Xavi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xavi
Xavi Hernandez (31521652051).jpg
Xavi năm 2016
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Xavier Hernández Creus[1]
Ngày sinh 25 tháng 1, 1980 (42 tuổi)
Nơi sinh Terrassa, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,70 m[2]
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Barcelona (huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1991–1997 Barcelona
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1997–1999 Barcelona B 55 (3)
1998–2015 Barcelona 505 (58)
2015–2019 Al Sadd 82 (21)
Tổng cộng 642 (82)
Đội tuyển quốc gia
1997 U-17 Tây Ban Nha 10 (2)
1997–1998 U-18 Tây Ban Nha 10 (0)
1999 U-20 Tây Ban Nha 6 (2)
1998–2001 U-21 Tây Ban Nha 25 (7)
2000 U-23 Tây Ban Nha 6 (2)
2000–2014 Tây Ban Nha 133 (13)
Các đội đã huấn luyện
2019–2021 Al Sadd
2021– Barcelona
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 21 tháng 5 năm 2019

Xavier Hernández Creus (tiếng Tây Ban Nha: [ˈtʃaβi erˈnandeθ]; sinh ngày 25 tháng 1 năm 1980), thường được biết tới với tên Xavi, là một cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha. Anh hiện đang là huấn luyện viên câu lạc bộ Barcelona tại La Liga. Được coi là một trong những tiền vệ xuất sắc nhất lịch sử bóng đá thế giới,[3][4][5] Xavi nổi tiếng với khả năng chuyền bóng, tầm nhìn, giữ bóng và định vị đồng đội. Anh cũng được xem như là người đã sinh ra khái niệm "Roaming Playmaker": một mẫu tiền vệ có thể lực tốt nhằm di chuyển với cường độ cao cùng kỹ thuật tốt nhằm tạo ảnh hưởng nơi tuyến giữa trong đội hình.

Xavi gia nhập La Masia , lò đào tạo trẻ của Barcelona, ​​ở tuổi 11, và có trận ra mắt đội một trong trận gặp Mallorca vào tháng 8 năm 1998. Tổng cộng, anh đã chơi 767 trận chính thức, một kỷ lục cũ của câu lạc bộ - hiện do Lionel Messi nắm giữ - và ghi được 85 bàn thắng. Xavi là cầu thủ đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ thi đấu 150 trận đấu ở Cúp bóng đá châu Âu và FIFA Club World Cup. Với Barcelona, ​​Xavi đã giành được tám chức vô địch La Liga và bốn chức vô địch UEFA Champions League . Xavi đứng thứ ba trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2009 của FIFA , tiếp theo là vị trí thứ ba cho giải thưởng kế nhiệm, Quả bóng vàng FIFA , năm 2010và 2011 . Năm 2011, anh xếp sau Messi cho giải Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu của UEFA. Năm 2015, anh rời Barcelona để đến Al Sadd , nơi anh đã giành được bốn danh hiệu trước khi giải nghệ vào năm 2019. Anh là một trong số ít những cầu thủ được ghi nhận đã có hơn 1.000 lần ra sân chuyên nghiệp .

Với Tây Ban Nha, Xavi đã giành chức vô địch trẻ thế giới năm 1999 và huy chương bạc Olympic tại Thế vận hội 2000. Sau khi ra mắt đội cấp cao của mình vào năm 2000, anh ấy ra sân 133 lần cho đất nước của mình, và là một nhân vật có ảnh hưởng đến thành công của đội. Anh ấy đóng một vai trò quan trọng trong chức vô địch của Tây Ban Nha tại FIFA World Cup 2010, cũng như chiến thắng của họ tại UEFA Euro 2008UEFA Euro 2012. Anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu tại UEFA Euro 2008, và có tên trong Đội hình tiêu biểu của UEFA Euro năm 2008 và 2012. Với hai pha kiến ​​tạo trong trận chung kết UEFA Euro 2012, Xavi trở thành cầu thủ đầu tiên ghi đường kiến ​​tạo trong hai trận chung kết châu Âu riêng biệt, sau khi lập công duy nhất trong trận chung kết bốn năm trước đó. Sau FIFA World Cup 2014, Xavi tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế.

Xavi đã 4 lần được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của IFFHS, tất cả đều liên tiếp từ năm 2008 đến năm 2011. Anh ấy đã được lọt vào FIFA FIFPro World XI sáu lần: 2008 đến 2013 và Đội hình xuất sắc nhất năm lần của UEFA: 2008 đến 2012. Năm 2020, Xavi có tên trong Đội hình trong mơ Quả bóng vàng, đội hình vĩ đại nhất mọi thời đại do tạp chí France Football xuất bản. Xavi đã được trao Giải thưởng Hoàng tử xứ Asturias vào năm 2012, và anh ấy đã giành được 32 danh hiệu trong sự nghiệp của mình, khiến anh ấy trở thành cầu thủ Tây Ban Nha dành nhiều danh hiệu thứ hai trong lịch sử, sau đồng đội cũ Andrés Iniesta. Sau khi giải nghệ, Xavi chuyển sang làm huấn luyện viên, và anh được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tại câu lạc bộ Al Sadd của Qatar Stars League vào tháng 5 năm 2019, nơi anh đã giành được bảy danh hiệu trong vòng chưa đầy ba năm. Vào tháng 11 năm 2021, Xavi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tại câu lạc bộ cũ Barcelona.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

"Tôi đủ may mắn khi được lớn lên trong các tập quán của Barcelona. Điều đó đã dạy tôi giá trị của việc trở thành một phần của một đội bóng. 'Hôm nay cho bạn, ngày mai cho tôi.' Những phẩm chất đó rất cần thiết cho cuộc sống nói chung”.

—Xavi về việc tìm hiểu các tập quán của đội Barcelona khi còn ở hệ thống trẻ của câu lạc bộ, La Masia.[6]

Sinh ra ở Terrassa, Barcelona, ​​Catalunya, Xavi là một sản phẩm của hệ thống trẻ La Masia của FC

Barcelona, ​​anh gia nhập UFB Jàbac Terrassa và Terrassa FC khi mới 11 tuổi. Cha của anh, Joaquim, là cựu cầu thủ của Sabadell ở giải hạng nhất. Xavi vượt qua các đội trẻ và đội dự bị và là thành viên chủ chốt của đội Barcelona B của Josep Maria Gonzalvo đã giành quyền thăng hạng Nhì .

Mặc dù ban đầu anh được truyền cảm hứng bởi cầu thủ đồng hương Pep Guardiola tại Barcelona, khi còn nhỏ Xavi cũng đã xem rất nhiều bóng đá Anh, và chú ý đến các tiền vệ John Barnes, Paul GascoigneMatt Le Tissier.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

1998–2001: Bắt đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thăng tiến của Xavi qua các đội bóng đã giúp anh có được suất đá chính trong trận đấu ở Copa Catalunya với Lleida vào ngày 5 tháng 5 năm 1998  và anh ghi bàn thắng đầu tiên vào ngày 18 tháng 8 năm 1998 trong trận Supercopa de España năm 1998 gặp Mallorca. Trận ra mắt của anh ấy tại La Liga là trận gặp Valencia vào ngày 3 tháng 10 năm 1998 trong chiến thắng 3-1 cho Barcelona. Ban đầu thi đấu không liên tục cho cả đội dự bị và đội cao cấp, Xavi đã ghi bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 trước Real Valladolid khi Barcelona đang đứng ở vị trí thứ 10 trên BXH. Duy trì những màn trình diễn ấn tượng đồng nghĩa với việc anh trở thành thành viên chủ chốt của đội hình của HLV Louis van Gaal đã giành được danh hiệu, kết thúc mùa giải đầu tiên với 26 trận đã đấu và được vinh danh là Cầu thủ đột phá của năm 1999 tại La Liga. Xavi trở thành cầu thủ xuất sắc nhất của Barcelona sau chấn thương của Pep Guardiola trong mùa giải 1999– 2000.

2001–2008: Đột phá và mang băng đội phó[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm này, Barcelona đang đứng trước bờ vực phá sản và chật vật để giữ vị trí trong đội bóng thượng hạng của La Liga. Chơi ở vị trí tiền vệ, nhưng ở vai trò phòng ngự nhiều hơn, Xavi đã thực hiện 20 pha kiến ​​tạo và ghi 7 bàn trong hai mùa giải đó. Vào ngày 16 tháng 3 năm 2002, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong trận El Clásico với Real Madrid.

Xavi được bầu làm đội phó trong mùa giải 2004–05, trong đó anh đã giúp Barcelona vô địch La Liga và Supercopa de España năm 2004. Anh được vinh danh là Cầu thủ Tây Ban Nha xuất sắc nhất La Liga năm 2005.

Trong mùa giải 2005–06, Xavi bị rách dây chằng đầu gối trái khi tập luyện; anh ấy đã phải nghỉ thi đấu trong 4 tháng nhưng đã trở lại vào tháng 4 và được ngồi trên băng ghế dự bị trong chiến thắng của Barcelona trong trận Chung kết Champions League 2006 với Arsenal. Anh ấy cũng đã vô địch La Liga và Supercopa de España một lần nữa.

2008–2012: Thành công liên tục trong nước và châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

"Xavi là một cầu thủ mang DNA của Barcelona: một người có sở thích chơi bóng đá đẹp, một người khiêm tốn và một người trung thành với câu lạc bộ này. Ngay từ giây phút đầu tiên tôi nhìn thấy anh ấy thi đấu, tôi đã biết anh ấy sẽ trở thành bộ não đằng sau Barcelona trong nhiều năm tới. "

—Cựu huấn luyện viên Barcelona Pep Guardiola, tháng 9 năm 2008.[7]

Sau khi được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất Euro 2008, Xavi đã nói chuyện với Bayern Munich về một vụ chuyển nhượng, nhưng huấn luyện viên mới được bổ nhiệm của Barcelona, ​​Pep Guardiola đã thuyết phục anh rằng anh quá quan trọng với câu lạc bộ để được phép ra đi. Anh là nhân tố chính trong cú ăn ba của Barcelona và ghi bàn thắng thứ tư trong chiến thắng 4–1 trong trận Chung kết Copa del Rey 2009 trước Athletic Bilbao, bằng một quả đá phạt trực tiếp. Tại La Liga , một trong những trận đấu quan trọng nhất của anh ấy là chiến thắng 6–2 trong trận El Clásico trước Real Madrid vào ngày 2 tháng 5; Anh ấy đã kiến ​​tạo 4 bàn - 1 lần cho Carles Puyol, 1 lần cho Thierry Henry và 2 lần cho Lionel Messi.[8]

Xavi chơi cho Barcelona năm 2008.

Xavi đã giúp Barcelona giành chiến thắng trong trận Chung kết Champions League 2009 với tỷ số 2–0 trước Manchester United, kiến ​​tạo bàn thắng thứ hai khi vượt qua Messi để đánh đầu[9].  Trước trận đấu, huấn luyện viên của Manchester United, Sir Alex Ferguson đã dành nhiều lời khen ngợi cho sự kết hợp tiền vệ trung tâm của Xavi và Andrés Iniesta, nói rằng, "Tôi không nghĩ Xavi và Iniesta đã từng trao bóng trong đời. Họ nhận được. bạn trên băng chuyền đó và họ có thể khiến bạn choáng váng." Xavi được bầu chọn là "Tiền vệ xuất sắc nhất UEFA Champions League" vì những đóng góp của anh ấy trong chức vô địch Champions League 2008–09 của Barcelona. Xavi là cầu thủ kiến ​​tạo nhiều nhất ở La Liga với 20, và ở Champions League, với 7; anh ấy đã kiếm được 29 đường kiến ​​tạo tổng thể trong mùa giải đó. Xavi còn hợp đồng với Barça đến năm 2014 sau khi gia hạn hợp đồng trong mùa giải 2008–09.  Hợp đồng mới khiến anh trở thành một trong những người kiếm được nhiều tiền nhất của câu lạc bộ, với mức lương 7,5 triệu euro một năm[10]. Trong mùa giải 2009–10, các nhà báo ngày càng ghi nhận những đóng góp của Xavi cho Barcelona. Ví dụ:

"Rất đơn giản đó là tiền vệ xuất sắc nhất của bóng đá hiện đại. Thậm chí có thể tranh luận rằng Xavi và Matthäus là hai người giỏi nhất ở vị trí này trong lịch sử. Đẳng cấp thế giới trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là ba mùa giải vừa qua nơi mà 30 năm- Xưa nay không thể chạm tới. Xavi vượt qua được Michel Platini, anh ấy tạo ra vô số bàn thắng với những đường bóng thiên tài trong khi hầu như không bao giờ từ bỏ quyền sở hữu."

Trong mùa giải 2009–10, Xavi một lần nữa đứng đầu bảng danh sách kiến ​​tạo và cung cấp cả hai đường kiến ​​tạo trong chiến thắng 2–0 của Barcelona trước Real Madrid tại Santiago Bernabéu. Barcelona đã giành chức vô địch La Liga với kỷ lục 99 điểm, và Xavi được vinh danh là cầu thủ xuất sắc thứ hai của Barcelona trong một cuộc bầu chọn kéo dài cả mùa giải[11]. Vào ngày 3 tháng 6 năm 2010, tờ Marca có trụ sở tại Madrid đã trao cho anh vị trí thứ ba trong giải thưởng Trofeo Alfredo di Stéfano hàng năm cho cầu thủ xuất sắc nhất La Liga, sau Messi và Cristiano Ronaldo.[12]

"Mô hình của chúng tôi do [Johan] Cruyff áp đặt; đó là mô hình của Ajax. Tất cả là về rondos [heo con ở giữa]. Rondo, rondo, rondo"

—Xavi phát biểu vào năm 2011 về phong cách chuyền bóng tiki-taka được Johan Cruyff giới thiệu cho Barcelona.[13]

Vào ngày 9 tháng 6 năm 2010, Xavi đã ký hợp đồng mới có thời hạn 4 năm với câu lạc bộ, bản hợp đồng này có thể tự động gia hạn đến ngày 30 tháng 6 năm 2016 dựa trên số trận đã chơi. Vào ngày 29 tháng 11, anh ghi bàn thắng thứ 3 vào lưới đối thủ truyền kiếp Real Madrid trong chiến thắng 5–0 trên sân nhà[14]. Vào ngày 18 tháng 12, anh ghi một bàn thắng khác vào lưới Espanyol trong chiến thắng 5–1. Tại Champions League, Xavi đã ghi một bàn thắng quý giá với pha kiến ​​tạo của David Villa trong trận thắng Arsenal trên sân nhà, đưa Barcelona vào tứ kết.[15]

Xavi là một trong 3 cầu thủ lọt vào chung kết Quả bóng vàng FIFA 2010, và đứng thứ ba trong cuộc bầu chọn sau các đồng đội ở Barcelona là Lionel Messi và Andrés Iniesta[16]. Anh suýt đánh bại Messi để giành giải Cầu thủ của năm do tạp chí World Soccer trao tặng.

Xavi (giữa) với các đồng đội ở Barcelona, ​​Carles Puyol (trái) và Lionel Messi (phải) vào tháng 12/2011.

Vào ngày 2 tháng 1 năm 2011, trong một trận đấu với Levante, Xavi đã có lần ra sân thứ 549 cho câu lạc bộ trên mọi đấu trường, cân bằng kỷ lục của Migueli. Xavi sau đó trở thành cầu thủ khoác áo Barcelona nhiều nhất mọi thời đại[17]. Vào ngày 28 tháng 5, Xavi đã xuất sắc trong trận Chung kết UEFA Champions League 2011 tại Sân vận động Wembley ở London khi Barcelona đánh bại Manchester United lần thứ hai trong trận đấu này trong ba mùa giải, giành chiến thắng 3-1.[18]

Xavi bắt đầu mùa giải 2011–12 với phong độ ghi bàn tốt và dường như ngày càng phát triển về tầm ảnh hưởng của anh ấy đối với đội bóng bất chấp sự trở lại được mong đợi từ lâu của Cesc Fàbregas và sự thăng tiến của Thiago để tạo thêm sự cạnh tranh cho các vị trí tiền vệ tấn công của Barça. Vào ngày 18 tháng 12, trong trận Chung kết FIFA Club World Cup 2011 tại Yokohama, Barcelona đã giành chiến thắng 4–0 trước Santos của Brasil khi Xavi ghi một bàn thắng và kiến ​​tạo cho Lionel Messi. Sau khi bóng đi hơi về phía sau anh ta, Xavi đưa bóng xuống bằng chân cong, sử dụng mắt cá chân để khống chế hiệu quả, trước khi chuyền ngang cho Messi, người đã ghi bàn đầu tiên.[19]

Xavi đã ghi bàn ấn định chiến thắng trong trận đấu với AC Milan ở bảng H, một trận đấu quan trọng giúp Barcelona tiến vào vòng loại trực tiếp Champions League. Tổng cộng, Xavi đã có thành tích ghi bàn tốt nhất trong sự nghiệp của mình ở mùa giải 2011–12 với mười bàn thắng ở Liga, hai bàn ở Copa del Rey - mà Barcelona đã giành được - và một bàn trong trận chung kết Club World Cup.[20]

2012–2015: Những năm sau đó và sự ra đi[sửa | sửa mã nguồn]

Xavi là đội trưởng Barcelona vào tháng 11 năm 2012.

Vào ngày 18 tháng 12 năm 2012, Barcelona gia hạn hợp đồng với Xavi, gia hạn đến ngày 30 tháng 6 năm 2016. Anh ghi bàn thắng vào lưới Real Madrid trong chiến thắng 3–2 cho Barcelona. Xavi có tên trong FIFA World XI, cùng với các đồng đội Iniesta, Messi và Dani Alves[21]. ​​Barcelona gần như đã giành được danh hiệu La Liga vào đầu năm 2013, cuối cùng san bằng kỷ lục 100 điểm của Real Madrid ở mùa giải trước[22][23].

Vào ngày 16 tháng 1 năm 2014, Xavi có trận đấu thứ 700 cho đội đầu tiên trong trận đấu với Getafe tại Copa del Rey. Lần đầu tiên sau 5 năm, Barça kết thúc mùa giải mà không có danh hiệu lớn; họ đã bị đánh bại trong trận Chung kết Copa del Rey bởi Real Madrid với việc Gareth Bale ghi bàn thắng muộn[24], và để mất chức vô địch trong trận đấu cuối cùng trước Atlético Madrid.[25]

Vào tháng 6 năm 2014, có thông báo rằng Xavi sẽ rời câu lạc bộ[26][27][28]. Tuy nhiên, vào ngày 22 tháng 7, sau cuộc nói chuyện với người quản lý mới được bổ nhiệm và đồng đội cũ Luis Enrique, Xavi quyết định ở lại Camp Nou thêm một mùa giải[29]. Anh cũng được bổ nhiệm làm đội trưởng câu lạc bộ. Vào ngày 25 tháng 4 năm 2015, Xavi có trận đấu thứ 500 tại La Liga, trở thành cầu thủ thứ 8 trong lịch sử làm được điều này[30]. Vào ngày 4 tháng 6, một sự kiện chia tay Xavi đã được tổ chức tại Barcelona với các cầu thủ, người quản lý, bạn bè và gia đình để tỏ lòng thành kính với anh[31][32].

Vào ngày 6 tháng 6 năm 2015, Xavi vào sân thay cho Andrés Iniesta ở phút thứ 78 để có trận đấu thứ 767 và cuối cùng cho Barcelona trong trận Chung kết Champions League 2015, khi câu lạc bộ giành được chiếc Cúp châu Âu lần thứ 5, đánh bại Juventus tại OlympiastadionBerlin. Xavi, với tư cách là đội trưởng của câu lạc bộ, đã nâng cao chiếc cúp vô địch[33]. Điều này khiến Barcelona trở thành câu lạc bộ đầu tiên trong lịch sử hai lần giành được cú ăn ba vô địch quốc nội, cúp quốc nội và cúp châu Âu[34]. Xavi, Iniesta, Messi, Gerard Piqué, Pedro, Sergio BusquetsDani Alves là một phần của cả hai đội giành cú ăn ba. 767 lần ra sân của Xavi là kỷ lục của câu lạc bộ cho đến khi Lionel Messi vượt qua vào tháng 3 năm 2021[35].

Al Sadd[sửa | sửa mã nguồn]

Xavi chơi cho Al Sadd gặp Persepolis vào tháng 4 năm 2018.

Vào ngày 21 tháng 5 năm 2015, Xavi thông báo rằng anh sẽ gia nhập câu lạc bộ Al Sadd của Qatar vào cuối mùa giải 2014–15 theo hợp đồng ba năm. Theo người đại diện của anh ấy, thỏa thuận sẽ liên quan đến việc anh ấy trở thành đại sứ cho FIFA World Cup 2022 tại Qatar, đồng thời bắt đầu trình độ huấn luyện của anh ấy. Anh có trận ra mắt cho Al Sadd trong chiến thắng 4–0 trước Mesaimeer vào ngày 13 tháng 9 năm 2015, kiến tạo trong bàn thắng đầu tiên của đội. Trong trận đấu tiếp theo, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận hòa 2–2 với Umm Salal. Al Sadd kết thúc chiến dịch giải đấu ở vị trí thứ ba đưa họ vào một vị trí cho mùa giải tiếp theo AFC Champions League, hạng đấu cấp câu lạc bộ cao nhất của Liên đoàn bóng đá châu Á. Xavi đã ghi ba bàn trong mùa giải. Ở Champions League, Al Sadd bị Al Jazira của UAE loại khỏi vòng loại trên chấm phạt đền; Xavi sút hỏng quả phạt đền.[36]

Xavi đã giành được danh hiệu đầu tiên của mình với Al Sadd sau chiến thắng 2-1 trước El Jaish trong trận chung kết Cúp Qatar vào ngày 29 tháng 4 năm 2017.  Vào ngày 10 tháng 11 năm 2017, Xavi nói rằng anh sẽ giải nghệ khi hết hạn hợp đồng với Al Sadd tại kết thúc mùa giải 2017–18 và sau đó sẽ theo đuổi sự nghiệp huấn luyện. Tuy nhiên, anh ấy đã hoãn các kế hoạch này và ký gia hạn hợp đồng hai năm vào ngày 24 tháng 5 năm 2018. Vào tháng 10 năm 2018, Al Sadd lọt vào bán kết AFC Champions League 2018 của giải đấu với Xavi là đội trưởng nhưng bị loại 2–1 bởi Persepolis.[37]

Vào ngày 2 tháng 5 năm 2019, Xavi tuyên bố sẽ từ giã sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp vào cuối mùa giải[38]. Vào ngày 20 tháng 5 năm 2019, Xavi chơi trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp, thất bại 0–2 trước Persepolis ở Tehran, Iran, trận đấu cuối cùng của Al Sadd tại vòng bảng AFC Champions League 2019; trước trận đấu, anh ấy nói rằng anh ấy muốn ở lại Qatar sau khi giải nghệ và anh ấy sẽ tìm cách bắt đầu sự nghiệp huấn luyện."[39]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Xavi có trận đầu tiên cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha vào ngày 15 tháng 11 năm 2000 trong trận gặp Hà Lan và từ đó đến nay, anh luôn có mặt trong đội hình Tây Ban Nha. Anh từng tham dự Thế vận hội Mùa hè 2000 tại Sydney, đoạt huy chương bạc và Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004 tại Bồ Đào Nha nhưng đã Tây Ban Nha bị loại ngay vòng đấu bảng. Cơ hội đến World Cup 2006 của anh tưởng chừng bị đe dọa khi anh bị chấn thương nặng nhưng huấn luyện viên Luis Aragonés vẫn tin tưởng vào anh.[40] Anh là cầu thủ thi đấu năng nổ và xuất sắc nhất trong trận đầu tiên gặp đội tuyển Ukraina[41] và thi đấu trọn 3 trận còn lại của Tây Ban Nha trước khi bị đội tuyển Pháp loại ở vòng 1/16.

Xavi tiếp tục góp mặt tại Euro 2008. Ngày 27 tháng 6, anh trở thành người hùng của Tây Ban Nha khi ghi bàn mở tỉ số ở phút 50 trong trận bán kết gặp đội tuyển Nga, phá vỡ thế bế tắc của trận đấu và chung cuộc Tây Ban Nha thắng Nga 3-0, lọt vào chung kết Euro 2008 gặp đội tuyển Đức.[42]

Trong trận chung kết diễn ra vào ngày 29 tháng 6, Xavi đã cùng đồng đội đánh bại đội tuyển Đức 1-0 để lần đầu tiên giành danh hiệu vô địch Euro. Đây là chức vô địch 1 giải đấu lớn đầu tiên tại đội tuyển quốc gia của Xavi. Với việc góp công lớn trong việc đưa đội tuyển Tây Ban Nha lên ngôi vô địch Euro 2008, anh đã được nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải do UEFA bầu chọn, vượt qua các danh thủ khác như Michael Ballack, Lukas Podolski, Andrei Arshavin, Hamit Altintop,...[43]

Sau thành công tại Euro 2008, Xavi cùng với Tây Ban Nha đã đoạt chức vô địch World Cup 2010 tại Nam Phi sau khi đánh bại Hà Lan 1 - 0 trong trận chung kết với bàn thắng của Andrés Iniesta. Trong 7 trận đấu tại Giải bóng đá vô địch thế giới 2010, Xavi đã thể hiện xuất sắc vai trò tiền vệ trung tâm, có 599 đường chuyền chính xác trong số 669 đường chuyền (đạt tỷ lệ 89%).

Vào ngày 5 tháng 8 năm 2014, sau World Cup 2014Tây Ban Nha đã bị loại từ vòng bảng, Xavi tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu bóng đá quốc tế sau 133 lần khoác áo đội tuyển quốc gia trong khoảng thời gian 14 năm và ghi được 13 bàn thắng.

Sự nghiệp huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Al-Sadd[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2019, Xavi chính thức tiếp quản vị trí huấn luyện viên của Al-Sadd theo hợp đồng kéo dài 2 năm.[44][45] Xavi cùng câu lạc bộ lọt vào bán kết AFC Champions League 2019, và bị loại bởi Al-Hilal FC với tỷ số chung cuộc 6–5.[46] Tại giải VĐQG, Al-Sadd kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba. Trong mùa giải 2019–20, Xavi đã dẫn dắt đội bóng của mình vô địch 3 giải đấu quốc nội. Ở AFC Champions League 2020, Al Sadd bị Persepolis loại ở vòng 16 đội với tỷ số 1–0.[47] Trong 97 trận đấu khi dẫn dắt Al Sadd, kéo dài 2,5 năm, Xavi giúp đội giành được 7 danh hiệu. Vào ngày 3 tháng 11 năm 2021, Al Sadd hòa 3–3 trước Al-Duhail trong trận đấu cầm quân cuối cùng, 2 ngày sau Al Sadd thông báo Xavi chuyển đến Barcelona sau khi điều khoản giải phóng được hoàn tất.[48]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Ban lãnh đạo Barcelona vào ngày 6 tháng 11 thông báo Xavi sẽ trở thành tân huấn luyện viên của Barcelona với hợp đồng kéo dài đến tháng 6 năm 2024, và chính thức kế vị Ronald Koeman đã bị sa thải trước đó.[49][50]

Trong trận đấu đầu tiên của mình, Xavi đã giúp Barcelona đã đánh bại đối thủ Espanyol với tỷ số 1–0 tại Camp Nou ở La Liga để giành chiến thắng tại Derby Catalan.[51] Vào ngày 4 tháng 12, Xavi chịu thất bại đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên Barcelona sau trận thua 0–1 trước Real Betis trên sân nhà ở La Liga.[52] Trong mùa giải đầu tiên tham dự Champions League trên cương vị huấn luyện viên của Xavi, anh đã dẫn dắt đội bóng trong 2 trận đấu cuối vòng bảng. Sau khi có trận hoà 0–0 với Benfica tại Camp Nou vào ngày 23 tháng 11[53], và nhận thất bại 3–0 trước Bayern Munich vào ngày 8 tháng 12 tại Allianz Arena, Barcelona đứng thứ 3, qua đó họ phải xuống chơi tại vòng đấu loại trực tiếp Europa League.[54][55][56]

Vào ngày 12 tháng 1 năm 2022, trong trận đấu đầu tiên dẫn dắt tại El Clásico của anh, Barcelona đã bị Real Madrid đánh bại 2-3 ở cuối hiệp phụ tại bán kết Siêu cúp Tây Ban Nha.[57] Barcelona bị loại khỏi Cúp Nhà vua Tây Ban Nha sau khi thất bại 3–2 trước Athletic Bilbao vào cuối hiệp phụ tại vòng 16.[58]

2 tháng đầu tiên ở Barcelona có chút vất vả nhưng kể từ đầu tháng 2 năm 2022, Barcelona đã có sự trở lại. Tại La Liga, họ giành chiến thắng 4-2 trước Atlético Madrid vào ngày 6 tháng 2[59], 4-1 trước Valencia vào ngày 20 tháng 2[60], 4-0 trước Athletic Bilbao vào ngày 27 tháng 2[61], 4-0 trước Osasuna vào ngày 13 tháng 3[62], và đặc biệt là trận thắng 4-0 trước Real Madrid vào ngày 20 tháng 3.[63][64] Họ cũng có chiến thắng 4-2 trước Napoli vào ngày 24 tháng 2[65], 2-1 trước Galatasaray vào ngày 18 tháng 3 ở Europa League[66].

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 27 tháng 4 năm 2019[67][68]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Barcelona B 1997–98 Segunda División B 33 2 6 0 39 2
1998–99 Segunda División 18 0 18 0
1999–2000 Segunda División B 4 1 4 1
Tổng cộng 55 3 6 0 61 3
Barcelona 1998–99 La Liga 17 1 2 0 6 0 1 1 26 2
1999–2000 24 0 4 1 10 1 0 0 38 2
2000–01 20 2 7 0 9 0 36 2
2001–02 35 4 1 0 16 0 52 4
2002–03 29 2 1 0 14 1 44 3
2003–04 36 4 6 0 7 1 49 5
2004–05 36 3 1 0 8 0 45 3
2005–06 16 0 0 0 4 0 2 0 22 0
2006–07 35 3 7 2 7 0 5 1 54 6
2007–08 35 7 7 1 12 1 54 9
2008–09 35 6 5 1 14 3 54 10
2009–10 34 3 3 2 11 1 5 1 53 7
2010–11 31 3 6 0 12 2 1 0 50 5
2011–12 31 10 7 2 9 1 4 1 51 14
2012–13 30 5 5 0 11 1 2 1 48 7
2013–14 30 3 5 0 10 1 2 0 47 4
2014–15 31 2 3 0 10 0 44 2
Tổng cộng 505 58 70 9 170 13 22 5 767 85
Al Sadd 2015–16 Qatar Stars League 24 3 3 0 1 0 2 0 30 3
2016–17 26 10 3 0 1 0 2 0 32 10
2017–18 18 6 0 0 7 1 3 0 28 7
2018–19 14 2 2 0 6 3 0 0 22 5
Tổng cộng 82 21 8 0 15 4 7 0 112 25
Tổng cộng sự nghiệp 642 82 78 9 185 17 35 5 940 113

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Xavi sút phạt trong trận giao hữu gặp đội tuyển Anh
Tính đến ngày 11 tháng 7 năm 2010[69]
Đội tuyển quốc gia Mùa giải Số trận Bàn thắng
Tây Ban Nha 2000–01 1 0
2001–02 5 3
2002–03 8 0
2003–04 5 0
2004–05 8 1
2005–06 13 1
2006–07 7 2
2007–08 16 4
2008–09 14 1
2009–10 17 0
2010–11 7 1
2011–12 14 1
2012–13 11 1
2013–14 7 1
Tổng cộng 133 13

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 17 tháng 3 năm 2022
Managerial record by team and tenure
Đội Từ Đến Thống kê Ref.
P W D L % Thắng
Al Sadd 28 tháng 5 năm 2019 6 tháng 11 năm 2021| style="text-align:center" |&0000000000000102000000102 &000000000000006700000067 &000000000000001700000017 &000000000000001800000018 0&000000000000006570000065,7 &000000000000006700000067 &000000000000001700000017 &000000000000001800000018 0&000000000000006570000065,7 [70][71][72]
Barcelona 6 tháng 11 năm 2021 Nay| style="text-align:center" |&000000000000002500000025 &000000000000001400000014 &00000000000000070000007 &00000000000000040000004 0&000000000000005600000056,0 &000000000000001400000014 &00000000000000070000007 &00000000000000040000004 0&000000000000005600000056,0 [70][73]
Total &0000000000000127000000127 &000000000000008100000081 &000000000000002400000024 &000000000000002200000022 0&000000000000006379999963,8 &000000000000008100000081 &000000000000002400000024 &000000000000002200000022 0&000000000000006379999963,8

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]
Al Sadd[sửa | sửa mã nguồn]
Xavi và đội trưởng Tây Ban Nha Iker Casillas sau khi vô địch UEFA Euro 2012.

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

U-20 Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]
U-23 Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]
Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ hay nhất năm 2010 do tạp chí World Soccer bình chọn.[74]
  • Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch châu Âu của UEFA: 2008
  • Tiền vệ câu lạc bộ của năm do UEFA bình chọn: 2008–09
  • Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới IFFHS: 2008, 2009, 2010, 2011
  • Cầu thủ đột phá của năm ở La Liga: 1999
  • Cầu thủ Tây Ban Nha xuất sắc nhất La Liga: 2005
  • Tiền vệ xuất sắc nhất năm của La Liga: 2009, 2010, 2011
  • Đội hình trong mơ của FIFA World Cup: 2010
  • Đội vô địch châu Âu UEFA của Giải đấu: 2008 , 2012
  • Đội bóng trong mơ vô địch UEFA châu Âu dưới 21 tuổi mọi thời đại : 2015
  • New York City FC 's Ride of Fame: Tháng 9 năm 2015
  • FIFA FIFPro World11: 2008 , 2009 , 2010 , 2011 , 2012 , 2013
  • Đội hình tiêu biểu của UEFA: 2008 , 2009 , 2010 , 2011 , 2012
  • Nhóm ESM của năm: 2008–09, 2010–11, 2011–12
  • Đội Don Balón của Thập kỷ: 2010
  • Quả bóng bạc FIFA Club World Cup: 2011
  • Quả bóng đồng FIFA Club World Cup: 2009
  • Giải thưởng sự nghiệp cầu thủ của Globe Soccer Awards: 2013
  • Đội hình cuối cùng của năm của UEFA (xuất bản năm 2015)
  • Giải Marca Legend: 2015
  • Cầu thủ xuất sắc nhất AFC Champions League do người hâm mộ bình chọn lần thứ XI: 2018
  • Cầu thủ xuất sắc nhất AFC Champions League OPTA lần thứ XI: 2018
  • Đội bóng trong mơ Ballon d'Or: 2020
  • Đội bóng trong mơ mọi thời đại của IFFHS Nam: 2021

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Al Sadd[sửa | sửa mã nguồn]

  • Qatar Stars League: 2020–21
  • Qatar Cup: 2020, 2021
  • Sheikh Jassim Cup: 2019
  • Emir of Qatar Cup: 2020, 2021
  • Qatari Stars Cup: 2019–20

Huân chương[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

^1 1 Các thành viên của Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha vô địch FIFA World Cup 2010 cùng được trao giải

^2 2 Cùng nhận với Iker Casillas

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “FIFA World Cup South Africa 2010: List of Players” (PDF). Fédération Internationale de Football Association (FIFA). ngày 4 tháng 6 năm 2010. tr. 29. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013.
  2. ^ "Xavi profile". al-saddclub.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2019.
  3. ^ “Is Barcelona star Xavi the best centre midfielder of all time?”. Goal.com. ngày 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014.
  4. ^ “CL Special: Xavi – The Best Centre Midfielder In The World, The Symbol Of Pure Football”. Goal.com. ngày 28 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014.
  5. ^ “Xavi Bio, Stats, News – Football”. ESPN. ngày 25 tháng 1 năm 1980. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014.
  6. ^ "Barcelona: Football's Greatest" (2013). Pitch International LLP.
  7. ^ "Xavi Profile". ESPN. Retrieved 17 May 2014
  8. ^ VnExpress. “Barca đại thắng Real 6-2 trong trận siêu kinh điển”. vnexpress.net. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2022.
  9. ^ "Barcelona 2–0 Man Utd". BBC. Retrieved 17 May 2014
  10. ^ "Xavi extends Barcelona contract". RTE. Retrieved 17 May 2014
  11. ^ "Barcelona players hailed for La Liga title win but Pep Guardiola feels hard done by". The Telegraph. Retrieved 17 May 2014
  12. ^ “Barcelona Star Lionel Messi Wins The Trofeo Alfredo Di Stefano”. Goal.com. 3 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2010.
  13. ^ Lowe, Sid (11 tháng 2 năm 2011). “I'm a romantic, says Xavi, heartbeat of Barcelona and Spain”. The Guardian. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. Xavi Hernández: "Our model was imposed by [Johan] Cruyff; it's an Ajax model. It's all about rondos [piggy in the middle]. Rondo, rondo, rondo."
  14. ^ VnExpress. “Barca lập kỳ tích thắng Real 5-0”. vnexpress.net. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2022.
  15. ^ "Barcelona 3 – 1 Arsenal". BBC Sport. Retrieved 25 May 2014
  16. ^ “Ballon d'Or 2010: Lionel Messi Wins Prize For World's Best Player | Goal.com”. www.goal.com. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  17. ^ “Xavi: "I feel privileged". FC Barcelona. 2 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011.
  18. ^ “Ngày này năm xưa: MU thua "tâm phục khẩu phục" Barca ở chung kết Champions League”. VOV.VN. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  19. ^ “SANTOS-FCB: Legendary Barça (0–4)”. FC Barcelona. 18 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011.
  20. ^ "Xavi Hernández". UEFA.com. Retrieved 17 May 2014
  21. ^ "FIFA/FIFPro World XI 2012". FIfA.com. Retrieved 25 May 2014
  22. ^ Lowe, Sid (13 tháng 5 năm 2013). “A Sense of Anticlimax but Barcelona Still Deserve Their La Liga Title”. The Guardian. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015.
  23. ^ Lowe, Sid (9 tháng 3 năm 2013). “Barcelona Face up to Uncomfortable Truths after Alarming Slump in Form”. The Guardian. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015.
  24. ^ Doyle, Paul (16 tháng 4 năm 2014). “Real Madrid 2-1 Barcelona: Copa del Rey final – as it happened| Paul Doyle”. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2022.
  25. ^ NLD.COM.VN (18 tháng 5 năm 2014). “Cầm hòa Barcelona, Atletico Madrid vô địch La Liga”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2022.
  26. ^ “Alves confirms Xavi departure”. Sportal.com.au. 25 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014.
  27. ^ “Alves: It's true, Xavi is leaving Barça”. Inside Spanish Football. 25 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ 27 Tháng sáu năm 2014. Truy cập 26 Tháng sáu năm 2014.
  28. ^ “Xavi confirms Camp Nou exit”. Marca.com » English. 6 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014.
  29. ^ “Barcelona convince Xavi to stay”. Goal.com. 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.
  30. ^ “Xavi makes 500th Liga appearance”. FCBarcelona.com. 25 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015.
  31. ^ “Champions League: Barcelona's Xavi breaks down in live TV tribute”. BBC Sport. 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.
  32. ^ “Infographic: Xavi's 150”. UEFA.com. 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.
  33. ^ VTV, BAO DIEN TU (7 tháng 6 năm 2015). “Barcelona 3–1 Juventus: Tam tấu M-S-N đưa Barca lên đỉnh châu Âu”. BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
  34. ^ “Barça make history with second treble!”. FC Barcelona. 6 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
  35. ^ “Leo Messi surpasses Xavi Hernández record”. FC Barcelona. 21 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2021.
  36. ^ “Al Jazira v Al Sadd Live Commentary & Result, 09/02/2016, AFC Champions League”. Goal. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
  37. ^ “Persepolis oust Xavi's Al Sadd with late Champions League goal”. France 24 (bằng tiếng Anh). 27 tháng 9 năm 2020.
  38. ^ “Ex-Barcelona and Spain midfielder Xavi to retire at end of season”. BBC Sport. 2 tháng 5 năm 2019.
  39. ^ “Legend Xavi bids farewell”. www.the-afc.com. 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019.
  40. ^ http://fifaworldcup.yahoo.com/06/en/060618/1/7ucb.html[liên kết hỏng]
  41. ^ [1][liên kết hỏng]
  42. ^ Bán kết Euro 2008 Nga-Tây Ban Nha[liên kết hỏng]
  43. ^ “Xavi Hernández là cầu thủ xuất sắc nhất Euro 2008”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2008.
  44. ^ السد, AlSadd S. C. | نادي (ngày 28 tháng 5 năm 2019). “OFFICIAL: #Xavi Hernandez will take over as the head coach of #AlSadd from the beginning of the next season! #Qatar”. @AlsaddSC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  45. ^ “Barcelona legend Xavi appointed manager of Qatar-based club | Goal.com”. www.goal.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019.
  46. ^ “AFC Champions League: Al-Hilal 2-4 Al Sadd (6-5 agg): Xavi's side fall just short in comeback bid”. Fox Sports Asia. ngày 22 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2019.
  47. ^ “El Al Sadd de Xavi Hernández y Cazorla, eliminado de la Champions asiática”. Marca.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 27 tháng 9 năm 2020.
  48. ^ “Xavi set to take over as Barcelona coach, Qatar's Al-Sadd says”. www.aljazeera.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
  49. ^ “Xavi Hernández is the new FC Barcelona coach”. www.fcbarcelona.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
  50. ^ “Xavi Hernandez chính thức trở thành HLV mới của Barcelona”. Báo Thanh Niên. ngày 5 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
  51. ^ “Xavi secures first win as Barca boss”. BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
  52. ^ Gonçalves, Renato (4 tháng 12 năm 2021). “Barcelona 0-1 Real Betis: Recap”. Barca Blaugranes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2021.
  53. ^ VnExpress. “Barca 0-0 Benfica”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  54. ^ “Barcelona eliminated from Champions League group stage for first time in 20 years | Goal.com”. www.goal.com. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2021.
  55. ^ Bosher, Luke. “Barcelona knocked out of Champions League after 3-0 defeat to Bayern Munich”. The Athletic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2021.
  56. ^ VnExpress. “Bayern loại Barca khỏi Champions League”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  57. ^ Clark, Gill (13 tháng 1 năm 2022). “Xavi says Barcelona 'on the right track' after Super Cup defeat to Real Madrid”. Barca Blaugranes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2022.
  58. ^ Gonçalves, Renato (21 tháng 1 năm 2022). “Athletic Bilbao 3-2 Barcelona: Recap”. Barca Blaugranes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
  59. ^ VnExpress. “Barca hạ Atletico để vào top 4”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  60. ^ VTV, BAO DIEN TU (21 tháng 2 năm 2022). “Valencia 1-4 Barcelona | Aubameyang lập hat-trick ấn tượng”. BAO DIEN TU VTV. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  61. ^ VnExpress. “Barca 4-0 Bilbao”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  62. ^ VnExpress. “Barca 4-0 Osasuna”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  63. ^ “Real Madrid 0-4 Barça: The Clásico is blaugrana!”. FC Barcelona (bằng tiếng Anh). 21 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  64. ^ VnExpress. “Barca vùi dập Real tại El Clasico”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  65. ^ VnExpress. “Barca xử đẹp Napoli tại Europa League”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  66. ^ VnExpress. “Galatasaray 1-2 Barca”. vnexpress.net. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
  67. ^ “Official site statistics”. FC Barcelona. Truy cập 15/6/2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  68. ^ “Transfermarkt player statistics”. Transfermarkt. Truy cập 15/6/2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  69. ^ “Fútbol en la Red”. Futbol.sportec.es. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2012. Truy cập 15/6/2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  70. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BarcelonaIn
  71. ^ “Xavi, a coach with the winning habit”. FC Barcelona. 6 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
  72. ^ “Al Sadd SC: Matches”. Soccerway. Perform Group. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
  73. ^ “FC Barcelona: Matches”. Soccerway. Perform Group. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
  74. ^ “Xavi voted World Soccer Player of the Year” (Thông cáo báo chí). World Soccer. 16/12/2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2010. Truy cập 17/12/2010. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate=|date= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xavi tại BDFutbol
  • Xavi tại National-Football-Teams.com
  • Xavi – Thành tích thi đấu tại UEFA
  • Xavi – Thành tích thi đấu FIFA