Marc-André ter Stegen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Marc-André ter Stegen
Barça - Napoli - 20140806 - Marc-André ter Stegen 2.jpg
Ter Stegen trong màu áo Barcelona năm 2014
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 30 tháng 4, 1992 (24 tuổi)
Nơi sinh Mönchengladbach, Đức
Chiều cao 1,87 m (6 ft 1 12 in)[1]
Vị trí Thủ môn
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Barcelona
Số áo 1
CLB trẻ
1996–2010 Borussia Mönchengladbach
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2009–2011 Borussia Mönchengladbach II 18 (0)
2009–2014 Borussia Mönchengladbach 108 (0)
2014– Barcelona 8 (0)
Đội tuyển quốc gia
2007–2008 U-16 Đức 7 (0)
2008–2009 U-17 Đức 16 (0)
2009–2010 U-18 Đức 8 (0)
2010–2011 U-19 Đức 5 (0)
2012–2015 U-21 Đức 13 (0)
2012– Đức 7 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 06:17, 29 tháng 8 năm 2016 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 06:17, 1 tháng 9 năm 2016 (UTC)

Marc-André ter Stegen (Phát âm tiếng Đức: [teːɐ̯ ˈʃteːɡŋ̍]; sinh ngày 30 tháng 4 năm 1992) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đức hiện đang chơi ở vị trí thủ môn trong màu áo Barcelona..[2][3][4] Sau bốn mùa giải chơi cho Borussia Mönchengladbach tại Bundesliga với 108 lần ra sân, anh gia nhập Barcelona với giá 12 triệu euro năm 2014. Anh đã giành cú ăn ba ngay trong mùa giải đầu tiên của mình ở Tây Ban Nha, góp mặt trong trận thắng của Barcelona ở cúp Nhà vua Tây Ban NhaUEFA Champions League. Ter Stegen cũng đại diện cho Đức ở một vài cấp độ trẻ và có trận ra mắt quốc tế đầu tiên năm 2012. Sau trận gặp Athletic Bilbao tháng 8 năm 2016, Ter Stegen đã trở thành thủ môn giữ kỷ lục có nhiều đường chuyền nhất trong một trận đấu tại La Liga kể từ khi thống kê bắt đầu vào mùa 2005-06.[5][6]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Mönchengladbach[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 2010-11[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Mönchengladbach, Ter Stegen khởi nghiệp tại đội bóng quê hương Borussia Mönchengladbach. Trong nửa đầu mùa 2010-11, anh đã khẳng định bản thân là một ngôi sao trong đội hình dự bị và thường xuyên xuất hiện trên ghế dự bị của đội hình chính. Trong khi anh đang tận hưởng một mùa giải tương đối thành công, điều tương tự lại không đến với các đồng nghiệp ở đội một.[7] Đội một của Mönchengladbach dường như đã thất bại trong nỗ lực tránh xuống hạng, và vào ngày 14 tháng 2 năm 2011, huấn luyện viên Michael Frontzeck được kế nhiệm bởi Lucien Favre, với đội hình đứng áp chót tại Bundesliga sau khi chỉ tích lũy vỏn vẹn 16 điểm sau 22 vòng đấu.[8]

Mùa 2011-12[sửa | sửa mã nguồn]

Ter Stegen với Borussia Mönchengladbach tháng 10 năm 2011.

Ter Stegen đã trở thành sự lựa chọn số một trong khung gỗ sau khi Baily được cho mượn đến đội bóng Thụy Sĩ Neuchâtel Xamax. Anh được trao chiếc áo số 1 thay cho áo số 21 anh mặc trước đây.[9]

Trong kỳ chuyển nhượng mùa hè, Bayern Munich đã chiêu mộ thành công mục tiêu mà họ theo đuổi bấy lâu là đội trưởng của Schalke 04 Manuel Neuer.[10] Trận đấu ra mắt của thủ môn tuyển Đức chính là cuộc đối đầu với Ter Stegen của Mönchengladbach tại sân Allianz Arena. Tuy nhiên trận đấu đã diễn ra không như các chuyên gia dự đoán: trong khi Ter Stegen tạo nên màn trình diễn đầy cảm hứng thì người đồng nghiệp Neuer mắc sai lầm khiến Bayern chịu thất bại 1-0.[11]

Mùa 2012-13[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự ra đi của Reus tới Borussia Dortmund và Dante tới Bayern Munich, Ter Stegen nổi lên thành ngôi sao chính của Mönchengladbach trong mùa giải 2012-13. Một lần nữa anh là sự lựa chọn số một, và vào tháng 2 năm 2013, có thông tin cho rằng Ter Stegen đã ký một thỏa thuận trước với câu lạc bộ La Liga Barcelona.[12] Bản hợp đồng sau đó lại bị chính anh từ chối.[13]

Mùa 2013-14[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi có liên hệ chặt chẽ với Barca, Ter Stegen vẫn ở Mönchengladbach cho mùa 2013-14. Ngày 6 tháng 1 năm 2014, anh đã từ chối một thỏa thuận từ câu lạc bộ, càng làm tăng thêm đồn đoán về tương lai của mình.[14] Trong trận chiến thắng sân nhà 3-1 vào cuối mùa trước Mainz 05 vào ngày 5 tháng 5, Ter Stegen gửi một lời tạm biệt đầy nước mắt đến Borussia Mönchengladbach. [15]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 2014-15[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 5 năm 2014, Ter Stegen được công bố là thủ môn mới của câu lạc bộ Tây Ban Nha Barcelona, sau sự ra đi của Víctor ValdésJosé Manuel Pinto, gây ảnh hướng lớn trong kỳ chuyển nhượng mùa hè.[16] Ngày 22 tháng 5 năm 2014, anh ký bản hợp đồng kéo dài 5 năm giúp giữ anh tại câu lạc bộ đến tháng 6 năm 2019. Mức phí chuyển nhượng là 12 triệu € (9.7 triệu £) kèm điều khoản phá vỡ hợp đồng được thiết lập đến 80 triệu € (63.6 triệu £).[17] Sau khi chuyển đến, Ter Stegen nói việc gia nhập đội bóng là một bước đi đúng đắn nhằm giải quyết vấn đề ở câu lạc bộ.[18] Sau vài ngày ký hợp đồng với Barca, Ter Stegen đã có buổi ra mắt tại sân vận động Camp Nou và bác bỏ việc so sánh anh với Valdés khi nhấn mạnh, "Tôi là tôi và anh ấy là anh ấy".[19] Anh cũng nói cảm nghĩ của mình về cựu thủ môn của Barca, "Anh ấy là một thủ môn tuyệt vời đã đóng góp rất nhiều cho Barca, luôn thi đấu xuất sắc và đã giành được rất nhiều danh hiệu. Nhưng tôi biết nhiệm vụ của tôi là gì. Barca đã lựa chọn tôi. Đó là một niềm tự hào. Như thế đủ để tôi phải cố gắng hết mình”.[20]

Mùa 2015-16[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải thứ hai của Ter Stegen bắt đầu với thắng lợi tại Siêu cúp Châu Ậu trước SevillaTbilisi vào ngày 11 tháng 8. Sau khi dẫn 4-1 anh lại để thủng lưới ba bàn khiến trận đấu bước vào thời gian hiệp phụ, chung cuộc Barca thắng 5-4.[21] Anh cũng có trận ra mắt tại La Liga vào ngày 12 tháng 9 năm 2015 trong trận gặp Atlético Madrid, trận đấu Barca giành chiến thắng 2-1.[22] Vào tháng 3 năm 2016, Ter Stegen nói về chiến thuật thay người luân phiên của Luis Enrique, "Trong một chặng đường dài, 25 trận mỗi mùa là không đủ với tôi. Quyết định là do huấn luyện viên trưởng. Tôi hi vọng rằng những màn trình diễn chất lượng mà tôi thể hiện thời gian gần đây sẽ được tưởng thưởng."[23]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 29 tháng 8, 2016[24][25]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia[26] Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Borussia Mönchengladbach 2010–11 6 0 0 0 2[a] 0 8 0
2011–12 34 0 5 0 39 0
2012–13 34 0 2 0 9[b] 0 45 0
2013–14 34 0 1 0 35 0
Tỏng cộng 108 0 8 0 9 0 2 0 127 0
Barcelona 2014–15 0 0 8 0 13[c] 0 21 0
2015–16 7 0 7 0 10 0 2 0 26 0
2016–17 1 0 0 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 8 0 15 0 23 0 2 0 48 0
Tổng cộng sự nghiệp 116 0 23 0 32 0 4 0 175 0
  1. ^ Hai trận ra sân tại trận playoff thăng hạng Bundesliga
  2. ^ Hai trận ra sân tại UEFA Champions League, bảy trận ra sân tại Europa League
  3. ^ Tất cả các trận ra sân tại UEFA Champions League

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 31 tháng 8, 2016[27][28]
Đức
Năm Trận Bàn
2012 2 0
2013 1 0
2014 1 0
2016 3 0
Tổng cộng 7 0

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Marc-André ter Stegen profile”. FC Barcelona. 24 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ “Analyzing ter Stegen – The best of the German goalkeeper”. grup14.com. 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015. 
  3. ^ “Ter Stegen, following in Neuer's footsteps”. Marca. 23 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2015. 
  4. ^ “Barcelona celeberate [sic] ter Stegen as "the new Manuel Neuer". Deutscher Fußball-Bund. 22 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2015. 
  5. ^ Jim Sheridan (29 tháng 8 năm 2016). “Barcelona keeper Marc-Andre Ter Stegen breaks La Liga record against Athletic Bilbao for amount of passes by a goalkeeper in a game”. The Sun. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2016. 
  6. ^ Kim Thành (29 tháng 8 năm 2016). “Thủ môn Ter Stegen lập kỳ tích ngay trận đầu bắt chính cho Barca”. VnExpress. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016. 
  7. ^ “Scouting Network: Marc-André ter Stegen: "The fans already had their support for Ter Stegen, and had known what this teenager was capable of, and thus demanded the new manager to utilise him and give him a taste of football at the highest level, hoping that he would deliver the goods for them". goaldentimes.org. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ “Favre soll Gladbach retten” (bằng tiếng German). Abendzeitung München. 14 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  9. ^ Simon Barclay. Bundesliga 2011-12. 
  10. ^ “Manuel Neuer's transfer from Schalke could cost Bayern Munich up to €33 million - report”. Goal.com. 15 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2016. 
  11. ^ Simon Barclay. Bundesliga 2011-12. tr. 330-371. 
  12. ^ “Ter Stegen signs pre-agreement with Barça”. Marca. 14 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  13. ^ Coerts, Stefan (4 tháng 7 năm 2013). “Ter Stegen laughs off Barcelona links”. Goal.com. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  14. ^ “Marc-Andre ter Stegen rejects Borussia Monchengladbach offer”. Sky Sports. 6 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  15. ^ “Transfer news: Barcelona-bound Marc-Andre ter Stegen says goodbye to Monchengladbach”. Sky Sports. 5 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  16. ^ “Llega Ter Stegen y se va Pinto” [Ter Stegen arrives and Pinto leaves] (bằng tiếng Tây Ban Nha). FC Barcelona. 19 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  17. ^ “Marc-André ter Stegen signs 5-year contract”. FC Barcelona. 22 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014. 
  18. ^ “I'm fulfilling my dream, says Barcelona newbie Ter Stegen”. Goal.com. 22 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  19. ^ “Marc-Andre ter Stegen is unveiled by Barcelona at the Nou Camp... and distances himself from Victor Valdes comparisons”. Daily Mail. 23 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  20. ^ Bình Khang (23 tháng 5 năm 2014). “Những chia sẻ của Ter Stegen trong buổi ra mắt tại Barcelona”. Bongda.plus. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2016. 
  21. ^ “Barcelona 5–4 Sevilla”. BBC Sport. 11 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015. 
  22. ^ “Ter Stegen feiert erfolgreiches Liga-Debüt” [Ter Stegen celebrates successful league debut]. T-Online (bằng tiếng Đức). 13 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015. 
  23. ^ “Ter Stegen drops Barcelona exit hint”. FourFourTwo. 25 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2016. 
  24. ^ “Marc-André ter Stegen”. ESPN FC. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  25. ^ Marc-André ter Stegen tại Soccerway. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015.
  26. ^ Bao gồm DFB-PokalCopa del Rey
  27. ^ “Marc-André ter Stegen”. EU-Football.info. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  28. ^ Marc-André ter Stegen tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]