa giải đầu tiên dưới tên gọi AFC Champions League, Al Ain đánh bại BEC Tero với tỉ số 2–1 để trở thành nhà vô địch. Giải đấu sau đó đã bị hoãn lại 1 năm do virus SARS.

Giải đấu đã được tái ra mắt vào năm 2004 với 29 câu lạc bộ tới từ 14 quốc gia. Không giống như các năm trước, lịch thi đấu đã được thay đổi và diễn ra từ tháng 3 đến tháng 11. Trong giai đoạn đầu của giải, 28 câu lạc bộ được chia thành 7 nhóm, mỗi nhóm bao gồm 4 đội đến từ cùng 1 khu vực (Đông ÁTây Á) để giảm chi phí đi lại, với các trận đấu vòng bảng diễn ra theo thể thức sân nhà và sân khách. Sau đó, 7 đội bóng đừng đầu mỗi nhóm cùng với đương kim vô địch là đội được đặc cách để vào vòng tứ kết. Các vòng tứ kết, bán kết và trận chung kết diễn ra cả lượt đi lượt về với luật bàn thắng trên sân khách, hiệp phụloạt sút luân lưu như loạt tie-break.

Mùa giải 2005, các câu lạc bộ của Syria bắt đầu tham gia vào giải đấu. 2 năm sau, đến lượt các câu lạc bộ của Úc cũng tham gia giải đấu khi Úc gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á vào năm 2006. Do sự thiếu chuyên nghiệp trong bóng đá tại châu Á, nhiều vấn đề vẫn còn tồn tại trong các giải đấu, chẳng hạn như về bạo lực sân cỏ hay chậm nộp đăng ký cầu thủ. Nhiều người đã đổ lỗi cho việc tiền thưởng ít cùng chi phí đi lại đắt đỏ như là 1 lý do.

Champions League năm 2009 mở rộng lên thành 32 câu lạc bộ với 10 giải đấu vô địch quốc gia hàng đầu châu Á sẽ có các câu lạc bộ được vào trực tiếp vòng bảng. Mỗi quốc gia sẽ có tối đa 4 đội tham dự, mặc dù không bằng một phần 3 số đội tham gia tại giải đấu cao nhất của mỗi quốc gia, tuy nhiên điều này sẽ tùy thuộc vào giải vô địch của quốc gia đó, cấu trúc giải đấu (chuyên nghiệp), tiếp thị, tài chính, và các tiêu chuẩn khác do Ủy ban AFC Pro-League đưa ra mà sẽ đưa ra quyết định về số đội bóng được tham dự từ giải đấu đó.[1] Các tiêu chí đánh giá và xếp hạng giải đấu cho các quốc gia thành viên tham gia sẽ được điều chỉnh bởi AFC 2 năm 1 lần.[2]

Giải thưởng đã được tăng lên đáng kể từ mùa giải 2009 và các câu lạc bộ có thể kiếm được 1 khoản tiền thưởng ngay cả ở vòng bảng tùy thuộc vào hiệu suất của họ. Phân nhóm được tiến hành theo cách thức giống như 4 giải đấu trước đó, tức là vẫn theo khu vực ĐôngTây Á với bốn bảng của mỗi khu vực. Vòng 16 đội vẫn tiến hành theo thể thức khu vực, tức là 4 đội nhất và 4 đội nhì trong cùng một khu vực sẽ tiến hành thi đấu 1 trận duy nhất để tìm ra 4 đội xuất sắc nhất của mỗi khu vực vào vòng tứ kết. Vòng tứ kết và bán kết sẽ diễn ra theo thể thức lượt đi và về còn trận chung kết sẽ diễn ra một trận duy nhất tại sân trung lập được lựa chọn từ trước.

Western Sydney Wanderers trở thành câu lạc bộ đầu tiên của Úc vô địch của AFC Champions League sau khi họ đánh bại Al Hilal 1–0 trong trận chung kết 2014.

Khuôn khổ giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Trình độ chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu bắt đầu với vòng bảng gồm 32 đội, được chia thành tám bảng đấu. Hạt giống được sử dụng khi thực hiện bốc thăm cho giai đoạn này, với các đội từ cùng một quốc gia không được xếp vào cùng bảng với nhau. Vòng bảng được chia thành hai khu vực; khu vực đầu tiên là bốn nhóm Đông Á và khu vực khác là bốn nhóm Tây Á. Mỗi đội gặp những đội khác trong bảng đấu của mình theo hình thức vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhất và nhì từ mỗi bảng tiến vào vòng tiếp theo.

Ở vong tiếp theo, đội nhất từ một bảng thi đấu với đội nhì từ một bảng khác cùng khu vực. Giải đấu sử dụng luật bàn thắng sân khách: nếu tổng số điểm của hai trận đấu bị ràng buộc sau 180 phút, thì đội nào ghi được nhiều bàn thắng hơn ở sân trước của đối thủ. Nếu số bàn thắng sân khách bằng nhau, các câu lạc bộ sẽ thi đấu thêm hai hiệp phụ, và luật bàn thắng sân khách không còn được áp dụng. Nếu tổng tỉ số vẫn bằng nhau sau hiệp phụ, trận đấu sẽ được quyết định bởi loạt sút luân lưu. Các đội cùng khu vực (Đông hoặc Tây Á) tiếp tục thi đấu với nhau cho đến trận chung kết.[3]

Các trận đấu ở vòng bảng và vòng 16 đội được diễn ra trong nửa đầu năm (Tháng Hai Tháng Năm). Các trận đấu ở vòng đấu loại trực tiếp sau đó được chơi trong nửa cuối năm (Tháng Tám Tháng Mười Một). Các trận đấu loại trực tiếp áp dụng thể thức hai lượt, bao gồm cả trận chung kết.

Các quốc gia tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội tham dự tới từ 18 quốc gia thành viên AFC đã qua được vòng sơ loại của AFC Champions League. Việc phân chia các đội của các nước thành viên được liệt kê dưới đây; dấu sao là có ít nhất một đội bóng đã bị loại khi đá tại vòng sơ loại. 32 quốc gia của AFC đã từng có các diện tham gia, và các quốc gia chưa bao giờ có đội bóng đá tại vòng bảng không được hiển thị.

Quốc gia tham dự Mùa giải
2002/03 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020
Đông Á và Đông Nam Á
Úc Úc 2 2 2 2 2 3 1* 3 2* 2* 3 2* 2* 3
Trung Quốc Trung Quốc 2 2 2 2 2 2 4 4 4 3 4 4 4 4 3* 4 4 4
Hồng Kông Hồng Kông 0* 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0* 0* 0* 1* 1* 0* 0*
Indonesia Indonesia 0* 2 2 0 2 0 1* 1* 1* 0* 0 0 0* 0 0 0* 0* 0*
Nhật Bản Nhật Bản 2 2 2 2 2 3 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 3*
Hàn Quốc Hàn Quốc 2 2 2 2 3 2 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4 4
Malaysia Malaysia 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0* 0* 0* 0* 1* 1*
Singapore Singapore 0* 0 0 0 0 0 1 1 0 0 0 0* 0* 0* 0* 0* 0* 0*
Thái Lan Thái Lan 2 2 2 0 1 2 0* 0* 0* 1* 2 1* 1* 1* 1* 1* 1* 1*
Việt Nam Việt Nam 0* 2 2 2 1 2 0 0* 0 0 0 0* 1* 1* 0* 0* 0* 0*
Tổng cộng 8 12 12 8 13 13 16 16 15 15 15 16 16 16 16 16 16 16
Tây Á
Ả Rập Xê Út Ả Rập Saudi 1* 2 3 3 2 2 4 4 4 3* 4 4 4 4 4 2 4 4
Bahrain Bahrain 0* 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0* 0* 0 0 0* 0 0*
Iran Iran 2 2 2 2 1 2 4 4 4 3* 3* 4 4 3* 4 4 3* 4
Iraq Iraq 1* 2 2 2 2 2 0 0 0 0 0 0* 0 0 0 0 1* 1*
Kuwait Kuwait 0* 1 2 2 2 2 0 0 0 0 0 0* 0* 0 0 0 0* 0*
Qatar Qatar 1* 2 2 2 2 2 2 2 3 4 4 4 2* 2* 2* 4 3* 2*
Syria Syria 0* 0 2 2 2 2 0 0* 0* 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Turkmenistan Turkmenistan 1* 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất UAE 1* 3 2 2 2 2 4 4 4 4 4 3* 2* 3* 4 4 3* 4
Uzbekistan Uzbekistan 1* 2 2 2 2 2 2 2 2 3* 2* 1* 4 4 2* 2* 2* 1*
Tổng cộng 8 16 17 17 15 16 16 16 17 17 17 16 16 16 16 16 16 16
Tổng cộng
Chung kết 16 28 29 25 28 29 32 32 32 32 32 32 32 32 32 32 32 32
Vòng loại 53 28 29 25 28 29 35 37 36 37 35 47 49 45 47 46 51 52

Hồ sơ và số liệu thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Số lần vô địch Số lần giành Á quân Năm vô địch Năm giành Á quân
Ả Rập Xê Út Al-Hilal 3 3 1991, 1999–2000, 2019 1986, 1987, 2014
Hàn Quốc Pohang Steelers 3 0 1996–97, 1997–98, 2009 -
Hàn Quốc Seongnam FC 2 2 1995, 2010 1996–97, 2004
Iran Esteghlal 2 2 1970, 1990-91 1991, 1998-99
Nhật Bản Urawa Red Diamonds 2 1 2007, 2017 2019
Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors 2 1 2006, 2016 2011
Ả Rập Xê Út Al-Ittihad Jeddah 2 1 2004, 2005 2009
Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo 2 0 2013, 2015 -
Qatar Al Sadd 2 0 1988–89, 2011 -
Hàn Quốc Suwon Samsung Bluewings 2 0 2000–01, 2001–02 -
Thái Lan Ngân hàng Nông nghiệp Thái Lan1 2 0 1993–94, 1994–95 -
Israel Maccabi Tel Aviv2 2 0 1969, 1971 -
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ain 1 2 2002–03 2005, 2016
Nhật Bản Júbilo Iwata 1 2 1998–99 1999–2000, 2000–01
Trung Quốc Liêu Ninh Hoành Vận 1 1 1989–90 1990–91
Israel Hapoel Tel Aviv2 1 1 1967 1970
Nhật Bản Kashima Antlers 1 0 2018 -
Úc Western Sydney Wanderers 1 0 2014
Hàn Quốc Ulsan Hyundai 1 0 2012 -
Nhật Bản Gamba Osaka 1 0 2008 -
Iran PAS Tehran1 1 0 1992–93 -
Nhật Bản Tokyo Verdy 1 0 1987 -
Nhật Bản JEF United Chiba 1 0 1986 -
Hàn Quốc Busan IPark 1 0 1985–86 -
Hàn Quốc FC Seoul 0 2 - 2001–02, 2013
Ả Rập Xê Út Al-Ahli 0 2 - 1985–86, 2012
Iran Persepolis 0 1 - 2018
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ahli 0 1 - 2015
Iran Zob Ahan Isfahan 0 1 - 2010
Úc Adelaide United 0 1 - 2008
Iran Sepahan 0 1 - 2007
Syria Al-Karamah 0 1 - 2006
Thái Lan BEC Tero Sasana 0 1 - 2002–03
Trung Quốc Đại Liên Shide1 0 1 - 1997–98
Ả Rập Xê Út Al-Nassr 0 1 - 1995
Qatar Al-Arabi 0 1 - 1994–95
Oman Oman Club 0 1 - 1993–94
Ả Rập Xê Út Al-Shabab 0 1 - 1992–93
Nhật Bản Yokohama F. Marinos 0 1 - 1989–90
Iraq Al-Karkh 0 1 - 1988–89
Iraq Al-Shorta 0 1 - 1971
Hàn Quốc Yangzee1 0 1 - 1969
Malaysia Selangor 0 1 - 1967
1 Câu lạc bộ không còn tồn tại
2 Năm 1974, Hiệp hội bóng đá Israel bị khai trừ khỏi AFC do áp lực chính trị, và đã trở thành một thành viên đầy đủ của UEFA trong năm 1994. Kết quả là, các câu lạc bộ của Israel không còn tham gia vào các giải đấu AFC nữa.

Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng danh sách các quốc gia xếp theo số lượng câu lạc bộ của quốc gia đó vô địch và ở vị trí á quân ở AFC Champions League.

Quốc gia Đội vô địch Á quân
Hàn Quốc Hàn Quốc 11 6
Nhật Bản Nhật Bản 7 4
 Ả Rập Xê Út 5 9
 Iran 3 5
 Trung Quốc 3 2
 Israel 3 1
 Qatar 2 1
 Thái Lan 2 1
 UAE 1 3
 Úc 1 1
 Iraq 0 2
 Malaysia 0 1
 Oman 0 1
 Syria 0 1

Khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn (Khu vực) Titles Tổng
EAFF (Đông Á) Đông Á 21 24
AFF (Đông Nam Á) 3
WAFF (Tây Á) Tây Á 8 11
CAFA (Trung Á) 3
SAFF (Nam Á) 0

Ghi chú: Danh sách không bao gồm các câu lạc bộ Israel, đội vô địch mùa giải 1967, 19691971.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ xuất sắc nhất giải[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Cầu thủ Câu lạc bộ
2006 Hàn Quốc Choi Jin-cheul Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors
2007 Nhật Bản Yuichiro Nagai Nhật Bản Urawa Red Diamonds
2008 Nhật Bản Yasuhito Endō Nhật Bản Gamba Osaka
2009 Hàn Quốc No Byung-jun Hàn Quốc Pohang Steelers
2010 Úc Saša Ognenovski Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma
2011 Hàn Quốc Lee Dong-gook Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors
2012 Hàn Quốc Lee Keun-ho Hàn Quốc Ulsan Hyundai
2013 Brasil Muriqui Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo
2014 Úc Ante Covic Úc Western Sydney Wanderers
2015 Brasil Ricardo Goulart Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo
2016 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Omar Abdulrahman Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ain
2017 Nhật Bản Yōsuke Kashiwagi Nhật Bản Urawa Red Diamonds
2018 Nhật Bản Yuma Suzuki Nhật Bản Kashima Antlers
2019 Pháp Bafétimbi Gomis Ả Rập Xê Út Al-Hilal

Vua phá lưới[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách những cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất trong giải (tính từ 2002 - nay):

Mùa giải Tên cầu thủ Câu lạc bộ Số bàn thắng
2002-03 Trung Quốc Hách Hải Đông Trung Quốc Đại Liên Shide 9
2004 Hàn Quốc Kim Do-Hoon Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma 9
2005 Sierra Leone Mohamed Kallon Ả Rập Xê Út Al-Ittihad 6
2006 Brasil Magno Alves Nhật Bản Gamba Osaka 9
2007 Brasil Mota Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma 7
2008 Thái Lan Nantawat Thansopa Thái Lan Krung Thai Bank 9
2009 Brasil Leandro Nhật Bản Gamba Osaka 10
2010 Brasil Jose Mota Hàn Quốc Suwon Samsung Bluewings 9
2011 Hàn Quốc Lee Dong-Gook Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors 9
2012 Brasil Ricardo Oliveira Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al Jazira 10
2013 Brasil Muriqui Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo 13
2014 Ghana Asamoah Gyan Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ain 12
2015 Brasil Ricardo Goulart Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo 8
2016 Brasil Adriano Hàn Quốc FC Seoul 13
2017 Syria Omar Kharbin Ả Rập Xê Út Al-Hilal 10
2018 Algérie Baghdad Bounedjah Qatar Al-Sadd 13
2019 Pháp Bafétimbi Gomis Ả Rập Xê Út Al-Hilal 11

Đội đoạt giải phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Câu lạc bộ
2007 Nhật Bản Urawa Red Diamonds
2008 Nhật Bản Gamba Osaka
2009 Hàn Quốc Pohang Steelers
2010 Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma
2011 Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors
2012 Hàn Quốc Ulsan Hyundai
2013 Hàn Quốc FC Seoul
2014 Ả Rập Xê Út Al-Hilal FC
2015 Trung Quốc Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo
2016 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ain
2017 Nhật Bản Urawa Red Diamonds
2018 Iran Persepolis
2019 Nhật Bản Urawa Red Diamonds

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]