Keylor Navas

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Keylor Navas
Real press 2015 (3).jpg
Navas trong một cuộc họp báo với Real Madrid năm 2015
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Keylor Antonio Navas Gamboa
Ngày sinh 15 tháng 12, 1986 (31 tuổi)
Nơi sinh Pérez Zeledón, Costa Rica
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)[1]
Vị trí Thủ môn
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Real Madrid
Số áo 1
CLB trẻ
1999-2005 Saprissa
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2010 Saprissa 60 (0)
2010–2012 Albacete 36 (0)
2011–2012Levante (muợn) 1 (0)
2012–2014 Levante 46 (0)
2014– Real Madrid 94 (0)
Đội tuyển quốc gia
2003 U-17 Costa Rica 3 (0)
2008– Costa Rica 83 (0)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào ngày 12 tháng 5 năm 2018.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào ngày 27 tháng 6 năm 2018

Keylor Antonio Navas Gamboa (sinh ngày 15 tháng 12 năm 1986) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Costa Rica đang chơi cho câu lạc bộ bóng đá Tây Ban Nha Real Madridđội tuyển bóng đá quốc gia Costa Rica, ở vị trí thủ môn.[2]

Sau khi bắt đầu ở Saprissa anh chuyển đến Albacete, và sau đó là Levante ở La Liga. Navas gia nhập Real Madrid vào năm 2014 với giá 10 triệu €.

Navas đã chơi trên 80 trận cho Costa Rica kể từ khi anh ra mắt vào năm 2008. Anh đã đại diện cho đất nước của mình ở hai giải Cúp vàng CONCACAFWorld Cup 2014, màn trình diễn ấn tượng của anh đã giúp đội bóng vào được vòng tứ kết của giải đấu sau này.[2]

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Saprissa[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở San Isidro de El General, Navas ra mắt với Deportivo Saprissa như một cầu thủ chuyên nghiệp vào ngày 06 tháng 11 năm 2005, trong một trận đấu với Asociación Deportiva Carmelita.[3] Anh là thủ môn số một được lựa chọn trong hai mùa giải cuối cùng của anh với câu lạc bộ, giành bảy danh hiệu trong đó có sáu giải vô địch quốc gia.[4]

Albacete[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2010, Navas đã ký kết với Albacete Balompié của Segunda DivisiónTây Ban Nha đúng 20 năm sau khi người đồng hương Luis Conejo chiếm vị trí của anh trong khung gỗ.[5] Anh đã chơi 36 trận trong số 42 ở mùa giải đầu tiên, nhưng đội bóng của anh bị xuống hạng sau khi kết thúc ở vị trí cuối cùng.

Levante[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2011-12, Navas đến La liga, khi được Levante UD mượn trong một năm.[6] Anh chơi trận ra mắt của mình trong một trận đấu ở vòng cuối cùng vào ngày 13 tháng 12, trận đấu mà đội nhà thắng 3-0 trước Athletic Bilbao để giành quyền được chơi ở UEFA Europa League lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ,[7] sau đó anh tham gia câu lạc bộ ở vùng Valencia bằng hợp đồng ba năm vào tháng 7 năm đó.[8] Mặc dù lúc đầu phải làm thủ môn dự bị cho Gustavo Munúa,[9] nhưng sau đó anh trở thành sự lựa chọn số một cho vị trí thủ môn của Levante ở mùa giải 2013-14, và được đề cử là thủ môn xuất sắc nhất giải đấu bên cạnh Thibaut Courtois của Atlético MadridWilly Caballero của Málaga CF[10] và giành được giải.[11] Vào tháng 3 năm 2014, anh trở thành thủ môn đầu tiên giành được giải cầu thủ La Liga của tháng.[12]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Navas cứu bóng cho Real Madrid năm 2015.

Ngày 03 tháng 8 năm 2014, Real Madrid chi 10 triệu € để mua đứt Navas, và anh đã ký hợp đồng 6 năm với câu lạc bộ.[13] Anh được gọi lần đầu tiên vào ngày 12 tháng tám, nhưng ngồi dự bị cho Iker Casillas trong trận chung kết Siêu cúp châu Âu năm 2014, Real Madrid giành chiến thắng 2-0 trước Sevilla F.C. tại sân vận động Cadiff City.[14] Navas chơi trận ra mắt cho câu lạc bộ vào ngày 23 tháng 9, trong chiến thắng 5-1 trước Elche tại Santiago Bernabéu.[15] Ngày 20 tháng 12, anh ngồi dự bị trong ngày đội bóng đăng quang tại Giải bóng đá Cúp câu lạc bộ thế giới, đánh bại câu lạc bộ San Lorenzo trong trận chung kết ở Ma-Rốc.[16]

Với sự ra đi của Iker Casillas, Navas thừa kế chiếc áo số 1 từ mùa giải 2015-16.[17] Real Madrid đồng ý bán Navas cho Manchester United như là một điều khoản để mua David de Gea vào ngày 31 tháng 8 năm 2015, nhưng thỏa thuận này sụp đổ vì những tài liệu không được gửi đến FIFA trước khi thị trường chuyển nhượng ở Tây Ban Nha kết thúc.[18]

Anh được ưu tiên lựa chọn cho vị trí thủ môn trong chiến dịch vô địch Giải bóng đá các câu lạc bộ châu Âu 2016 của đội bóng. Anh thiết lập một kỷ lục mới cho Real MadridCúp C1 bằng cách không để lọt lưới một bàn nào trong 8 lần ra sân đầu tiên của mình; 6 trong số này là ở mùa giải 2015-16. Anh còn đánh bại Edwin Van Der Sar để giành vị trí thứ hai trong danh sách những thủ môn giữ sạch lưới nhiều nhất trong lịch sử giải đấu, chỉ đứng sau Jens Lehmann-người giữ vị trí thứ nhất. Anh còn là thủ môn hiệu quả nhất ở mùa giải 2015-16 khi chỉ để thủng lưới 3 bàn sau 11 lần ra sân, và giữ sạch lưới 9 trận trong số đó.[19]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Navas và Giancarlo González ăn mừng chiến thắng của Costa Rica trước Uruguay ở World Cup 2014

Navas là một phần của đội tuyển Costa Rica chơi tại Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2003 được tổ chức tại Phần Lan. Anh được gọi vào đội tuyển quốc gia lần đầu tiên vào tháng 8 năm 2006, để chơi một giải đấu giao hữu tại châu Âu với ÁoThụy Sĩ, nhưng anh chỉ được chơi trận đầu tiên hai năm sau đó.

Navas xuất hiện với Los Ticos trong hai giải Cúp vàng CONCACAF, được danh hiệu thủ môn xuất sắc nhất tại giải Cúp vàng CONCACAF năm 2009 vì anh đã giúp quốc gia của anh vào được vào vòng bán kết. Anh có trận ra mắt tại World Cup vào ngày 14 tháng 6 năm 2014, lúc đội nhà thắng 3-1 trước Uruguay tại Fortaleza trong khuôn khổ vòng bảng World Cup 2014, anh chỉ để bị thủng lưới 1 bàn trong cả ba trận vòng bảng giúp Costa Rica đi tiếp vào vòng trong với vị trí đầu bảng.

Ngày 29 tháng Sáu, Costa Rica đấu với Hy Lạp trong vòng 1/16, Navas là cầu thủ hay nhất trận sau một vài nỗ lực cứu bóng trong thời gian thi đấu chính thức và chặn được cú sút của Theofanis Gekas trong loạt sút luân lưu, điều này giúp Costa Rica lần đầu tiên trong lịch sử vào được tứ kết World Cup. Anh kết thúc giải đấu với ba lần giữ sạch lưới trong năm trận đấu, khi đội bóng đã bị loại bởi Hà Lan sau loạt sút luân lưu, và anh được vinh danh là cầu thủ hay nhất trận lần thứ ba. Anh cũng là một trong những ứng cử viên cho giải thưởng Găng tay vàng, nhưng đã thua trong việc giành giải thưởng này với Manuel Neuer của Đức.

Anh tiếp tục có tên trong đội hình tham dự World Cup 2018 diễn ra tại Nga, tuy nhiên đội tuyển Costa Rica đã rời giải ngay sau đó với chỉ vỏn vẹn 1 điểm, 1 trận hòa và 2 trận thua, chỉ ghi được 2 bàn thắng và lọt lưới 5 bàn, trong đó Navas góp mặt trong cả 3 trận đấu vòng bảng trước Serbia, BrasilThụy Sĩ.

Thống kê thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 26 tháng 5 năm 2018[20][21]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cúp quốc gia Lục địa Tổng cộng
Giải Số trận thi đấu Bàn thắng Số trận thi đấu Bàn thắng Số trận thi đấu Bàn thắng Số trận thi đấu Bàn thắng
Deportivo Saprissa 2008–09 Primera División 0 0 0 0 5 0 5 0
2009–10 Primera División 27 0 0 0 4 0 31 0
Tổng cộng 27 0 0 0 9 0 36 0
Albacete 2010–11 Segunda División 36 0 0 0 0 0 36 0
Tổng cộng 36 0 0 0 0 0 36 0
Levante 2011–12 La Liga 1 0 5 0 0 0 6 0
2012–13 La Liga 9 0 4 0 12 0 25 0
2013–14 La Liga 37 0 2 0 0 0 39 0
Tổng cộng 47 0 11 0 12 0 70 0
Real Madrid 2014-15 La Liga 6 0 3 0 2 0 11 0
2015–16 La Liga 34 0 0 0 11 0 45 0
2016–17 La Liga 27 0 2 0 12 0 41 0
2017–18 La Liga 27 0 6 0 11 0 44 0
Tổng cộng 94 0 11 0 36 0 141 0
Tổng cộng thành tích 220 0 31 0 48 0 299 0

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 27 tháng 6 năm 2018[22]
Costa Rica
Năm Số trận thi đấu Bàn thắng
2008 2 0
2009 14 0
2010 5 0
2011 11 0
2012 10 0
2013 8 0
2014 10 0
2015 4 0
2016 4 0
2017 8 0
2018 7 0
Tổng cộng 83 0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Navas chơi cho Levante vào năm 2013

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Saprissa
Real Madrid
  • La Liga: 2016-17
  • Siêu cup TBN: 2017

Danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Navas là một người theo Kitô giáo. Anh đã nói về đức tin của mình rằng: "Thiên Chúa cho tôi đến trước. Trước mỗi trận đấu tôi quỳ xuống, tôi mở cánh tay của tôi và cầu nguyện... Đoạn văn ưa thích của tôi trong Kinh Thánh là Gal 1:10 có nói: "Nếu tôi vẫn cố gắng để làm hài lòng người đàn ông, tôi sẽ không thể là một tôi tớ của Chúa Kitô."

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Keylor Navas”. Real Madrid C.F. Real Madrid C.F. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ a ă “World Cup: Costa Rica hero hails nation's efforts as Holland end journey”. Sky Sports. Ngày 6 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ “Juego apenas para el gasto” [I play only to make ends meet] (bằng tiếng Tây Ban Nha). La Nación. Ngày 7 tháng 11 năm 2005. 
  4. ^ “Monarca usó 24 jugadores” [Monarca used 24 players] (bằng tiếng Tây Ban Nha). La Nación. Ngày 17 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2014. 
  5. ^ “Navas: "Vengo con mucho compromiso"” [Navas: "I come full of commitment"] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Albacete's official website. Ngày 9 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013. 
  6. ^ “Keylor Navas, cedido al Levante” [Keylor Navas, loaned to Levante] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Fichajes. Ngày 2 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2014. 
  7. ^ “Ghezzal helps Levante secure European place”. ESPN Soccernet. Ngày 13 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013. 
  8. ^ “Keylor Navas ficha por el Levante” [Keylor Navas signs for Levante]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013. 
  9. ^ “Keylor Navas ante su oportunidad en el Levante si Gustavo Munúa deja el equipo” [Keylor Navas before his chance at Levante if Gustavo Munúa leaves team] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Al Día. Ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ Fernandez-Abascal, Eduardo (ngày 14 tháng 10 năm 2014). “Chelsea Duo Thibaut Courtois And Filipe Luis Nominated For La Liga Awards”. International Business Times. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2014. 
  11. ^ “gala de premios LFP 2013/14” [LFP Awards show 2013/14] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Liga de Fútbol Profesional. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2014. 
  12. ^ “Premios BBVA a los mejores de marzo” [BBVA awards for the best in March] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Liga de Fútbol Profesional. Ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2014. 
  13. ^ “Official statement: Keylor Navas”. realmadrid.com. Ngày 3 tháng 8 năm 2014. 
  14. ^ Phillips, Rob (ngày 12 tháng 8 năm 2014). “Super Cup: Cristiano Ronaldo scores twice in Real Madrid win”. BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014. 
  15. ^ Sámano, José (ngày 23 tháng 9 năm 2014). “Insaciable Cristiano” [Insatiable Cristano]. El País (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015. 
  16. ^ “Real Madrid beat San Lorenzo to take Club World Cup crown”. ESPN. Ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  17. ^ “Navas takes Casillas' No.1 jersey at Madrid”. Goal.com. Ngày 19 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2015. 
  18. ^ “David De Gea: Real Madrid 'did everything' to sign Man Utd keeper”. BBC Sport. BBC. Ngày 1 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015. 
  19. ^ “Spot-on Real Madrid defeat Atlético in final again”. uefa.com. Ngày 28 tháng 5 năm 2016. 
  20. ^ “Soccer Base profile”. soccerbase.com. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  21. ^ “Soccerway profile”. Soccerway. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ Keylor Navas tại National-Football-Teams.com
  23. ^ “Best Goalkeeper” (Thông cáo báo chí). CONCACAF. Ngày 26 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]