Toni Kroos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Toni Kroos
Toni Kroos - CdR - RM v ATL (cropped).jpg
Kroos chơi cho Real Madrid năm 2015.
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Toni Kroos
Ngày sinh 4 tháng 1, 1990 (26 tuổi)
Chiều cao 1,82 m (6 ft 0 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Real Madrid
Số áo 8
CLB trẻ
1997–2002 Greifswalder SV
2002–2006 Hansa Rostock
2006–2007 Bayern Munich
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2008 Bayern Munich II 13 (4)
2007–2014 FC Bayern München 176 (23)
2009–2010 Bayer Leverkusen (cho mượn) 48 (10)
2014– Real Madrid 75 (4)
Đội tuyển quốc gia
2005–2007 Đức U17 34 (17)
2009 Đức U19 5 (3)
2008–2009 Đức U21 10 (2)
2010– Đức[1] 74 (12)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 2 tháng 10 năm 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 11 tháng 10 năm 2016

Toni Kroos (sinh ngày 4 tháng 1 năm 1990 ở Greifswald) là một cầu thủ bóng đá người Đức hiện đang chơi cho câu lạc bộ Real Madridđội tuyển quốc gia Đức ở vị trí tiền vệ.

Năm 2006, anh chính thức gia nhập lò đào tạo của Bayern München, tại đây Kroos đã bộc lộ tài năng thiên bẩm của mình khi anh được đôn lên đội 1 khi mới 17 tuổi, nhưng anh chỉ thường xuyên được sử dụng sau khi trở về từ Bayer Leverkusen theo dạng cho mượn. Anh đã giành được khá nhiều danh hiệu cùng Bayern München, bao gồm 3 chức vô địch Bundesliga và 1 chức vô địch Champions League năm 2013. Kroos được báo chí cũng như các cầu thủ đàn anh ca ngợi là một tiền vệ tấn công với đầy đủ phẩm chất cần thiết.

Anh bắt đầu sự nghiệp thi đấu quốc tế năm 2010, cùng ĐT Đức vào đến bán kết World Cup 2010Euro 2012.

Sau khi giành chức vô địch World Cup 2014 cùng đội tuyển Đức, Kroos đã xác nhận việc anh sẽ gia nhập Real Madrid trong kì chuyển nhượng mùa hè này, với mức giá được cho là 30 triệu Euro[2].

Real Madrid, ngay mùa giải đầu tiên năm 2014-2015, mặc dù thi đấu rất thành công nhưng anh cùng câu lạc bộ chỉ vỏn vẹn giành được 2 chiếc cup nhỏ là UEFA Super CupFIFA Club World Cup năm 2014.

Mùa giải năm 2015-2016, mặc dù Real Madrid khởi đầu không được tốt nhưng Kroos và các đồng đội đã có cho mình chức vô địch UEFA Champions League danh giá, đánh dấu cột mốc Undecima lịch sử cùng câu lạc bộ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Toni Kroos sinh ra tại GreifswaldĐông Đức, ngày anh chào đời chỉ mới chưa đầy 2 tháng sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Bố anh là Roland Kroos HLV của đội bóng U19 Hansa Rostock, mẹ là Birgit Kroos một vận động viên cầu lông có tiếng ở Đức. Trong một cái nôi gia đình có niềm đam mê thể thao như vậy, năm 7 tuổi Kroos đã được người cha đào tạo ở một đội bóng gần nhà. Nhưng vốn là một đứa trẻ nghịch ngợm và khó dạy bảo khi từ nhỏ đã được nuôi nấng như một hoàng tử. Trong những buổi tập, anh sẵn sàng bỏ trốn và có thái độ chống đối HLV hay là gây chuyện với những cầu thủ khác trong đội. Năm 2002, Kroos đã bị đuổi khỏi lò đào tạo mặc dù cha anh đã hết mức nhờ vả vị HLV đó. Hướng nghiệp cho con theo sự nghiệp bóng đá, ông Roland Kroos đã quyết định đem anh tới Hansa Rostock nơi ông đang làm việc. Nhưng mọi chuyện cũng không có tiến triển, khi Kroos là một đứa trẻ lười biếng, mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn khi anh làm ảnh hưởng đến công việc của cha mình. Trong sự nghiệp học tập của mình Kroos rất hay trốn học, gia đình anh hầu như đã bất lực nhưng nhờ sự xuất hiện của cô gái mang tên Jessica Farbe đã làm anh rung động và quyết tâm thay đổi từ đó. Hai người đã hò hẹn suốt 8 năm và đã có cậu con trai đầu lòng là Leon. Họ chính thức tổ chức đám cưới vào tháng 6/2015 nhưng diễn ra một cách bí mật. Đúng ngày 20/7/2016, gia đình Kroos lại chào đón thêm một tiểu công chúa nữa, bé gái có tên là Amelie.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải năm 2007-2008, Kroos ra sân thi đấu cho FC Bayern München và anh là người có 2 đường kiến tạo thành bàn góp công trong thắng lợi 5-0 trước Energie Cottbus. Anh trở thành cầu thủ trẻ tuổi nhất từng thi đấu cho câu lạc bộ ở độ tuổi 17. Ngày 25 tháng 10, là trận đấu đầu tiên của anh chơi trong đấu trường danh giá nhất Châu âu, UEFA Champion League, với một pha kiến tạo thành bàn giúp Bayern có chiến thắng nhọc nhằn với tỉ số 1-0 trước Sao Đỏ Beograd. Khép lại mùa giải đầu tiên chơi cho câu lạc bộ với 20 lần ra sân và 6 bàn thắng ghi được, anh là một tài năng đáng được chờ đợi khi mới 17 tuổi.

Bayer Leverkusen[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 1 năm 2009 , Kroos gia nhập Bayer Leverkusen dưới dạng hợp đồng cho mượn với thời gian 16 tháng.

Toni Kroos có trận đấu đầu tiên của mình cho Bayer Leverkusen trong trận thua 1-0 trước Hannover 96. Anh đã có bàn thắng đầu tiên ở Bundesliga trong chiến thắng 2-1 trước VfL Wolfsburg. Thi đấu khá thành công và thể hiện được vai trò trong lối chơi của đội bóng. Trong mùa giải 2008-2009, Kroos đã ra sân thi đấu 13 trận cho Leverkusen và ghi được 3 bàn thắng và 2 pha kiến tạo thành bàn.

Trong mùa giải 2009-2010, Toni Kroos đã chiếm được một suất đá chính trong đội hình của Leverkusen. Tháng 12 năm 2009, anh nhận được giải thưởng “cầu thủ của tháng" do Kicker bầu chọn. Kết thúc mùa giải với 9 bàn thắng và 12 pha kiến tạo thành bàn sau 33 trận. Khép lại 2 mùa giải thi đấu tại đây theo dạng cho mượn của Toni Kroos, khá thành công với cá nhân anh.

Trở lại Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2010, Toni Kroos trở lại thi đấu cho Bayern München khi hết hợp đồng cho mượn từ Leverkusen. Khi được phóng viên hỏi về cơ hội chiếm một suất đá chính trong đội hình thì Kroos đã nói “Tôi muốn chơi càng nhiều càng tốt, ai mà không muốn ra sân thi đấu và thể hiện tài năng của mình chứ ”. Nhưng mùa giải này thật sự không thành công của hùm xám và cá nhân Kroos khi họ để Borussia Dortmund đánh bại cả 2 trận lượt đi và về để lên ngôi vô địch, khiến Bayern trở thành cựu vương năm đó. Trên đấu trường Châu âu, UEFA Champion League họ đã phải dừng bước trước Inter Milan. Với kết quả này khiến cho Bayern có một mùa giải 2010-2011 trắng tay và huấn luyện viênLouis van Gaal đã phải chia tay đội bóng ngay sau đó.

Mùa giải 2011-2012, huấn luyện viên Jupp Heynckes được lựa chọn để thay thế cho sự ra đi trước đó của huấn luyện viên Louis van Gaal, trước mùa giải mới câu lạc bộ đã có những bản hợp đồng chất lượng nhất là thủ môn Manuel Neuer từ Schalke 04. Nhưng cũng không thể thay đổi được cục diện như mùa giải năm ngoái, Hùm xám một lần nữa thất bại tệ tất cả các mặt trận, xếp sau Dortmund ở Bundesliga và thất bại trước chính đội bóng này trong trận thua muối mặt 5-2 ở chung kết cup quốc gia. Tại giải đấu danh giá nhất Châu âu UEFA Champions League, họ đã xuất sắc đánh bại Real Madrid trên chấm luân lưu để tiến vào trận chung kết với Chelsea. Nhưng trong một ngày kém duyên của các chân sút bên phía Hùm Xám đã khiến họ phải trả giá đắt trong loạt đá penalty đầy may rủi. Họ đã thất bại trước Chelsea, cầu thủ đã khiến Bayern phải ôm hận khi thực hiện thành công pha sút pen thành công đó là Didier Drogba. Khép lại một mùa giải trắng tay thứ 2 của Toni Kroos và câu lạc bộ.

Mùa giải 2012-2013, trở lại với câu lạc bộ từ đội tuyển quốc gia, Kroos đã chuẩn bị cho mùa giải mới, không thể chịu cảnh trắng tay như mùa giải trước, Bayern München đã bổ sung thêm những cái tên chất lượng trong đội hình và cái tên nổi bật nhất là Javi Martínez với cái giá 40 triệu euro, trở thành cầu thủ đắt giá nhất lịch sử CLB. Khởi đầu một mùa giải tuyệt vời khi Hùm xám liên tục giành thắng lợi và họ nhanh chóng đứng đầu trong cuộc đua giành danh hiệu vô địch Bundesliga. Mùa giải này thật sự thành công đối với Kroos và câu lạc bộ khi họ tạo ra một cú ăn 3 lịch sử. Khi vô địch Bundesliga trước 6 vòng đấu, vượt qua Dortmund để giành chức vô địch UEFA và giành chiến thắng 3-2 trước VfB Stuttgart trong trận chung kết cúp quốc gia Đức. Sau những thành công với câu lạc bộ thì huấn luyện viên Jupp Heynckes đã nói lời chia tay đội bóng khi ông chính thức tuyên bố nghỉ hưu vì lí do sức khỏe, sau đó câu lạc bộ đã bổ nhiệm huấn luyện viên Pep Guardiola lên nắm quyền chỉ đạo câu lạc bộ.

Mùa giải 2013-2014, bắt đầu mùa giải mới với những thành công rực rỡ ở mùa giải trước, Toni Kroos và đội bóng có khởi đầu rất tốt khi họ giành được chức vô địch Siêu cúp châu Âu. Ngày 4 tháng 10 anh ghi bàn thắng đầu tiên trong mùa giải với trận hòa 1-1 trước đội bóng cũ Bayer Leverkusen tại Bundesliga. Trong trận gặp Arsenal ở giải đấu UEFA Champion League, Toni Kroos đã ghi được bàn thắng thứ hai của mình cho câu lạc bộ ở mùa giải này trước chiến thắng 2-0. Dưới triều đại của huấn luyện viên Pep Guardiola, Kroos cùng Bayern München giành được hai danh hiệu, vô địch Cúp quốc gia Đức và Bundesliga. Họ thất bại tại bán kết trước Real Madrid trên đấu trường UEFA Champion League với tỉ số 1-5 sau hai lượt đi và về. Câu lạc bộ Real Madrid cũng là đội bóng đã lên ngôi vô địch sau đó khi họ chiến thắng đối thủ cùng thành phố Atlético Madrid với tỉ số 4-1. Sau khi mùa giải kết thúc Kroos đã lên tiếng muốn tìm một bến đỗ mới và chinh phục những thử thách cao hơn khi anh có một mùa giải khá thành công với Bayern München.

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2014-2015, khép lại một mùa hè thành công cùng đội tuyển, Toni Kroos đã lên tiếng muốn ra đi và cùng lúc đó nhiều ông lớn như Manchester UnitedReal Madrid đều muốn có được sự phục vụ của anh, nhưng Kroos đã chọn Real Madrid với giá trị chuyển nhượng quá hời là 25 triệu bảng do thời hạn hợp đồng của anh với Bayern sắp hết. Trong buổi lễ ra mắt các CĐV Real Madrid, Kroos đã được chào đón bởi 8.000 cổ động viên. Anh đã có trận đấu đầu tiên của mình trong trận tranh Siêu cup Châu Âu với Sevilla với chiến thắng 2-0 cho Real. Dưới thời huấn luyện viên Carlo Ancelotti, Kroos được xem như một quân bài mấu chốt trong đội hình của Real. Thi đấu nổi bật trong đội hình, một mùa giải mới đáng chờ đợi của Kroos ở phía trước, nhưng điều tồi tệ nhất của câu lạc bộ đã xảy ra khi họ thất bại trên tất cả các mặt trận và không dành được bất kì danh hiệu nào. Thất bại trong việc bảo vệ ngôi vương UEFA Champion League, phải dừng chân tại bán kết trước Juventus và không thể bảo vệ danh hiệu vô địch Cúp Nhà vua Tây Ban Nha. Họ để đại kình địch Barcelona vô địch La Liga, Cup Nhà Vua, và dành luôn chiếc cúp UEFA Champion League trong trận chung kết với Juventus, để tạo nên một cú ăn 3 lịch sử của đội bóng. Khép lại mùa giải đầu tiên của chơi cho Real Madrid không thành công.

Mùa giải 2015-2016, với một mùa giải trắng tay thì huấn luyện viên Carlo Ancelotti cũng bị sa thải ngay sau đó, Chủ tịch Florentino Perez đã ngay lập tức bổ nhiệm Rafa Benitez làm huấn luyện viên trưởng, dưới thời huấn luyện viên Benitez, Kroos chơi không thực sự hay như mùa đầu tiên, thậm chí là mờ nhạt hơn rất nhiều. Chỉ sau 7 tháng gắn bó, với thành tích không thực sự ấn tượng khi Real chỉ đứng thứ ba ở Laliga và để thua muối mặt ở trận Siêu kinh điển với Barca với tỉ số 4-0. Thêm vào đó, Benitez đã mắc phải một sai lầm không thể tha thứ khi sử dụng cầu thủ bị treo giò Denis Cheryshev cho trận đấu với Cadiz trong khuôn khổ cúp nhà Vua. Để rồi sau đó Real phải bị loại một cách tức tưởi, cộng thêm những mối bất hòa mới với các cầu thủ thì huấn luyện viên Rafa Benitez đã bị sa thải và lần này huấn luyện viên Zinedine Zidane được bổ nhiệm lên tiếp quản đội bóng. Tưởng chừng đây là một mùa giải bỏ đi và Kroos cùng cả đội sẽ phải làm lại từ đầu nhưng huấn luyện viên Zinedine Zidane đã đem lại sức sống mới cho Real Madrid. Ngay trong nửa cuối mùa giải dưới sự dẫn dắt của Zidane, Kroos trong màu áo Real Madrid đã có cho mình chức vô địch UEFA Champions League lần thứ 11 dưới sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Và vẫn như vậy, Kroos được đánh giá là một nhân tố vô cùng quan trọng trong chức vô địch này. Ở Laliga, Real cũng chỉ phải chịu thua Barca ở vòng đấu cuối và về thứ hai kém Barca một điểm sau khi đã rút ngắn khoảng cách từ 9 điểm trước đó. Tỉ lệ chuyền bóng chính xác của anh ở tại La Liga mùa giải này là 93%, cao nhất giải đấu, xếp sau anh là người đồng đội Luka Modrić.

Sau hai mùa bóng chơi cho Real Madrid, Toni Kroos mới chỉ ghi được 4 bàn thắng cho đội bóng Hoàng gia, nhưng đã có 31 đường kiến tạo.

Cấp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

World cup 2010, đánh dấu sự nghiệp cầu thủ của Toni Kross lần đầu tiên chơi cho đội tuyển quốc gia Đức. Anh đã ghi bàn thắng đầu tiên của mình trong trận vòng bảng gặp Ghana với tỉ số 1-0. Nhưng Kroos và đội tuyển chỉ lọt vào đến bán kết khi bị loại bởi Tây Ban Nha, đội bóng đã giành được chức vô địch năm đó. Kết thúc mùa World Cup trong chiến thắng 3-2 trước Uruguay để tranh giải ba.

Euro 2012, dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Joachim Löw, Toni Kroos là cái tên được ông trọng dụng nhất trong đội hình. Thật tuyệt vời khi họ có một khởi đầu như mơ khi dễ dàng vượt qua vòng bảng. Trong trận tứ kết với đội tuyển Hy Lạp, Kroos đã đóng góp 1 bàn thắng và 1 kiến tạo thành bàn góp công lớn trong chiến thắng 4-2 ngày hôm đó. Nhưng trong trận bán kết gặp đội tuyển Italia thì đội bóng của anh đã phải dừng bước sau khi thất bại với tỉ số 2-1. Khép lại một kì Euro không mấy thành công với đội tuyển Đức của Toni Kroos.

World Cup 2014, đây là kỳ World Cup cực kỳ thành công của Toni Kroos khi anh cùng đồng đội đã giành chức vô địch với một chặng đường vô cùng thuyết phục. Không mất quá lâu để huấn luyện viên Joachim Löw nhận ra được tài năng của Kroos và biến anh trở thành một bộ động cơ hảo hạng trong chiếc xe tăng của đội tuyển Đức. Ngay trong trận đấu đầu tiên tại vòng bảng họ đã đánh bại đội tuyển Bồ Đào Nha với tỉ số 4-0, Kroos góp một kiến tạo trong trận đấu này. Vượt qua vòng bảng một cách xuất sắc và rồi đánh bại Nigeria ở vòng loại 16 đội. Đồng thời giành chiến thắng ở tứ kết với tỉ số tối thiểu 1-0 nhưng ở bán kết, đối thủ của họ không ai khác chính là đội chủ nhà Brasil, lần này họ đã làm nên lịch sử khi giành chiến thắng với một tỉ số không tưởng 7-1. Ở trận đấu này, Kroos ghi liền 2 bàn thắng và có 1 đường kiến tạo cho đồng đội mở tỉ số, sau trận đấu anh đã được FIFA bầu chọn là "Cầu thủ xuất sắc nhất trận", và cũng từ đây mọi người đã nhận ra chân giá trị của Kroos hơn bao giờ hết. Đội tuyển Đức hiên ngang bước vào trận chung kết gặp Argentina, trong trận chung kết hôm đó Kroos đã chơi rất hay nhưng trong một ngày những chân sút của hai bên đều bỏ lỡ cơ hội ngon ăn, khép lại 90p thi đấu chính thức với tỉ số 0-0. Tưởng chừng như trận đấu sẽ phải giải quyết trên chấm penalty nhưng Mario Götze đã ghi bàn thắng quyết định ấn định chiến thắng 1-0 và đội tuyển Đức đã vô địch World Cup năm đó.

Euro 2016, Kroos là một cái tên không thể thiếu trong đội hình chính và anh được coi là "bộ não" của đội tuyển Đức. Không có quá nhiều khó khăn đối với các nhà đương kim vô địch World Cup để vượt qua vòng bảng và vòng 1/8 mặc dù đội hình vắng nhiều trụ cột. Theo những con số thống kê thì tính đến hết các trận đấu ở vòng 1/8, Kroos chính là người có số đường chuyền nhiều nhất EURO với 444 đường chuyền, đạt tỷ lệ chính xác 92%. Ở tứ kết, mặc dù phải chạm trán với đối thủ nhiều duyên nợ là Italia nhưng Kroos và đồng đội đã may mắn giành chiến thắng trên chấm 11m. Bước vào bán kết đội tuyển Đức lại phải đối mặt với đội chủ nhà Pháp, đội bóng được đánh giá là một trong những ứng cử viên cho chức vô địch năm nay, đây là một đối thủ đáng gờm và mặc dù chơi hay hơn hẳn thì đội tuyển Đức vẫn phải ngậm ngùi chia tay trận chung kết với tỉ số 2-0. Dừng bước ở bán kết, Kroos và đồng đội lại lỗi hẹn với chức vô địch Châu Âu thêm một lần nữa.

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà báo nổi tiếng người Anh, Jonathan Wilson, một chuyên gia nghiên cứu về chiến thuật và là tác giả của cuốn sách chiến thuật nổi tiếng: “Inverting the Pyramid” (Đảo ngược Kim Tự Tháp) từng mô tả Kroos là “nguyên mẫu” của tiền vệ tấn công thời hiện đại. Ở đội tuyển Đức, Kroos là nhân tố rất đặc biệt so với những hình mẫu tiền vệ từ giữa thập kỷ 90 đến nay, Kroos không chỉ công thủ giỏi mà chuyền bóng như đặt, đá phạt hay, kỹ thuật cá nhân hoàn hảo và điều tiết lối chơi xuất sắc. Tóm lại, Kroos giống như trạm luân chuyển bóng và người mở khóa cho mọi đường bóng tấn công của tuyển Đức. Đó là sự toàn năng không dễ bắt gặp ở các tiền vệ Đức, ngay cả tiền vệ toàn diện như Michael Ballack cũng không hội tụ được nhiều kỹ năng như anh, điển hình là ở khả năng phân phối bóng.

Giống như lời cha của Toni Kroos nói, anh là mẫu tiền vệ chỉ 20 năm mới xuất hiện. Nếu nhìn lại lịch sử bóng đá Đức trong 20 năm qua (năm 1996 – 2016) và bỏ qua huyền thoại Lothar Matthaeus (người đã già nua ở giai đoạn này) thì Toni Kroos là tiền vệ toàn năng nhất, xứng đáng là hình mẫu tiền vệ hiện đại theo triết lý mới của bóng đá Đức.

Ancelotti của Real Madrid đánh giá: “Kroos có thể làm được bất cứ điều gì bởi anh ấy là một cầu thủ rất thông minh, thứ mà theo tôi rất quan trọng trong bóng đá. Với tư cách là một cầu thủ, anh ấy có tất cả: nhãn quan chiến thuật, khả năng chuyền bóng ngắn, bóng dài...”, “Cậu ấy luôn thi đấu bình tĩnh dưới bất cứ áp lực nào. Đó là cầu thủ rất quan trọng đối với đội bóng. Toni Kroos giữ được nhịp độ trận đấu, thực hiện những đường chuyền chính xác và không bao giờ để mất bóng”.

Trầm tính, khôn ngoan, có tầm nhìn và sắc sảo là một vài từ để miêu tả về tiền vệ 26 tuổi này. Không nằm trong số những cầu thủ có giá trị lớn nhất thế giới nhưng chỉ mới qua 2 mùa giải ở Real Madrid, Kroos ngày càng khẳng định vai trò và tầm ảnh hưởng của mình trong lối chơi.

Tất nhiên là không ồn ào và nổi bật như Ronaldo hay Gareth Bale, ở Kroos là sự thầm lặng, bền bỉ, trung thành. Qua 3 đời huấn luyện viên (Carlo Ancelotti, Rafa Benitez và hiện tại là Zidane) thì Kroos vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu. Anh cùng Luka Modric tạo nên cặp tiền vệ trung tâm thi đấu bằng sự tinh tế và tầm nhìn chứ không phải sức mạnh.

Kroos là một nét uốn mềm mại cho lối chơi của Kền kền trắng, dù không theo kiểu của Raul hay Zidane trước đây. Những nét vẽ đơn giản, nhưng nếu tổng hợp lại những trận đấu mà tỉ lệ đường chuyền thành công trung bình mỗi trận tới hơn 90%, người ta hiểu vì sao Kroos quan trọng đến thế.

Cũng chính vì vậy vào ngày 12/10/2016, câu lạc bộ Real Madrid đã chính thức thông báo về việc gia hạn hợp đồng với tiền vệ Toni Kroos đến năm 2022, biến anh trở thành cầu thủ người Đức nhận lương cao nhất thế giới với 20 triệu euro/năm (tương đương 2.283 euro/giờ, 54.800 euro/ngày, 365.000 euro/tuần).

Những con số nói lên giá trị của Kroos ở Real Madrid, nhưng nếu không nói đến khía cạnh tài chính, thời hạn 6 năm khẳng định rõ ràng vai trò, tầm quan trọng mà tiền vệ người Đức đang có ở sân Bernabeu, cũng như chiến lược định hướng xây dựng một hình tượng tiêu biểu cho sự kiêu hãnh của đội bóng Hoàng gia.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bundesliga: 2007–08, 2012–13, 2013–14
  • DFB-Pokal: 2007–08, 2012–13, 2013–14
  • DFL-Super cup: 2010, 2012
  • DFB-Ligapokal: 2007
  • UEFA Champions League: 2013
  • UEFA Super Cup: 2013
  • FIFA Club World Cup: 2013

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

  • UEFA Super Cup: 2014, 2016
  • FIFA Club World Cup: 2014
  • UEFA Champions League: 2016

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đức

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 2 tháng 10, 2016
Câu lạc bộ Mùa giải Giải quốc nội Cúp Châu lục Khác1 Tổng cộng Ref.
Giải đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Bayern München 2007–08 Bundesliga 12 0 2 0 6 1 20 1 [3]
2008–09 7 0 1 1 1 0 9 1 [4]
2010–11 27 1 3 1 7 1 37 3 [5]
2011–12 31 4 6 1 14 2 51 7 [6]
2012–13 24 6 3 0 9 3 1 0 37 9 [7][8]
2013–14 29 2 6 1 12 1 4 0 51 4 [9][10]
Tổng cộng 130 13 21 4 49 8 5 0 205 25
Bayern München II 2007–08 Regionalliga Süd 12 3 12 3 [3]
2008–09 3. Liga 1 1 1 1 [4]
Tổng cộng 13 4 13 4
Bayer Leverkusen 2008–09 Bundesliga 10 1 3 0 13 1 [4]
2009–10 33 9 2 0 35 9 [11]
Tổng cộng 43 10 5 0 48 10
Real Madrid 2014–15 La Liga 36 2 2 0 12 0 5 0 55 2 [10]
2015–16 32 1 0 0 11 0 43 1 [10]
2016–17 7 1 0 0 2 0 0 0 9 1 [10]
Tổng cộng 75 4 2 0 26 0 5 0 108 4
Tổng cộng sự nghiệp 261 31 28 4 75 8 10 0 374 43

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 11 tháng 10, 2016
Đội tuyển quốc gia Mùa giải Tổng cộng Chú thích
Trận Bàn
Đức 2009–10 8 0 [12]
2010–11 12 0 [12]
2011–12 10 2 [12]
2012–13 9 3 [12]
2013–14 12 2 [12]
2014–15 11 2 [12]
2015–16 9 2 [12]
2016–17 3 1 [12]
Tổng cộng sự nghiệp 74 12 [12]

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Dịa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 6 tháng 9, 2011 PGE Arena, Gdańsk, Ba Lan  Ba Lan 1–1 2–2 Giao hữu
2. 11 tháng 11, 2011 Sân vận động Olympic, Kiev, Ukraina  Ukraina 1–2 3–3 Giao hữu
3. 12 tháng 10, 2012 Sân vận động Aviva, Dublin, Ireland  Cộng hòa Ireland 5–0 6–1 Vòng loại World Cup 2014
4. 6–0
5. 6 tháng 9, 2013 Allianz Arena, München, Đức  Áo 2–0 3–0 Vòng loại World Cup 2014
6. 8 tháng 7, 2014 Sân vận động Mineirão, Belo Horizonte, Brasil  Brasil 3–0 7–1 World Cup 2014
7. 4–0
8. 14 tháng 10, 2014 Veltins-Arena, Gelsenkirchen, Đức  Cộng hòa Ireland 1–0 1–1 Vòng loại Euro 2016
9. 18 tháng 11, 2014 Sân vận động Balaídos, Vigo, Tây Ban Nha  Tây Ban Nha 1–0 1–0 Giao hữu
10. 26 tháng 3, 2016 Olympiastadion, Berlin, Đức  Anh 1–0 2–3 Giao hữu
11. 29 tháng 3, 2016 Allianz-Arena, München, Đức  Ý 1–0 4–1 Giao hữu
12. 8 tháng 10, 2016 Volksparkstadion, Hamburg, Đức  Cộng hòa Séc 2–0 3–0 Vòng loại World Cup 2018

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Team”. dfb.de. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2011. 
  2. ^ Ex-Bayern-Star Toni Kroos: "Alle großen Clubs der Welt wollten mich!", Focus, 21.07.2014
  3. ^ a ă “Kroos, Toni” (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ a ă â “Toni Kroos” (bằng tiếng Đức). Fussballdaten.de. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ “Kroos, Toni” (bằng tiếng German). kicker. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  6. ^ “Kroos, Toni” (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  7. ^ “Kroos, Toni” (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014. 
  8. ^ “Die Bayern holen den ersten Titel der Saison”. kicker (bằng tiếng Đức). Ngày 12 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  9. ^ “Kroos, Toni” (bằng tiếng German). kicker. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  10. ^ a ă â b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Toni_Kroos_.C2.BB_Club_matches
  11. ^ “Kroos, Toni” (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  12. ^ a ă â b c d đ e ê “Toni Kroos”. German Football Association. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]