Siêu cúp bóng đá châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ UEFA Super Cup)
Siêu cúp bóng đá châu Âu
UEFA Super Cup logo.svg
Thành lập1972; 50 năm trước (1972)
(Chính thức kể từ năm 1973)
Khu vựcChâu Âu (UEFA)
Số đội2
Đội vô địch
hiện tại
Tây Ban Nha Real Madrid
(lần thứ 5)
Câu lạc bộ
thành công nhất
Tây Ban Nha Barcelona
Ý Milan
Tây Ban Nha Real Madrid
(5 lần mỗi đội)
Trang webTrang web chính thức
Siêu cúp châu Âu 2022

Siêu cúp bóng đá châu Âu (UEFA Super Cup) là trận đấu bóng đá siêu cúp thường niên do UEFA tổ chức giữa hai đội vô địch của hai giải đấu cấp câu lạc bộ châu Âu chính, UEFA Champions LeagueUEFA Europa League. Tên chính thức ban đầu của giải đấu là Super Competition,[1] và sau này là European Super Cup; giải được đổi tên thành UEFA Super Cup vào năm 1995, sau khi UEFA có chính sách thay đổi thuơng hiệu. Giải không được công nhận là một trong những giải đấu lớn của UEFA.[2][3]

Từ năm 1972 đến năm 1999, Siêu cúp bóng đá châu Âu là trận đấu giữa nhà vô địch Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League và nhà vô địch UEFA Cup Winners' Cup. Sau khi UEFA Cup Winners' Cup bị hủy bỏ, trận đấu được diễn ra giữa nhà vô địch UEFA Champions League và nhà vô địch Cúp UEFA, sau này được đổi tên thành UEFA Europa League vào năm 2009.

Đội vô địch hiện tại là Real Madrid, đội đã giành chiến thắng 2–0 trước Eintracht Frankfurt vào năm 2022. Đội bóng thành công nhất là Barcelona, Milan và Real Madrid với 5 lần vô địch cho mỗi đội.

Danh sách địa điểm thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 2020, số tiền thưởng cố định trả cho các câu lạc bộ như sau:

  • Á quân: €3,800,000
  • Vô địch: €5,000,000

Luật thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, quy định của trận đấu UEFA Super Cup là chỉ diễn ra một trận đấu duy nhất, được diễn ra ở một địa điểm trung lập. Trận đấu bao gồm hai hiệp, mỗi hiệp 45 phút. Nếu tỷ số hòa trong 90 phút, hai hiệp phụ mỗi hiệp kéo dài 15 phút sẽ được thi đấu. Nếu không có đội chiến thắng ở cuối hiệp phụ thứ hai, loạt đá luân lưu sẽ xác định đội thắng. Mỗi đội đăng kí danh sách 23 cầu thủ, trong đó có 11 cầu thủ đá chính. Trong số 12 cầu thủ còn lại, tổng cộng 3 cầu thủ có thể thay vào trong cả trận đấu. Tuy nhiên, quyền thay đổi thứ tư được phép nếu trận đấu bước vào hiệp phụ. Mỗi đội có thể mặc bộ đồ thi đấu đầu tiên của mình. Tuy nhiên, trong trận đấu này, đội vô địch Europa League năm trước phải mặc áo màu khác. Nếu một câu lạc bộ từ chối thi đấu hoặc không đủ điều kiện thi đấu thì họ sẽ được thay thế bằng đội á quân của giải đấu mà họ đã vượt qua vòng loại. Nếu sân đấu không thích hợp để thi đấu do thời tiết xấu, trận đấu phải được diễn ra vào ngày hôm sau.

Nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà tài trợ của UEFA Super Cup cũng giống như các nhà tài trợ cho UEFA Champions League. Các nhà tài trợ chính hiện tại của giải đấu (kể từ mùa giải 2022-23):

Adidas là nhà tài trợ thứ hai và cung cấp phụ kiện thể thao và đồng phục của trọng tài. Konami's Pro Evolution Soccer cũng là nhà tài trợ thứ hai.

Các câu lạc bộ có thể mặc áo đấu có quảng cáo, ngay cả khi các nhà tài trợ như vậy mâu thuẫn với áo đấu của Giải Siêu cúp. Tuy nhiên, chỉ cho phép in hai tài trợ trên mỗi áo đấu (cộng với tài trợ của nhà sản xuất), ở ngực và tay áo bên trái. Các trường hợp ngoại lệ được thực hiện đối với các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức này có thể in ở mặt trước của áo đấu, được kết hợp với nhà tài trợ chính hoặc ở mặt sau, bên dưới số đội hoặc giữa tên cầu thủ và cổ áo.

Các trận chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng Vô địch Á quân Năm vô địch [A] Năm á quân
Tây Ban Nha Barcelona 5 4 1992, 1997, 2009, 2011, 2015 1979, 1982, 1989, 2006
Tây Ban Nha Real Madrid 3 2002, 2014, 2016, 2017, 2022 1998, 2000, 2018
Ý Milan 2 1989, 1990, 1994, 2003, 2007 1973, 1993
Anh Liverpool 4 2 1977, 2001, 2005, 2019 1978, 1984
Tây Ban Nha Atlético Madrid 3 0 2010, 2012, 2018
Đức Bayern Munich 2 3 2013, 2020 1975, 1976, 2001
Anh Chelsea 1998, 2021 2012, 2013, 2019
Hà Lan Ajax [B] 1 1973, 1995 1987
Bỉ Anderlecht 0 1976, 1978
Tây Ban Nha Valencia 1980, 2004
Ý Juventus 1984, 1996
Tây Ban Nha Sevilla 1 5 2006 2007, 2014, 2015, 2016, 2020
Anh Manchester United 3 1991 1999, 2008, 2017
Bồ Đào Nha Porto 1987 2003, 2004, 2011
Liên Xô Dynamo Kyiv 1 1975 1986
Anh Nottingham Forest 1979 1980
Anh Aston Villa 1 0 1982
Scotland Aberdeen 1983
România Steaua București 1986
Bỉ Mechelen 1988
Ý Parma 1993
Ý Lazio 1999
Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray 2000
Nga Zenit Saint Petersburg 2008
Đức Hamburg 0 2 1977, 1983
Hà Lan PSV Eindhoven 1 1988
Ý Sampdoria 1990
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Red Star Belgrade 1991
Đức Werder Bremen 1992
Anh Arsenal 1994
Tây Ban Nha Real Zaragoza 1995
Pháp Paris Saint-Germain 1996
Đức Borussia Dortmund 1997
Hà Lan Feyenoord 2002
Nga CSKA Moscow 2005
Ukraina Shakhtar Donetsk 2009
Ý Internazionale 2010
Tây Ban Nha Villarreal 2021
Đức Eintracht Frankfurt 2022

Theo quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Vô địch Á quân Tổng
Tây Ban Nha 16 14 30
 Anh 9 10 19
 Ý 9 4 13
 Bỉ 3 0 3
 Đức [C] 2 8 10
 Hà Lan [B] 2 3 5
 Bồ Đào Nha 1 3 4
 Nga 1 1 2
 Liên Xô [D] 1 1 2
 Romania 1 0 1
 Scotland [B] 1 0 1
 Thổ Nhĩ Kỳ 1 0 1
 Pháp 0 1 1
 Ukraina 0 1 1
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Nam Tư 0 1 1
Tổng 47 47 94
Notes
  • A. ^ Giải không tổ chức vào các năm 1974, 1975, 1981.[13]
  • B. ^ Ngoại trừ giải đấu đầu tiên năm 1972 không được UEFA công nhận như một giải đấu chính thức.[13]
  • C. ^ Bao gồm các đội Tây Đức. Không có đội Đông Đức nào từng dự giải.
  • D. ^ Các đội Liên Xô dự trận chung kết đều là của Ukrainian SSR.

Kỷ lục cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “UEFA Super Cup: The competition that found its place”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 9 Tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 10 Tháng 5 năm 2022.
  2. ^ “Tottenham eye rare European clean sweep”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Union of European Football Associations. 30 Tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 15 Tháng 8 năm 2019.
  3. ^ “Library – Inside UEFA”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Union of European Football Associations. 25 Tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 15 Tháng 8 năm 2019.
  4. ^ “Wembley, Amsterdam ArenA, Prague get 2013 finals”. UEFA.org. ngày 16 tháng 6 năm 2011.
  5. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên decision
  6. ^ “Georgia's Dinamo Arena embraces UEFA Super Cup 2015”. Agenda.ge. ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  7. ^ “Milan to host 2016 UEFA Champions League final”. UEFA.org. ngày 18 tháng 9 năm 2014.
  8. ^ “FYR Macedonia to host 2017 UEFA Super Cup”. UEFA.com. ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  9. ^ Tallinn to stage 2018 UEFA Super Cup
  10. ^ “2021 Super Cup to take place in Belfast”. UEFA.com. Union of European Football Associations. ngày 24 tháng 9 năm 2019.
  11. ^ “UEFA Champions League: MasterCard”. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2014.
  12. ^ “PepsiCo partners with Champions League”. SportsProMedia.com. ngày 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
  13. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên History
  14. ^ a b UEFA.com. “Messi, Alves among Super Cup record-breakers”. UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2017.
  15. ^ Honeyman, Sam (11 Tháng 8 năm 2022). “Real Madrid 2-0 Eintracht Frankfurt: Five-star Madrid triumph in Helsinki”. UEFA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 Tháng 8 năm 2022.
  16. ^ “Sir Alex Ferguson's UEFA Super Cup regret”. manutd.com. ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
  17. ^ “European Cups - Performances by Coach”. rsssf.com. ngày 10 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
  18. ^ “Messi, Alves among Super Cup record-breakers”. uefa.com. ngày 11 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
  19. ^ “UEFA-Supercup » All-time Topscorers » rank 1 - 50”. worldfootball.net. Bản gốc lưu trữ ngày 26 Tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
  20. ^ FIFA.com (ngày 5 tháng 9 năm 2012). “Prolific predators, droughts and a drubbing”. FIFA.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2017.
  21. ^ “Radamel Falcao 21 things you should know”. telegraph.co.uk.
  22. ^ “Costa sets UEFA Super Cup record with first minute goal against Real Madrid”. Goal.com. ngày 15 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
  23. ^ “Barcelona 1-0 Shakhtar Donetsk”. RTE.ie (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017.
  24. ^ “Barcelona 5-4 Sevilla (aet)”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]