S.S. Lazio

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lazio
SS Lazio.png
Tên đầy đủ Società Sportiva Lazio S.p.A.
Biệt danh I Biancocelesti (Trắng và Xanh da trời)
I Biancazzurri (Trắng và xanh)
Le Aquile (Đại bàng)
Gli Aquilotti (Đại bàng nhỏ)
Thành lập 9 tháng 1, 1900; 116 năm trước, với tên Società Podistica Lazio
Sân vận động Sân vận động Olimpico
Roma, Ý
Sức chứa sân 70.634[1]
Chủ sở hữu Claudio Lotito
Chủ tịch Claudio Lotito
Quản lý Simone Inzaghi
Giải đấu Serie A
2015–16 Serie A, vị trí thứ 8
Website Trang chủ của câu lạc bộ
Sân khách
Khác
Mùa giải hiện nay

Società Sportiva Lazio, được biết đến đơn giản với cái tên Lazio,(phát âm tiếng Ý: [ˈlattsjo]) là một câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp có trụ sở ở Roma, nổi tiếng nhất với những hoạt động bóng đá.[2] Đội bóng được thành lập vào năm 1900, chơi ở Serie A và dành phần lớn lịch sử của họ trong tốp đầu của bóng đá Ý. Lazio đã vô địch Serie A hai lần và đoạt danh hiệu Coppa Italia sáu lần, Siêu cúp bóng đá Ý ba lần và giành cả hai UEFA Cup Winners' CupSiêu cúp bóng đá châu Âu chỉ trong một lần.[3]

Câu lạc bộ có thành công lớn đầu tiên năm 1958 khi đoạt danh hiệu quốc nội. Năm 1974, họ đoạt danh hiệu Serie A đầu tiên. 15 năm qua đã từng có khoảng thời gian thành công nhất trong lịch sử Lazio, chứng kiến họ giành UEFA Cup Winners' CupUEFA Super Cup năm 1999, chức vô địch Serie A năm 2000, một vài cúp nội địa và tiến tới trận chung kết UEFA Cup năm 1998.

Những bộ trang phục truyền thống của Lazio là áo màu xanh da trời và quần đùi trắng với tất trắng; màu sắc làm gợi nhớ đến di sản Hy Lạp cổ đại của Rome. Sân nhà của đội là Stadio Olimpico với sức chứa 70,634 chỗ ngồi[1] tại Rome mà họ cùng chia sẻ với A.S. Roma đến cuối năm 2016, khi sau này nhường chỗ cho Stadio della Roma. Lazio có một mối thù địch lâu đời với Roma, với những kẻ họ tranh cãi derby della Capitale (trong tiếng Anh là "Derby thủ đô" hay "Derby Roma") kể từ năm 1929.[4] Lazio cũng là câu lạc bộ thể thao tham gia vào 40 bộ môn trong tất cả các môn, nhiều hơn bất kỳ câu lạc bộ nào khác trên thế giới.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Lịch sử S.S. Lazio.
Tấm bảng kỷ niệm thành lập Lazio tại Piazza della Libertà (Roma, Prati).

Società Podistica Lazio được thành lập ngày 9 tháng 1 năm 1990 ở quận Prati của Rome.[6] Đến năm 1910, câu lạc bộ vẫn chơi ở nghiệp dư đến khi chính thức gia nhập giải vô địch quốc gia năm 1912 ngay khi Liên đoàn bóng đá Ý bắt đầu tổ chức giải đấu ở trung tâm và phía nam nước Ý. Đội bóng lọt đến trận chung kết playoff giải vô địch quốc gia ba lần nhưng chưa bao giờ thắng, lần lượt thất bại năm 1913 trước Pro Vercelli, năm 1914 trước Casale và năm 1923 trước Genoa 1893. Năm 1927, Lazio là câu lạc bộ La Mã lớn duy nhất có những nỗ lực chống lại chế độ phát xít để hợp nhất tất cả những đội bóng của thành phố thành những gì sẽ trở thành A.S. Roma cùng năm đó. Câu lạc bộ chơi trong giải Serie A đầu tiên được tổ chức và dẫn dắt bởi tiền đạo huyền thoại người Ý Silvio Piola,[7] đạt vị trí á quân năm 1937 - kết quả cao nhất của đội trước chiến tranh.

Thập niên 1950 chứng kiến những kết quả trung bình và nửa trên bảng xếp hạng với chiến thắng Coppa Italia năm 1958. Lazio phải tụt hạng lần đầu tiên năm 1961 xuống Serie B nhưng trở lại với hạng đấu cao nhất hai năm sau đó. Sau một số vị trí ở giữa bảng xếp hạng, họ tiếp tục có một lần xuống hạng khác sau mùa 1970-71.[8] Trở lại Serie A trong mùa 1972-73, Lazio ngay lập tức nổi lên là một thách thức bất ngờ cho danh hiệu Scudetto đối với MilanJuventus trong mùa 1972-73, chỉ để thua trong ngày cuối cùng của mùa giải với đội hình bao gồm đội trưởng Giuseppe Wilson, cũng như các tiền vệ Luciano Re CecconiMario Frustalupi, tiền đạo Giorgio Chinaglia và huấn luyện viên trưởng Tommaso Maestrelli.[9] Lazio đã cải thiện và gặt hái được những thành công trong mùa giải tiếp theo, đảm bảo chức vô địch đầu tiên của đội bóng trong mùa 1973-74.[10][11]

Màu áo, biểu trưng và biệt danh[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng cũ được sử dụng đến cuối mùa 1991–1992.
Bộ trang phục đầu tiên của câu lạc bộ

Màu áo trắng và xanh da trời của Lazio lấy cảm hứng từ quốc huy Hy Lạp, bởi thực tế rằng Lazio là một câu lạc bộ thể thao hỗn hợp được chọn trong sự ghi nhận thực tế rằng Ancient Olympic Games và bên cạnh nó là truyền thống thể thao ở Châu Âu được liên kết với Hy Lạp.[12]

Ban đầu Lazio mặc một chiếc áo được chia làm bốn phân màu trắng và xanh da trời với quần tất đen.[13] Sau một thời gian mặc chiếc áo sơ mi chỉ đúng một màu trắng, Lazio đã quay lại với màu áo mà họ mặc ngày nay.[13] Một vài mùa giải Lazio từng sử dụng áo xanh da trời và viền trắng, nhưng thường nó là màu xanh da trời xen lẫn trắng với quần tất trắng. Màu áo của Lazio cũng khiến họ có biệt danh tiếng Ý là biancocelesti.[14]

Biểu trưng và biểu tượng câu lạc bộ truyền thống của Lazio là một con đại bàng do thành viên sáng lập Luigi Bigiarelli chọn.[15] Đây là một sự công nhận đối với biểu tượng của thần Zeus (vị thần của bầu trời và sấm sét trong thần thoại Hy Lạp) thường được biết tới với cái tên Aquila; cách sử dụng biểu trưng của Lazio cũng có mối liên hệ đến những biệt danh của đội bóng le AquileAquilotti (đều cùng nghĩa là Đại bàng). Biểu trưng đội bóng hiện tại còn có thêm một chú đại bàng vàng bên trên một chiếc khiên trắng viền xanh, bên trong chiếc khiên là tên câu lạc bộ và một tấm khiên nhỏ hơn chia làm ba phần tương ứng với màu áo của đội bóng.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Sân vận động Olimpico.

Sân vận động Olimpico (hay Stadio Olimpico) tọa lạc tại Foro Italico là một sân vận động của Rome, Ý. Đây là sân nhà của đội tuyển bóng đá quốc gia Ý cũng như những đội bóng địa phương S.S. Lazio và Roma. Nó được mở cửa năm 1937 và sau khi đợt nâng cấp mới nhất vào năm 2008,[16] sân vận động có sức chứa 70,634 chỗ ngồi.[1] Đây là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960, đồng thời được phục vụ làm địa điểm thi đấu của World Athletics Championships 1987, chung kết UEFA Euro 1980 và trong các trận chung kết Champions League năm 19962009.[1]

Cũng trên đất Foro Italico là sân Stadio dei Marmi (hay "sân vận động cẩm thạch"), được xây dựng năm 1932 và thiết kế bởi Enrico Del Debbio. Nó có những tầng nóc của 60 bức tượng đá cẩm thạch trắng vốn là những món quà từ các thành phố của Ý trong lễ tưởng nhớ 60 vận động viên.[17] Trong mùa 1989-1990, Lazio và Roma chơi các trận sân nhà của họ tại Stadio Flaminio của Rome, tọa lạc ở quận Flaminio bởi những công việc cải tạo đang được thực hiện tại Stadio Olimpico.

Cổ động viên và kình địch[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ động viên S.S. Lazio ở khán đài Bắc Curva của Stadio Olimpico.

Lazio là câu lạc bộ bóng đá có lượng cổ động viên cao thứ sáu tại Ý và thứ hai ở Rome, với khoảng 2% cổ động viên bóng đá Ý hâm mộ đội bóng (theo nghiên cứu của la Repubblica vào tháng 8 năm 2008).[18] Trong lịch sử khu vực chứa phần đông người hâm mộ Lazio trong thành phố Rome đều đến từ khu vực phía Bắc xa xôi, tạo thành một hình vòng cung như chiếc khuôn qua Rome với những khu vực giàu có như Parioli, Prati, Flaminio, Cassia và Monte Mario.[19]

Thành lập năm 1987, Irriducibili Lazio là nhóm cổ động viên cực đoan lớn nhất của câu lạc bộ trong vòng 20 năm qua. Thông thường thời gian duy nhất họ tạo ra những màn trình diễn cổ động truyền thống Ý là cho Derby della Capitale,[20] trận đấu giữa Lazio và kình địch chính của đội là Roma. Được biết đến ở các nước nói tiếng Anh là derby thành Rome, đây là một trong những mối kình địch bóng đá nóng bỏng và cảm xúc nhất trên thế giới.[21] Cổ động viên Lazio Vincenzo Paparelli từng bị thiệt mạng trong một trận derby ở mùa 1979-80 sau khi bị đánh vào mắt bởi một quả pháo sáng khẩn cấp mà một cổ động viên Roma ném ra.[22] Lazio cũng có mối thù địch mạnh mẽ với NapoliLivorno, ngược lại các cổ động viên lại có những mối quan hệ thân thiện với Inter, TriestinaHellas Verona.

Thống kê và kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Danh sách kỉ lục và thống kê của S.S. Lazio.

Giuseppe Favalli giữ kỉ lục số lần ra sân chính thức nhiều nhất của Lazio khi có 401 trận trong suốt 16 năm từ năm 1992 đến 2004.[23] Kỷ lục tổng số lần ra sân nhiều nhất thuộc của một thủ môn thuộc về Luca Marchegiani với 339 trận,[23] trong khi kỷ lục số lần ra sân tại giải vô địch quốc gia do Aldo Puccinelli nắm giữ với 339 trận.[23]

Cầu thủ săn bàn hàng đầu mọi thời đại của Lazio là Silvio Piola với 149 bàn thắng. Piola cũng chơi cùng Pro Vercelli, Torino, JuventusNovara cũng là chân sút xuất sắc nhất trong lịch sử Serie A với 274 pha lập công.[24] Simone Inzaghi là vua phá lưới mọi thời đại tại đấu trường Châu Âu với 20 bàn thắng.[23] Ông cũng là một trong năm cầu thủ từng ghi bốn bàn trong một trận đấu tại Champions League.[25]

Sức chứa chính thức lớn nhất của sân nhà Lazio là gần 80,000 chỗ ngồi cho một trận đấu ở Serie A đối đầu Foggia vào ngày 12 tháng 5 năm 1974, trận đấu mà Lazio được trao cúp Scudetto đầu tiên. Đây cũng là kỷ lục của Stadio Olimpico, bao gồm cả những trận đấu của A.S. Romađội tuyển bóng đá quốc gia Ý.[5]

Tên Số trận
1 Giuseppe Favalli 401
2 Giuseppe Wilson 394
3 Paolo Negro 376
4 Aldo Puccinelli 342
5 Luca Marchegiani 339
6 Vincenzo D'Amico 338
7 Cristian Ledesma 318
8 Stefano Mauri 303
9 Tommaso Rocchi 293
10 Idilio Cei 287
Tên Bàn thắng
1 Silvio Piola 149
2 Giuseppe Signori 127
3 Giorgio Chinaglia 122
4 Bruno Giordano 108
5 Tommaso Rocchi[26] 105
6 Aldo Puccinelli 78
7 Renzo Garlaschelli 64
8 Goran Pandev[27] 64
9 Miroslav Klose 64
10 Pierluigi Casiraghi 56

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (2): 1973–74; 1999–00
Về nhì (3): 1936–37; 1994–95; 1998–99
Vô địch (5): 1958; 1997–98; 1999–00; 2003–04; 2008–09; 2012–13
Về nhì (1): 1960–61
Vô địch (3): 1998; 2000; 2009
Về nhì (2): 2004; 2013
Vô địch (1): 1968-69
Về nhì (3): 1962-63; 1971-72; 1982-83
Lên hạng (1): 1987-88

Danh hiệu ở đấu trường châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch: 1998–99
Vô địch: 1999
Về nhì: 1997–98
Về nhì: 1937
Về nhì: 1971

Các danh hiệu khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch: 1999
Vô địch: 2007
Vô địch: 1950
Vô địch: 1997

Danh hiệu trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Trofeo Giacinto Facchetti: 4

  • Vô địch: 1975–76; 1986–87; 1994–95; 2000–01

Coppa Italia Primavera: 1

  • Vô địch: 1978–79

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 2 tháng 8 năm 2016.

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
2 Hà Lan HV Wesley Hoedt
3 Hà Lan HV Stefan de Vrij
4 Tây Ban Nha HV Patric
7 Anh TV Ravel Morrison
8 Serbia HV Dušan Basta
9 Serbia Filip Đorđević
10 Brasil TV Felipe Anderson
13 Serbia HV Milan Biševac
14 Sénégal Keita
16 Ý TV Marco Parolo
17 Ý Ciro Immobile
19 Bosna và Hercegovina TV Senad Lulić
Số áo Vị trí Cầu thủ
20 Argentina TV Lucas Biglia (đội trưởng)
21 Serbia TV Sergej Milinković-Savić
22 Ý TM Federico Marchetti
26 România HV Ștefan Radu (đội phó)
32 Ý TV Danilo Cataldi
33 Brasil HV Maurício
87 Ý TV Antonio Candreva
88 Hà Lan Ricardo Kishna
99 Albania TM Etrit Berisha
Croatia TM Ivan Vargić
Bỉ HV Jordan Lukaku
Brasil HV Wallace

Đội dự bị[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Ý TM Alessandro Berardi
Ý HV Emiliano Ilari
Ý HV Riccardo Serpieri
Số áo Vị trí Cầu thủ
Ý TV Enrico Zampa
Ý Cristiano Lombardi

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Albania TM Thomas Strakosha (tại Salernitana)
Ý HV Lorenzo Filippini (tại Pro Vercelli)
Brasil HV Vinícius (tại Zürich)
Úc TV Chris Ikonomidis (tại Salernitana)
Ý TV Luca Crecco (v Virtus Lanciano)
Cameroon TV Joseph Minala (tại Latina)
Số áo Vị trí Cầu thủ
Croatia TV Josip Elez (tại Aarhus)
Uruguay TV Álvaro González (tại Atlas)
Colombia Brayan Perea (tại Troyes)
Ý Antonio Rozzi (tại Virtus Lanciano)
Tây Ban Nha Mamadou Tounkara (tại Crotone)

Các chủ tịch trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Quốc tịch Năm
Giuseppe Pedercini Ý 1901-1904
Fortunato Ballerini Ý 1904-1925
Giorgio Guglielmi Ý 1924-1925
Gerardo Branca Ý 1925-1926
Riccardo Barisonzo Ý 1926-1927
Remo Zenobi Ý 1927-1932
Alfredo Palmieri Ý 1932-1933
Eugenio Gualdi Ý 1933-1938
Remo Zenobi Ý 1938-1939
Andrea Ercoli Ý 1939-1941
Giovanni Minotto Ý 1941-1944
Tên Quốc tịch Năm
Andrea Ercoli Ý 1944-1948
Renato Bornigia Ý 1948
Giovanni Mazzitelli Ý 1948-1949
Remo Zenobi Ý 1949-1953
Costantino Tessarolo Ý 1953-1956
Leonardo Siliato Ý 1956-1960
Massimo Giovannini Ý 1960-1962
Ernesto Brivio Ý 1962-1963
Angelo Miceli Ý 1963-1964
Giorgio Vaccaro Ý 1964-1965
Umberto Lenzini Ý 1965-1980
Tên Quốc tịch Năm
Aldo Lenzini Ý 1980-1981
Gian Chiarion Casoni Ý 1981-1983
Giorgio Chinaglia Ý 1983-1986
Franco Chimenti Ý 1986
Gianmarco Calleri Ý 1986-1992
Sergio Cragnotti Ý 1992-1994
Dino Zoff Ý 1994-1998
Sergio Cragnotti Ý 1998-2003
Ugo Longo Ý 2003-2004
Claudio Lotito Ý 2004-nay

Các nhà vô địch World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà tài trợ trang phục thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nhà tài trợ
1981–1982 Tonini
1982–1984 Seleco
1984–1986 Castor
1986–1991 Cassa di Risparmio di Roma
1991–1992 Banco di Santo Spirito
1992-1996 Banca di Roma
1996–2000 Cirio
1998–1999 Del Monte (UEFA Cup Winners' Cup)
1999-2000 Stream (Coppa Italia)
2000–2003 Siemens
2003-2005 Parmacotto
2003-2004 Indesit (Coppa Italia)
2005–2007 INA Assitalia (Insurance)
2007–2008 So.Spe.
Edileuropa
2008-2009 PES 2009
Groupama (Insurance)
Cucciolone Algida
2009 Regione Lazio (Italian Super Cup)
Edileuropa
Paideia
Năm Nhà cung cấp
1963–1964 Lacoste
1972–1976 Tuttosport
1977–1979 NR (Ennerre)
1979–1980 Pouchain
1980–1982 Adidas
1982–1986 NR (Ennerre)
1986–1987 Tuttosport
1987–1989 Kappa
1989–1998 Umbro
1998-nay Puma

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Stadi Serie A 2015–2016” (PDF). 
  2. ^ “Storia”. S.S. Lazio (bằng tiếng Italian). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ “Palmares”. S.S. Lazio (bằng tiếng Italian). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ “Il Derby della Capitale”. CBC. 28 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016. 
  5. ^ a ă “La Storia”. S.S. Lazio (bằng tiếng Italian). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016. 
  6. ^ “Club info”. S.S. Lazio. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ “Silvio Piola”. cronologia.leonardo.it. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016. 
  8. ^ “Italy 1970/71”. RSSSF. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  9. ^ “La Lazio di Re Cecconi”. vecchiasignora.com. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  10. ^ “I banditi e i Campioni – Lazio '73–'74 – Uno scudetto "contro" tutto e tutti”. postadelgufo.it. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  11. ^ “Italy 1973/74”. RSSSF. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  12. ^ “Lazio”. albionroad.com. 24 tháng 6 năm 2007. 
  13. ^ a ă “Maglie”. ultraslazio.it. 24 tháng 6 năm 2007. 
  14. ^ “Lazio Football Team Information”. football.co.uk. 24 tháng 6 năm 2007. 
  15. ^ “Evoluzione di un simbolo nobile e glorioso”. ultraslazio.it. 24 tháng 6 năm 2007. 
  16. ^ “Stadio Olimpico – nuove tecniche di safety & security”. Vigili del Fuoco (bằng tiếng Italian). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  17. ^ “PES 2009 Stadiums Archives - Page 44 of 47”. Pes Patch. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2016. 
  18. ^ Bordignon, Fabio; Ceccarini, Luigi (8 tháng 8 năm 2008). “Tifosi, Juventus la più amata. Inter la più antipatica”. La Repubblica (bằng tiếng Italian). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  19. ^ “S.S. Lazio”. ITV-Football. 29 tháng 6 năm 2007. 
  20. ^ “Italian Ultras Scene”. View from the Terrace. 29 tháng 6 năm 2007. 
  21. ^ Duke, Greg (22 tháng 10 năm 2008). “Football First 11: Do or die derbies”. CNN. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  22. ^ “Ultras History”. ultraslazio.it. 29 tháng 6 năm 2007. 
  23. ^ a ă â b “Record”. S.S. Lazio. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ “Italy – All-Time Topscorers”. RSSSF. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  25. ^ Sannucci, Corrado (15 tháng 3 năm 2000). “Inzaghi show, la Lazio è tornata”. La Repubblica (bằng tiếng Italian). tr. 55. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2009. 
  26. ^ “Tommaso Rocchi”. ESPN. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  27. ^ “Goran Pandev”. ESPN. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Melli, Franco and Marco (2005). La storia della Lazio (bằng tiếng Ý). Rome: L'airone Editrice. ISBN 88-7944-725-4. 
  • Barbero, Sergio (1999). Lazio. Il lungo volo dell'aquila (bằng tiếng Ý). Graphot. ISBN 88-86906-19-6. 
  • Barraco, Egidio (1992). Nella Lazio ho giocato anch'io. Novantanni in biancoazzurro (bằng tiếng Ý). Aldo Pimerano. ISBN 88-85946-09-7. 
  • Bocchio, Sandro; Giovanni Tosco (2000). Dizionario della grande Lazio (bằng tiếng Ý). Newton & Compton. ISBN 88-8289-495-9. 
  • Cacciari, Patrizio; Filacchione; Stabile (2004). 1974. Nei ricordi dei protagonisti la storia incredibile della Lazio di Maestrelli (bằng tiếng Ý). Eraclea Libreria Sportiva. ISBN 88-88771-10-7. 
  • Chinaglia, Giorgio (1984). Passione Lazio (bằng tiếng Ý). Rome: Lucarini. ISBN 88-7033-051-6. 
  • Chiappaventi, Guy (2004). Pistole e palloni. Gli anni Settanta nel racconto della Lazio campione d'Italia (bằng tiếng Ý). Limina. ISBN 88-88551-30-1. 
  • Filacchione, Marco. Il volo dell'aquila. Numeri e uomini della grande Lazio (bằng tiếng Ý). Eraclea Libreria Sportiva. ISBN 88-88771-08-5. 
  • Martin, Simon (2006). Calcio e fascismo. Lo sport nazionale sotto Mussolini (bằng tiếng Ý). Mondadori. ISBN 88-04-55566-1. 
  • Melli, Franco (2000). Cara Lazio (bằng tiếng Ý). Rome: Lucarini. ISBN 88-7033-297-7. 
  • Melli, Franco (2000). Saga biancazzurra. La Lazio, Cragnotti, il nuovo potere (bằng tiếng Ý). Rome: Limina. ISBN 88-86713-56-8. 
  • Pennacchia, Mario (1994). Lazio patria nostra: storia della società biancoceleste (bằng tiếng Ý). Rome: Abete Edizioni. ISBN 88-7047-058-X. 
  • Recanatesi, Franco (2005). Uno più undici. Maestrelli: la vita di un gentiluomo del calcio, dagli anni Trenta allo scudetto del '74 (bằng tiếng Ý). Rome: L'Airone Editrice. ISBN 88-7944-844-7. 
  • Tozzi, Alessandro (2005). La mia Lazio. L'Avventura nel meno nove e altre storie biancocelesti (bằng tiếng Ý). Eraclea Libreria Sportiva. ISBN 88-88771-14-X. 
  • Valilutti, Francesco (1997). Breve storia della grande Lazio (bằng tiếng Ý). Rome: Newton & Compton editori. ISBN 88-7983-859-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]