Dani Alves

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Dani Alves
07 07 2019 Final da Copa América 2019 (48226649586) (cropped).jpg
Dani Alves nhận giải cầu thủ xuất sắc nhất Copa América 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Daniel Alves da Silva
Ngày sinh 6 tháng 5, 1983 (39 tuổi)
Nơi sinh Juazeiro, Brasil
Chiều cao 1,73 m (5 ft 8 in)[1]
Vị trí Hậu vệ cánh phải
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Juazeiro
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2002 Bahia 25 (2)
2002–2008 Sevilla 175 (11)
2008–2016 Barcelona 247 (14)
2016–2017 Juventus 19 (2)
2017–2019 Paris Saint-Germain 48 (2)
2019–2021 São Paulo 76 (10)
2021–2022 Barcelona 14 (1)
Đội tuyển quốc gia
2003 U-20 Brazil 17 (0)
2021 Olympic Brazil 7 (0)
2006– Brasil 124 (8)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 22 tháng 5 năm 2021
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia chính xác tính đến 6 tháng 6 năm 2022

Daniel Alves da Silva (sinh ngày 6 tháng 5 năm 1983 ở Bahia, Brasil) thường được biết tới với cái tên Dani Alves, là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Brasil chơi ở vị trí hậu vệ phải cho đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil. Alves từng có 6 mùa giải thành công cùng Sevilla FC, vô địch 2 cúp UEFACopa del Rey cùng đội bóng xứ Andalusia. Anh gia nhập Barcelona lần đầu với mức giá 34 triệu euro, trở thành hậu vệ đắt giá nhất vào thời điểm năm 2008, và giành cú ăn ba ngay trong mùa giải đầu tiên cùng đội bóng. Trong mùa giải tiếp theo, anh giành được Siêu cúp Tây Ban Nha, Siêu cúp UEFAFIFA Club World Cup. Ngoài ra, anh đã giúp câu lạc bộ giành được 2 Siêu cúp Tây Ban Nha khác, 5 chức vô địch La Liga và 2 danh hiệu UEFA Champions League trong những năm tiếp theo.

Năm 2016, Juventus ký hợp đồng với Alves theo dạng chuyển nhượng tự do. Alves đã giành chức vô địch Serie A 2016–17 và Coppa Italia 2016–17 trong mùa giải duy nhất của anh ấy với đội bóng, đồng thời lọt vào Chung kết Champions League. Năm 2017, Alves gia nhập đội bóng Pháp Paris Saint-Germain theo dạng chuyển nhượng tự do, giành cú ăn ba trong nước trong mùa giải đầu tiên, tiếp theo là một chức vô địch khác vào mùa giải tiếp theo. Năm 2019, anh trở về quê nhà gia nhập São Paulo. Hai năm sau, Alves giành được danh hiệu đầu tiên Campeonato Paulista với câu lạc bộ. Anh trở lại Barcelona vào năm 2021. Đến nay, anh là cầu thủ giành nhiều danh hiệu nhất còn thi đấu.

Thi đấu cho Brazil từ năm 2006, Alves đã tham gia 2 kỳ FIFA World Cup và 5 giải Copa América, giành chức vô địch vào 2007 và 2019, cũng như 2 Cúp Liên đoàn các châu lục 20092013.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Alves sinh ra ở Juazeiro, một thành phố thuộc bang Bahia của Brazil, với cha là Domingos Alves da Silva. Anh ấy chơi bóng với những đứa trẻ láng giềng. Cha của Alves cũng có niềm đam mê với bóng đá, và cuối cùng đã quản lý để tổ chức đội bóng đá của riêng mình. Alves, năm 6 tuổi, xuất phát ở vị trí tiền vệ cánh, nhưng vì không ghi được bàn thắng nào, cha anh đã xếp anh lại ở vị trí hậu vệ phải, vị trí mà anh vẫn chơi cho đến ngày nay. Alves làm nông dân và buôn bán khi còn trẻ[2][3].

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bahia[sửa | sửa mã nguồn]

Alves có trận ra mắt chuyên nghiệp cho Bahia trong trận đấu với Paraná Clube tại Campeonato Brasileiro Série A. Bahia giành chiến thắng 3–0, với Alves kiến tạo 2 bàn và kiếm được quả phạt đền. Huấn luyện viên trưởng Evaristo de Macedo sau đó đã cho anh một suất đá chính trong đội. Tại Bahia, anh đã giành được Campeonato Baiano 2001 và 2 lần vô địch Cup Đông Bắc 2001 và 2002. Những màn trình diễn xuất sắc đã khiến anh được chuyển sang Sevilla theo dạng cho mượn vào giữa năm 2002[4].

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Dani Alves thi đấu cho Sevilla

Dani Alves được Bahia cho Sevilla FC mượn vào mùa giải 2002-03, sau khi Dani Alves tham dự Giải trẻ thế giới và gây ấn tượng. Vào tháng 6 năm 2006, Sevilla đồng ý để Alves gia nhập Liverpool xong không thành do 2 đội không đạt được đồng thuận về mức giá[5]. Vào tháng 12 năm 2006, anh quyết định gia hạn hợp đồng với Sevilla tới năm 2012[6], và có mùa giải 2006-07 cực thành công khi ra sân 47 lần và ghi được 5 bàn thắng, giúp đội đạt chức vô địch cúp UEFA. Vào mùa hè 2007, Alves được theo đuổi một cách gắt gao bởi Chelsea, và chính anh cũng cho biết muốn rời Sevilla. Song ban lãnh đạo Sevilla đã từ chối 3 mức giá mà Chelsea đưa ra.

Alves sau đó tiết lộ sự thất vọng với chủ tịch câu lạc bộ José María del Nido vì đã từ chối lời đề nghị của Chelsea cho sự phục vụ của anh ấy sau khi chuyển đến Stamford Bridge sụp đổ, với việc Chelsea ký hợp đồng với hậu vệ người Brazil Juliano Belletti với mức phí thấp hơn nhiều. Sau đó. một cuộc chiến công khai giữa Alves và Del Nido đã nổ ra, cũng như cái chết của người đồng đội Antonio Puerta, Alves quyết định ở lại với Sevilla, với cầu thủ và chủ tịch dường như đã hòa giải.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2008, cuối cùng Alves cũng rời Sevilla để chuyển tới gã khổng lồ FC Barcelona với mức giá kỉ lục cho một hậu vệ vào khoảng 34 triệu euro[7]. Ngay lập tức, Alves có một vị trí quan trọng trong đội hình Barca và trở thành vị trí không thể thay thế ở vị trí hậu vệ phải. Anh có trận ra mắt trong màu áo Barca ở trận gặp Wisła Kraków ở vòng loại thứ 3 cúp C1. Mặc dù có một mùa giải rất thành công song anh đã không được dự trận chung kết cúp C1 khi Barca thắng 2-0 trước Manchester United.[8]

Dani Alves ăn mừng chức vô địch Siêu cup Châu Âu 2015

Trong mùa giải thứ 2 tại Barça, câu lạc bộ đã giữ được chức vô địch Liga và giành được FIFA Club World Cup 2009. Trong mùa giải 2010–11, Alves là nhân tố giúp Barcelona giành chức vô địch Liga thứ 3 liên tiếp.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2011, Alves đã chơi trong trận chung kết Champions League đầu tiên khi Barcelona đánh bại Manchester United với tỷ số 3-1 tại sân vận động Wembley để giành chiếc cúp châu Âu thứ 4[9].

Trong mùa giải 2011–12, Alves là thành viên của đội giành được Copa del Rey và Club World Cup. Vào năm 2012–13, Alves đã giành chức vô địch Liga lần thứ 4 trong 5 mùa giải tại Barça.

Tại mùa 2013–14, Alves mặc áo số 22, trước đây được mặc bởi người bạn Eric Abidal, người mà anh đã đề nghị hiến một phần gan của mình trong thời gian Abidal điều trị bệnh ung thư gan[10]

Chức vô địch Champions League thứ 3[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 6 tháng 6 năm 2015, Alves đá chính cho Barça trong trận chung kết Champions League 2015, giúp câu lạc bộ giành được Cúp châu Âu lần thứ 5 khi đánh bại Juventus 3-1 tại Olympiastadion ở Berlin[11]. Điều này khiến Barcelona trở thành câu lạc bộ đầu tiên trong lịch sử giành được cú ăn 3 vô địch quốc nội, cúp quốc nội và cúp châu Âu 2 lần. Alves, Lionel Messi, Andrés Iniesta, Xavi, Gerard Piqué, Pedro và Sergio Busquets là những cầu thủ duy nhất góp mặt trong cả 2 lần đội giành cú ăn 3[12].

Vào ngày 9 tháng 6 năm 2015, Alves ký hợp đồng 2 năm với Barcelona, ​​giữ anh ở lại câu lạc bộ cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2017, với tùy chọn gia hạn thêm 1 năm[13].

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng 6 năm 2016, Dani Alves đã thông báo sẽ rời Barcelona để chuyển sang Juventus sau Copa América Centenario 2016. Lý do của anh đưa ra rất bất ngờ, là "muốn tìm kiếm thêm thử thách mới cuối sự nghiệp, sau khi cùng Barca thâu tóm rất nhiều danh hiệu một cách dễ dàng đến nhàm chán". Alves ký hợp đồng 2 năm với Juventus, kèm theo lựa chọn gia hạn 1 năm[14].

Anh ra mắt Juventus vào ngày 20 tháng 8 trong chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Fiorentina ở Serie A. Vào ngày 21 tháng 9, Alves ghi bàn thắng đầu tiên với Juventus trong chiến thắng 4–0 trên sân nhà trước Cagliari, trước khi mở tài khoản Champions League với câu lạc bộ gặp Dinamo Zagreb 6 ngày sau đó. Vào ngày 27 tháng 11, anh bị gãy chân trong trận thua 3-1 của Juventus trước Genoa. Alves đã trở lại sau chấn thương khi vào sân thay người trong chiến thắng 1–0 trước Inter Milan vào ngày 5 tháng 2 năm 2017.

Vào ngày 9 tháng 5 năm 2017, Alves ghi một bàn và kiến ​​tạo một bàn cho Mario Mandžukić khi Juventus đánh bại Monaco với tỷ số 2-1 để giành quyền vào chơi trận chung kết Champions League 2017. Sáu ngày trước đó, Alves đã kiến ​​tạo cả hai bàn thắng cho Gonzalo Higuaín trong trận lượt đi trên sân Stade Louis II. Vào ngày 17 tháng 5, Alves ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 2–0 trước Lazio trong trận Chung kết Coppa Italia 2017. Vào ngày 3 tháng 6, Alves xuất hiện trong trận chung kết UEFA Champions League thứ 3 khi Juventus để Real Madrid đánh bại 4–1 tại Sân vận động Thiên niên kỷ ở Cardiff[15].

Vào ngày 29 tháng 6 năm 2017, Alves đã chấm dứt hợp đồng với Juventus theo sự đồng ý của 2 bên. Anh ghi có 33 lần ra sân, giành chức vô địch Serie A và Coppa Italia trong một mùa giải ở Turin[16].

Paris Saint-Germain[sửa | sửa mã nguồn]

Daniel Alves tại PSG năm 2017

Sau mùa giải 2016-17 chơi cho Juventus, Alves chuyển sang Paris Saint-Germain trong 2 năm[17]. Anh có trận ra mắt câu lạc bộ vào ngày 29 tháng 7 tại Siêu cúp bóng đá Pháp 2017, ghi một bàn và kiến ​​tạo bàn thắng quyết định cho Adrien Rabiot trong chiến thắng 2-1 trước nhà vô địch Ligue 1 Monaco[18]. Vào ngày 5 tháng 8, Alves kiến ​​tạo cho Edinson Cavani ghi bàn thắng đầu tiên cho PSG trong chiến thắng 2–0 trước Amiens tại sân nhà[19].

Vào ngày 8 tháng 5 năm 2018, anh đá chính trong trận Chung kết Cúp bóng đá Pháp 2018, khi PSG đánh bại Les Herbiers VF 2–0; anh vào sân ở phút 86 thay cho Thomas Meunier, sau khi dính chấn thương[20].

Vào ngày 28 tháng 8 năm 2018, Alves đã thông báo thông qua một bài đăng trên trang Instagram về việc thay đổi số áo từ 32 thành 13 để tưởng nhớ huyền thoại người Brazil từng 4 lần vô địch World Cup Mário Zagallo[21]. Sau khi hết hạn hợp đồng với câu lạc bộ vào ngày 30 tháng 6 năm 2019, Alves trở thành cầu thủ tự do.[22]

São Paulo[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 8 năm 2019, São Paulo FC thông báo họ đã ký hợp đồng với Dani Alves có thời hạn đến tháng 12 năm 2022.[23] Tại Sao Paulo, Dani Alves sẽ khoác áo số 10[24]. Alves ra mắt lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 8 năm 2019, ghi bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 trước Ceará tại Morumbi. Mặc dù là một hậu vệ phải trong suốt sự nghiệp, anh thường chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm trong thời gian ở São Paulo, chủ yếu là trong nhiệm kỳ của Fernando Diniz từ 2019 đến 2021. Anh cũng được làm đội trưởng đội một vào thời điểm đó. Vào năm 2021, tân huấn luyện viên Hernán Crespo đã đưa Alves trở lại với vai trò phòng ngự nhiều hơn, anh chơi như một hậu vệ cánh phải. Đồng thời, anh trao chiếc băng đội trưởng cho Miranda, người mới trở lại CLB sau một thập kỷ. Vào tháng 5, anh ấy đã giành được danh hiệu duy nhất của mình với câu lạc bộ và danh hiệu thứ 42 trong sự nghiệp Campeonato Paulista, kết thúc quãng thời gian 8 năm không danh hiệu của São Paulo.

Vào ngày 10 tháng 9 năm 2021, đại diện của Alves đã thông báo với São Paulo rằng anh sẽ không còn trở lại tập luyện và sau đó chơi cho câu lạc bộ sau một cuộc tranh chấp về quyền hình ảnh chưa được thanh toán. Hợp đồng của anh ấy bị chấm dứt 6 ngày sau đó[25].

Trở lại Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12 tháng 11 năm 2021, Barcelona đã công bố về việc ký lại hợp đồng với Alves đến cuối mùa giải 2021–22 theo yêu cầu của tân HLV Xavi.[26] Trước đó Alves tự do từ tháng 9 khi chấm dứt hợp đồng với đội bóng quê nhà Sao Paulo. Theo báo AS, trước khi Barca ngỏ lời, Alves đã đàm phán với Fluminense. Anh đổi ý khi biết đồng đội cũ Xavi Hernandez muốn tái hợp tại Barca.[27] Lần ra mắt thứ 2 của Alves cho Barca là vào ngày 5 tháng 1 năm 2022, trong chiến thắng 2-1 ở Copa del Rey trước Linares Deportivo[28]. Vào ngày 4/2, anh ghi 1 bàn & kiến tạo 1 bàn, cũng như nhận thẻ đỏ trực tiếp bởi pha phạm lỗi từ phía sau với Carrasco trong chiến thắng 4-2 trước Atletico Madrid[29]

Mục tiêu của sự cố phân biệt chủng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến thắng 3-2 trước Villarreal vào ngày 27/4/2014, Dani Alves bị ném chuối và nhại tiếng khỉ khi chuẩn bị thực hiện quả phạt góc cho Barca ở giữa hiệp 2. Đáp lại hành động phản cảm này, hậu vệ người Brazil đã nhặt, bóc và ăn trái chuối ngay trước mặt trọng tài và hàng vạn khán giả có mặt trên sân. Sau trận đấu, Daniel Alves cho biết: “Những cầu thủ da màu như chúng tôi phải hứng chịu sự kỳ thị như thế không ít lần ở Tây Ban Nha. Bạn hãy xem đó như là chuyện đùa của 1 bộ phận CĐV. Nhưng nếu bạn cho rằng chuyện đó chẳng quan trọng với mình, những kẻ kỳ thị sẽ không đạt được mục tiêu”. Anh cũng cho biết trên BBC: "Tôi hi vọng chiến dịch này sẽ giúp loại bỏ nạn phân biệt chủng tộc khỏi bóng đá. Tôi hi vọng những cuộc tranh luận về phân biệt chủng tộc không nguội đi mà phải luôn được để mắt tới và không chỉ giới hạn trong bóng đá".[30]

Sau khi đồng đội, đồng hương trẻ của Alves là Neymar lên tiếng phản ứng trên trang Twitter với câu nói bất hủ: “Vâng, tất cả chúng ta là khỉ đấy”, giới bóng đá lập tức lên tiếng ủng hộ hai cầu thủ người Brazil. Trên các trang Twitter và Instagram xuất hiện hình ảnh Sergio Aguero, tuyển thủ nữ Brazil Marta đang ăn chuối kèm lời bình: “Chúng tôi, Aguero và Marta, nói không với nạn phân biệt chủng tộc. Tất cả mọi người đều bình đẳng”., thậm chí cả Thủ tướng Italia Matteo Renzi cũng theo trào lưu ăn chuối để ủng hộ hậu vệ người Brazil.[31]

Song song đó, cảnh sát Tây Ban Nha cho biết đã bắt giữ một thanh niên 26 tuổi tên David Campaya Lleo, kẻ bị tình nghi đã ném trái chuối về phía Alves. Villarreal cho biết đã rút vé mùa và cấm vào sân vĩnh viễn với Lleo.[32]

Sự nghiệp thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dani Alves có trận ra mắt trong màu áo đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil vào ngày 7 tháng 10 năm 2006 trong trận giao hữu gặp đội bóng Al-Kuwait Selection. Anh cùng đội tuyển Brazil vô địch Copa America 2007. Mặc dù là hậu vệ đắt nhất trong lịch sử, song Alves không có được một vị trí vững chắc ở đội tuyển quốc gia khi luôn phải cạnh trạnh cùng Maicon cho một vị trí chính thức. Dani Alves vào sân từ ghế dự bị trong trận bán kết FIFA Confederations Cup 2009 gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi. Anh chính là người ghi bàn quyết định từ một cú sút phạt cực mạnh ở phút 88, đem về chiến thắng 1-0 cho Brazil[33]. Anh có tên trong đội tuyển Brazil tham dự FIFA World Cup 2010[34]. Anh ghi một bàn từ quả đá phạt tầm xa vào lưới Iran vào ngày 7 tháng 10 năm 2010. Năm 2011, Alves được đưa vào danh sách 23 cầu thủ của Brazil tham dự Copa América 2011 tại Argentina.[35]

Dani Alves năm 2018

Alves là 1 trong 23 cầu thủ được huấn luyện viên Luiz Felipe Scolari dự FIFA Confederations Cup 2013 trên sân nhà. Anh đá chính trong chiến thắng 3–0 của Brazil trước Tây Ban Nha trong trận chung kết vào ngày 30 tháng 6 tại Sân vận động Maracanã.[36]

Vào ngày 7 tháng 5 năm 2014, Alves được điền tên vào đội tuyển Brazil tham dự FIFA World Cup 2014 trên sân nhà[37]. Anh đã mất vị trí chính thức trong suốt giải đấu do màn trình diễn kém cỏi. Sau khi Brazil đánh bại Colombia với tỷ số 2-1 trong trận tứ kết, Alves và đồng đội David Luiz đã được tán thưởng vì đã an ủi James Rodríguez, một hành động mà cả Rodríguez và giới truyền thông đều khen ngợi vì thể hiện sự tôn trọng[38].

Alves được HLV Dunga chọn đá chính trong cả 2 giải đấu Copa América 2015[39]Copa América 2016[40]. Anh đã giữ được vị trí của mình sau khi Tite nắm quyền và giúp Brazil đảm bảo suất tham dự FIFA World Cup 2018, nhưng đã bị loại khỏi giải đấu do chấn thương đầu gối gặp phải trong trận Chung kết Coupe de France 2018.[41]

Tại Cúp bóng đá Nam Mỹ 2019, anh có tên trong danh sách 23 người của Brazil tham dự giải đấu trên sân nhà[42]. Anh tiếp tục thay Neymar làm đội trưởng cho giải đấu[43]. Trong trận đấu cuối cùng với Peru tại São Paulo vào ngày 22 tháng 6, Alves ghi bàn trong chiến thắng 5–0, giúp Brazil tiến vào tứ kết[44]. Trong trận chung kết vào ngày 7 tháng 7 tại Sân vận động Maracanã, Brazil một lần nữa đối đầu với Peru và giành chiến thắng với tỷ số 3-1 để giành chức vô địch; Alves sau đó được vinh danh là Cầu thủ hay nhất giải đấu[45], đó cũng là danh hiệu thứ 40 trong sự nghiệp của Alves[45][46]

Tại kỳ Thế vận hội Mùa hè 2020, Alves có tên trong đội hình Brazil tham dự Thế vận hội. Trong trận chung kết, Brazil đối mặt với Tây Ban Nha và giành huy chương vàng sau chiến thắng 2-1 sau bàn thắng của Malcom trong hiệp phụ. Ở tuổi 38, anh trở thành cầu thủ bóng đá lớn tuổi nhất từng giành huy chương trong giải bóng đá nam Olympic[47].

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 21 tháng 5 năm 2021.[48]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia[49] Cúp liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Bahia 2001 6 0 0 0 6 0
2002 19 2 6 2 25 4
Tổng cộng 25 2 6 2 31 4
Sevilla 2002–03 10 0 1 0 11 0
2003–04 29 1 7 1 36 2
2004–05 33 2 5 0 9 0 47 2
2005–06 36 3 2 0 14 0 52 3
2006–07 34 3 8 0 14 2 1 0 57 5
2007–08 33 2 3 0 8 2 3 0 47 4
Tổng cộng 175 11 26 1 45 4 4 0 250 16
Barcelona 2008–09 34 5 8 0 12 0 54 5
2009–10 29 3 3 0 11 0 5 0 48 3
2010–11 35 2 5 0 12 2 2 0 54 4
2011–12 33 2 5 1 10 0 4 0 52 3
2012–13 30 0 6 0 10 1 1 0 47 1
2013–14 27 2 5 0 8 2 2 0 42 4
2014–15 30 0 5 0 11 0 46 0
2015–16 29 0 6 1 8 0 5} 0 48 1
Tổng cộng 247 14 43 2 82 5 19 0 391 21
Juventus 2016–17 19 2 2 1 12 3 0 0 33 6
Paris Saint-Germain 2017–18 25 1 4 0 3 1 8 2 1 1 41 5
2018–19 23 1 4 2 2 0 3 0 0 0 32 3
Tổng cộng 48 2 8 2 5 1 11 2 1 1 73 8
São Paulo 2019 20 2 20 2
2020 30 1 6 0 6 2 11 4 53 7
2021 6 0 1 0 6[a] 0 9[b] 1 22 1
Tổng cộng 56 3 7 0 12 2 20 5 95 10
Barcelona 2021–22 2 1 2 0 0 0 1 0 5 1
Tổng cộng sự nghiệp 572 35 94 8 6 2 162 15 51 7 885 67

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 6 tháng 6 năm 2022.[50][51][52]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Brazil 2006 1 0
2007 12 1
2008 5 0
2009 14 2
2010 12 2
2011 10 0
2012 5 0
2013 13 0
2014 7 1
2015 8 0
2016 12 1
2017 6 0
2018 2 0
2019 11 1
2022 5 0
Tổng cộng 124 8

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 15 tháng 7 năm 2007 Sân vận động José Pachencho Romero, Maracaibo, Venezuela  Argentina 3–0 3–0 Copa América 2007
2 6 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Centenario, Montevideo, Uruguay  Uruguay 1–0 4–0 Vòng loại World Cup 2010
3 25 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Ellis Park, Johannesburg, Nam Phi  Nam Phi 1–0 1–0 Confed Cup 2009
4 7 tháng 10 năm 2010 Sân vận động Zayed Sports City, Abu Dhabi, UAE  Iran 1–0 3–0 Giao hữu
5 11 tháng 10 năm 2010 Sân vận động Pride Park, Derby, Anh  Ukraina 1–0 2–0 Giao hữu
6 3 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Serra Dourada, Goiás, Brasil  Panama 2–0 4–0 Giao hữu
7 29 tháng 3 năm 2016 Sân vận động Defensores del Chaco, Asunción, Paraguay  Paraguay 2–2 2–2 Vòng loại World Cup 2018
8 22 tháng 6 năm 2019 Arena Corinthians, São Paulo, Brasil  Peru 4–0 5–0 Copa América 2019

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bahia

  • Campeonato Baiano: 2001
  • Copa do Nordeste: 2001, 2002

Sevilla

Barcelona

Juventus[108]

Paris Saint-Germain[108]

São Paulo[108]

  • Campeonato Paulista: 2021

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Brazil

Brazil Olympic

U-20 Brazil

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất UEFA Cup: 2006
  • Cầu thủ xuất sắc nhất trận Siêu Cúp châu Âu: 2006
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Copa América: 2019
  • Đội hình của năm: 2007, 2009
  • Hậu vệ xuất sắc nhất: 2008-09 (LFP)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Daniel Alves da Silva”. F.C. Barcelona. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.[liên kết hỏng]
  2. ^ “Biography”. Dani Alves — Biography. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014.
  3. ^ “Daniel Alves”. FootballTop.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014.
  4. ^ “Daniel Alves: da Bahia para o sucesso” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Esporte Clube Bahia. 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  5. ^ “Liverpool cleared to sign Alves”. BBC Sport. 15 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  6. ^ “Sevilla keep hold of Alves”. UEFA. 22 tháng 12 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2007.
  7. ^ “I have Sevilla to thank for everything...”. Sevilla FC. 1 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008.
  8. ^ Jordan, Andrew. “FC Barcelona's 10 Best Moments in 2008-09”. Bleacher Report (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  9. ^ “Ngày này năm xưa: MU thua "tâm phục khẩu phục" Barca ở chung kết Champions League”. VOV.VN. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  10. ^ “Số áo Barca mùa tới: Alves khoác áo số 22 để tri ân Abidal”. thethaovanhoa.vn. 25 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  11. ^ VTV, BAO DIEN TU (7 tháng 6 năm 2015). “Barcelona 3–1 Juventus: Tam tấu M-S-N đưa Barca lên đỉnh châu Âu”. BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  12. ^ “Barça make history with second treble!”. FC Barcelona. 6 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
  13. ^ “Agreement to renew Dani Alves' contract”. fcbarcelona.com. 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
  14. ^ “Dani Alves è bianconero”. juventus.com. 27 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2016.
  15. ^ VnExpress. “Ronaldo lập cú đúp, Real giữ ngôi vương Champions League”. vnexpress.net. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  16. ^ “Juventus hủy hợp đồng với Dani Alves”. ZingNews.vn. 22 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  17. ^ “Dani Alves joins PSG”. theguardian.com. 12 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2017.
  18. ^ “Alves stars as PSG secure Trophee des Champions”. SBS. 30 tháng 7 năm 2017.
  19. ^ “Paris Saint Germain 2–0 Amiens”. BBC. 5 tháng 8 năm 2017.
  20. ^ Begley, Emlyn (8 tháng 5 năm 2018). “French Cup final - PSG beat Les Herbiers”. BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018.
  21. ^ Burton, Chris (28 tháng 8 năm 2018). “Paris Saint-Germain news: Dani Alves explains shirt swap to No. 13”. Goal.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2019.
  22. ^ bongda24h.vn (23 tháng 6 năm 2019). “Đòi hỏi không xong, Dani Alves dứt tình với PSG”. Tin bóng đá 24h. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  23. ^ Leonan, Érico (ngày 1 tháng 8 năm 2019). “Bem-vindo à sua casa, Dani Alves” [Welcome home, Dani Alves]. São Paulo FC. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019.
  24. ^ “Dani Alves chính thức gia nhập Sao Paulo, khoác áo số... 10 | Goal.com”. www.goal.com. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  25. ^ VTV, BAO DIEN TU (14 tháng 9 năm 2021). “Dani Alves đạt thỏa thuận chia tay Sao Paulo”. BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  26. ^ “Agreement in principle to sign Dani Alves”. FC Barcelona. 12 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2021.
  27. ^ VnExpress. “Dani Alves trở lại Barca”. vnexpress.net. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2021.
  28. ^ “Xavi brings Luuk de Jong and Dani Alves to life”. Marca. 9 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022.
  29. ^ VnExpress. “Barca hạ Atletico để vào top 4”. vnexpress.net. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  30. ^ ONLINE, TUOI TRE (30 tháng 4 năm 2014). “Alves mở đầu phong trào 'ăn chuối chống phân biệt chủng tộc'. TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  31. ^ “Các sao và trào lưu "ăn chuối" chống phân biệt chủng tộc”. VOV.VN. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  32. ^ “Cấm CĐV ném chuối Dani Alves tới sân vĩnh viễn”. ZingNews.vn. 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  33. ^ “Brazil 1–0 South Africa”. BBC Sport. 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009.
  34. ^ “Brazil's Dunga unfazed by critics”. CNN. 18 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2010.
  35. ^ Sturtridge, Tim; Pérez, Alejandro (23 tháng 6 năm 2011). “Copa America: Brazil squad preview”. The Independent. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2019.
  36. ^ VnExpress. “Đại thắng Tây Ban Nha, Brazil lần thứ tư vô địch Confed Cup”. vnexpress.net. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  37. ^ “Brazil reveal World Cup squad as Kaka, Robinho and Lucas Moura miss out”. Goal.com. 7 tháng 5 năm 2014.
  38. ^ “David Luiz epitomizes sportsmanship by consoling, applauding a crying James Rodriguez”. NBCsports. 4 tháng 7 năm 2014.
  39. ^ “Dunga corta Oscar e chama Robinho e Casemiro para a Copa América” [Dunga cuts Oscar and calls Robinho and Casemiro for the Copa América] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). UOL. 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015.
  40. ^ “Dunga convoca Seleção para a Copa América com 7 jogadores olímpicos” [Dunga calls up Seleção to the Copa América with seven Olympic players] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Globo Esporte. 5 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016.
  41. ^ “Informações sobre o atleta Daniel Alves” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). selecao.cbf.com.br.
  42. ^ “Brazil name Copa America squad”. Football Italia. 17 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
  43. ^ “Copa America: Neymar stripped of Brazil captaincy and replaced by Dani Alves”. BBC Sport. 28 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  44. ^ “Brazil's Roberto Firmino on target in Copa América win against Peru”. The Guardian. 22 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019.
  45. ^ a b VnExpress. “Brazil vô địch Copa America 2019”. vnexpress.net. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  46. ^ Olmedo, Álvaro; Winterburn, Chris (8 tháng 7 năm 2019). “Dani Alves: I don't agree with Messi that the Copa America was corrupt”. Marca. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2019.
  47. ^ “Brazil giành Huy chương Vàng bóng đá nam Olympic Tokyo 2020”. laodong.vn. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2022.
  48. ^ “Daniel Alves”. ESPN Soccernet. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. Đã định rõ hơn một tham số trong |accessdate=|access-date= (trợ giúp)
  49. ^ Bao gồm Copa do BrasilCopa del Rey.
  50. ^ “Seleção Brasileira (Brazilian National Team) 2006–2007”. RSSSF Brazil. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  51. ^ “Seleção Brasileira (Brazilian National Team) 2008–2009”. RSSSF Brazil. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  52. ^ Dani Alves tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu