Robert Lewandowski

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Robert Lewandowski
Robert Lewandowski FCB.jpg
Lewandowski tại Bayern München năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Robert Lewandowski
Ngày sinh 21 tháng 8, 1988 (28 tuổi)
Nơi sinh Warszawa, Ba Lan
Chiều cao 1,84 m (6 ft 12 in)[1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Bayern München
Số áo 9
CLB trẻ
1997–2004 UKS Varsovia Warszawa
2005 KS Delta Warszawa
2005 Legia Warszawa II
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2008 Znicz Pruszków 32 (21)
2008–2010 Lech Poznań 58 (32)
2010–2014 Borussia Dortmund 131 (74)
2014– Bayern München 73 (54)
Đội tuyển quốc gia
2008 U21 Ba Lan 3 (0)
2008– Ba Lan 85 (42)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 5 tháng 11, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 11 tháng 11, 2016

Robert Lewandowski (phát âm tiếng Ba Lan: [ˈrɔbɛrt lɛvanˈdɔfskʲi] (); sinh ngày 21 tháng 8, 1988) là một cầu thủ bóng đá người Ba Lan hiện đang thi đấu cho câu lạc bộ Bayern München của Đức tại giải BundesligaĐội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan.

Sau khi lần lượt trở thành vua phá lưới giải hạng ba và hạng hai Ba Lan tại câu lạc bộ Znicz Pruszków, Lewandowski chuyển đến Lech Poznań và cùng câu lạc bộ này giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá Ba Lan và cá nhân anh cũng đạt danh hiệu vua phá lưới trong mùa giải 2009-10. Năm 2010, anh sang Đức khoác áo Borussia Dortmund và cùng đội bóng này có được hai danh hiệu vô địch Bundesliga liên tiếp. Mùa hè năm 2014, anh trở thành cầu thủ của Bayern München.

Tại đội tuyển Ba Lan, Lewandowski có trận đấu đầu tiên vào tháng 9 năm 2008 và từng cùng Ba Lan tham dự hai giải đấu lớn Euro 2012Euro 2016. Anh hiện là một trong những cầu thủ ghi bàn hàng đầu của đội tuyển nước này.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski bắt đầu thi đấu tại đội trẻ Partyzant Leszno và sau đó là 7 năm tại UKS Varsovia Warszawa từ năm 1997 đến năm 2004. Năm 2005, ở tuổi 16, anh chuyển đến Delta Warszawa và ký hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp đầu tiên trong sự nghiệp tại đây.[2] Tại Delta Warszawa, anh có được bốn bàn thắng.[3]

Một năm sau, Lewandowski chuyển tới Znicz Pruszków và tại đây, mức lương của anh đã được tăng gấp ba lần so với tại Warszawa là 5.000 złoty/tháng (khoảng 1.250 euro). Ngay trong mùa giải đầu tiên, anh đã trở thành Vua phá lưới ở giải hạng ba Ba Lan và giúp đội bóng thăng hạng.[4][5] Mùa giải tiếp theo, anh lại trở thành vua phá lưới của giải hạng hai Ba Lan với thành tích 21 bàn thắng.[5]

Lech Poznań[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski trong màu áo của Lech Poznań vào mùa giải 2009-10.

Tháng 6 năm 2008, Lech Poznań chiêu mộ Lewandowski từ Znicz với phí chuyển nhượng 1,5 triệu złotys.[6] Trong mùa giải 2009-10, anh đã đoạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất và Vua phá lưới, giúp câu lạc bộ lên ngôi vô địch Giải vô địch bóng đá Ba Lan.[4] Sau 32 bàn thắng trong 58 trận cho Poznań, Lewandowski chuyển đến Borussia Dortmund.[7]

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

2010-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2010, anh đã ký hợp đồng có thời hạn bốn năm với đội bóng Đức Borussia Dortmund với phí chuyển nhượng khoảng 4,5 triệu €.[8] Ngày 19 tháng 9, Lewandowski có được bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga trong chiến thắng 3-1 trước Schalke 04 sau khi vào sân từ ghế dự bị thay cho Kagawa Shinji.[9] Trong mùa giải 2010-11, anh có 9 bàn thắng sau 43 trận.[10]

Ngày 1 tháng 10 năm 2011, Lewandowski có được một pha kiến tạo và một hat-trick trong chiến thắng 4–0 trước FC Augsburg.[11] Cú đúp của anh đem về chiến thắng 5-0 trước 1. FC Köln vào ngày 22 tháng 10[12] và 4-1 trước SC Freiburg vào ngày 17 tháng 12.[13] Cuối năm 2011, anh giành được danh hiệu Cầu thủ Ba Lan xuất sắc nhất năm.[14]

Anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Bayern München vào ngày 11 tháng 4 giúp cho Dortmund duy trì khoảng cách 6 điểm với Bayern khi mà Bundesliga 2011-12 chỉ còn bốn vòng đấu.[15] Ngày 21 tháng 4, Lewandowski kiến tạo cho Kagawa đem về chiến thắng 2–0 trước Borussia Mönchengladbach giúp Dortmund bảo vệ thành công chức vô địch.[16] Trận đấu cuối cùng của Bundesliga mùa giải 2011-12, anh lập cú đúp trong chiến thắng 4-0 trước Freiburg.[17] Lewandowski đem về cho Dortmund cú đúp danh hiệu vô địch mùa giải 2011-12 với hat-trick trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức thắng München 5-2.[18]

Trong mùa giải 2012-13, anh phá kỷ lục ghi bàn liên tiếp của câu lạc bộ tại Bundesliga với thành tích 12 trận, vượt qua kỷ lục cũ của Friedhelm Konietzka ở mùa giải 1964-65.[19] Trong trận đấu đầu tiên của Dortmund tại UEFA Champions League 2012–13 với Ajax, Lewandowski đã ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu ở phút thứ 87.[20]

2013-2014[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 2013, giám đốc điều hành của Borussia Dortmund Michael Zorc xác nhận Lewandowski sẽ không gia hạn hợp đồng và sẽ rời câu lạc bộ vào mùa hè 2013 hoặc sau mùa giải 2013-14.[21]

Ngày 24 tháng 4 năm 2013, Lewandowski trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử UEFA Champions League ghi được bốn bàn thắng trong một trận bán kết của giải đấu này trong chiến thắng 4-1 trước Real Madrid tại sân Westfalenstadion.[22] Anh đồng thời cũng là cầu thủ đầu tiên ghi được hat-trick vào lưới Real Madrid tại UEFA Champions League.[23] Ngày 25 tháng 5, anh và các đồng đội đã để thua Bayern München trong trận Chung kết UEFA Champions League 2013 với tỉ số 1-2.[24]

Ngày 27 tháng 7 năm 2013, Lewandowski giành chức vô địch Siêu cúp bóng đá Đức 2013 sau chiến thắng 4-2 trước Bayern München.[25] Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2013-14 trong chiến thắng 4–0 trước Augsburg tại Bundesliga vào ngày 10 tháng 8.[26] Ngày 1 tháng 11, anh lập hat-trick giúp Dortmund đại thắng VfB Stuttgart 6-1.[27]

Ngày 25 tháng 2 năm 2014, Lewandowski lập cú đúp trong trận đấu vòng 1/16 Champions League với Zenit Saint Petersburg, chính thức trở thành cầu thủ của Dortmund có thành tích ghi bàn tốt nhất tại các giải đấu châu Âu với 16 bàn (kỷ lục cũ thuộc về Stéphane Chapuisat).[28] Anh có bàn thắng thứ 100 cho Dortmund trong trận tứ kết Cúp bóng đá Đức với VfL Wolfsburg vào ngày 16 tháng 4 năm 2014.[29]

Kết thúc mùa giải, Lewandowski trở thành vua phá lưới Bundesliga 2013–14 với 20 bàn thắng.[30] Anh có trận đấu cuối cùng cho Dortmund trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức 2014 với Bayern München vào ngày 17 tháng 5. Chung cuộc đội bóng của anh thất thủ 2-0 sau 120 phút thi đấu.[31]

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 1 năm 2014, Lewandowski chính thức gia nhập FC Bayern München theo dạng chuyển nhượng tự do với bản hợp đồng có thời hạn 5 năm (kéo dài tới tháng 6 năm 2019).[32] anh trở thành cầu thủ thứ 2 trong hai năm liên tiếp nói lời chia tay Borussia Dortmund để chuyển sang khoác áo Bayern München (trước đó là tiền vệ Mario Götze). Anh chính thức ra mắt đội bóng mới vào ngày 9 tháng 7 năm 2014.[33] Tuy nhiên ngay trong trận đấu đầu tiên cho Bayern, anh đã phải chịu thất bại 2-0 trước đội bóng cũ Dortmund tại trận tranh Siêu cúp bóng đá Đức 2014 ngày 13 tháng 8 năm 2014.[34]

2014-15[sửa | sửa mã nguồn]

Anh có bàn thắng đầu tiên trong màu áo Bayern trong trận hòa 1–1 với Schalke 04 vào ngày 30 tháng 8 tại Bundesliga.[35] Cuối tháng 10, anh có bàn thắng đầu tiên cho Bayern tại đấu trường châu Âu trong chiến thắng 7-1 trước AS Roma.[36] Ngày 1 tháng 11, trong lần đầu tiên tái ngộ đội bóng cũ Dortmund tại Bundesliga, Lewandowski đã ghi bàn giúp Bayern giành chiến thắng 2-1 trong khi Dortmund tiếp tục chìm sâu ở cuối bảng xếp hạng.[37] Lewandowski ghi được tổng cộng ba bàn thắng trong hai chiến thắng hủy diệt liên tiếp với các tỉ số 8-0 và 6-0 của Bayern trước Hamburger SVSC Paderborn 07 vào cuối tháng 2 năm 2015, nâng tổng số bàn thắng của anh cho Bayern lên con số 12.[38][39]

Ngày 21 tháng 4, trong trận tứ kết lượt về UEFA Champions League 2014-15, Lewandowski lập cú đúp ngay trong hiệp 1 giúp Bayern đánh bại Porto 6-1, giành quyền vào bán kết với tổng tỉ số 7-4 sau khi đã để thua 3-1 ở trận lượt đi.[40] Năm ngày sau đó, anh chính thức có được danh hiệu vô địch Bundeslia đầu tiên cùng "Hùm xám" sau khi VfL Wolfsburg để thua Borussia Mönchengladbach.[41] Ngày 28 tháng 4, trong trận bán kết DFB-Pokal với Dortmund, anh là người ghi bàn mở tỉ số trận đấu nhưng Bayern sau đó đã bị loại sau thất bại trên chấm luân lưu.[42] Đến trận lượt về bán kết Champions League với Barcelona, anh lại tiếp tục lập công với pha xử lý kỹ thuật loại bỏ Javier Mascherano trước khi tung ra cú dứt điểm gỡ hòa 2-2 cho đội bóng Đức. Bayern giành thắng lợi 3-2 nhưng bị loại với tổng tỉ số 3-5 sau hai lượt trận.[43]

2015-16[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski trên sân tập vào tháng 9 năm 2015

Ngày 9 tháng 8 năm 2015, Lewandowski ghi bàn thắng ấn định chiến thắng 3-1 trước FC Nöttingen tại vòng đấu thứ nhất DFB-Pokal.[44] Ngày 14 tháng 8, trong trận đấu đầu tiên của Hùm xám tại Bundesliga 2015–16, anh ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng Hamburg 5-0.[45]

Ngày 22 tháng 9 năm 2015, Lewandowski thiết lập kỷ lục mới tại Bundesliga khi ghi được năm bàn thắng trong vòng 9 phút trong chiến thắng 5-1 trước VfL Wolfsburg (trước đó Bayern đang bị dẫn trước 1-0), cụ thể là thành tích ghi năm bàn một trận nhanh nhất trong lịch sử giải đấu này và cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất sau khi vào sân từ ghế dự bị.[46][47] Lewandowski còn trở thành cầu thủ lập hat-trick nhanh nhất trong lịch sử Bundesliga (4 phút). Hat-trick nhanh nhất được lập trước đó thuộc về Michael Tönnies của MSV Duisburg năm 1991 với thời gian 6 phút.[48] Đây cũng là thành tích ghi năm bàn nhanh nhất tại các giải đấu lớn châu Âu kể từ khi Opta bắt đầu thống kê và chấm dứt chuỗi 14 trận bất bại liên tiếp của Wolfsburg.[49] Bốn ngày sau đó, anh ghi được cú đúp trong trận thắng 1. FSV Mainz 05 3-0 để trở thành cầu thủ nước ngoài đạt đến mốc 100 bàn thắng nhanh nhất tại Bundesliga (sau 168 trận) và là cầu thủ "Hùm xám" thứ hai (người đầu tiên là Gerd Müller) có được 10 bàn thắng sau 7 trận mở màn giải đấu.[50] Ngày 29 tháng 9, anh lập hat-trick trong chiến thắng 5-0 trước Dinamo Zagreb tại UEFA Champions League và tổng cộng anh đã có 10 bàn thắng chỉ sau ba trận đấu trong cùng một tuần.[51] Đến ngày 4 tháng 10, anh lại có cú đúp nữa vào lưới Dortmund, có được 12 bàn thắng sau 4 trận liên tiếp.[52]

Ngày 7 tháng 5 năm 2016, Lewandowski ghi cả hai bàn thắng trong chiến thắng 2-1 trước FC Ingolstadt để giúp Bayern chính thức có được danh hiệu vô địch Bundesliga lần thứ tư liên tiếp.[53] Một tuần sau đó, anh trở thành tiền đạo đầu tiên sau 39 năm tại Bundesliga chạm tới cột mốc 30 bàn thắng (kỷ lục trước đó thuộc về Dieter Müller trong mùa giải 1976-77) sau pha lập công trong trận đấu với Hannover 96. Thành tích 30 bàn thắng cũng giúp anh giành danh hiệu vua phá lưới Bundesliga lần thứ hai trong vòng ba năm.[54]

2016-17[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski khởi đầu mùa giải 2016–17 với danh hiệu vô địch Siêu cúp Đức cùng với Bayern sau chiến thắng 2-0 trước Borussia Dortmund ngày 14 tháng 8 năm 2016.[55] Sau đó trong trận đấu vòng 1 DFB–Pokal với Carl Zeiss Jena, anh đã lập hat-trick trong chiến thắng 5–0.[56] Lewandowski lập tiếp một hat-trick nữa trong trận mở màn Bundesliga 2016–17 thắng Werder Bremen 6-0.[57] Trong trận đấu ở vòng đấu tiếp theo với Schalke, anh có pha lập công mở tỉ số ở phút 81 để chung cuộc Bayern giành thắng lợi 2-0.[58]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski (phải) trong trận đấu giữa Ba LanHungary vào năm 2011

Lewandowski đã có ba lần ra sân cho đội tuyển U-21 Ba Lan, trong các trận đấu giao hữu với các đội U-21 Anh, U-21 BelarusU-21 Phần Lan.

Ngày 10 tháng 9 năm 2008, anh có trận đấu đầu tiên cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan, ba tuần sau sinh nhật lần thứ 20 của mình trong trận đấu với San Marino tại vòng loại World Cup 2010. Mười hai phút sau khi vào sân từ ghế dự bị, anh đã có được bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển.[59]

Trong trận khai mạc vòng chung kết Euro 2012 tổ chức ngay tại quê nhà với tuyển Hy Lạp, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên của giải đấu này bằng một pha đánh đầu. Chung cuộc Ba Lan và Hy Lạp hòa nhau với tỉ số 1-1.[60] Anh tiếp tục ra sân trong hai trận còn lại của vòng bảng với NgaCộng hòa Séc, tuy nhiên, đội tuyển Ba Lan đã phải dừng chân sau vòng bảng với chỉ 2 điểm, xếp cuối bảng A.[61][62]

Ngày 26 tháng 3 năm 2013, trong khuôn khổ lượt trận thứ 7 của vòng loại World Cup 2014 khu vực châu Âu, Lewandowski ghi được hai bàn thắng trên chấm phạt đền trong chiến thắng 5-0 trước San Marino và lượt trận thứ 9, anh chỉ có được một bàn thắng trong trận hòa 1-1 trước Montenegro.[63] Ba Lan không thể góp mặt ở World Cup 2014 do chỉ xếp thứ 4 chung cuộc với 13 điểm, 3 trận thắng, 4 trận hòa và 3 trận thua và cá nhân Lewandowski chỉ có hai bàn thắng sau vòng loại.

Euro 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 7 tháng 9 năm 2014, trong trận đấu mở màn vòng loại Euro 2016, Lewandowski đã ghi đến bốn bàn thắng, giúp Ba Lan đè bẹp đội bóng yếu nhất bảng D - Gibraltar với tỉ số 7–0.[64] Vào ngày 13 tháng 6 năm 2015, anh đã lập một cú hat-trick giúp Ba Lan giành chiến thắng 4–0 trước Gruzia, với 3 bàn thắng ghi được chỉ trong vòng 4 phút.[65] Ngày 4 tháng 9, trong trận gặp Đức ở lượt trận thứ 7, anh chỉ ghi được một bàn thắng trong trận Ba Lan thua Đức với tỉ số 1–3, kết quả này khiến cho Ba Lan bị mất ngôi đầu bảng về tay đối thủ.[66] Ba ngày sau, anh lập cú đúp trong trận thắng hủy diệt Gibraltar 8–1, giúp Ba Lan tiến gần hơn đến cơ hội tham dự Euro 2016.[67]

Ngày 8 tháng 10, ở lượt trận thứ 9, Lewandowski tiếp tục tỏa sáng với một cú đúp trong trận hòa Scotland với tỉ số 2–2, giúp Ba Lan thu hẹp khoảng cách với đội đầu bảng Đức còn đúng 1 điểm, bằng điểm với Cộng hòa Ireland nhưng Ba Lan xếp trên Ireland do hơn về hiệu số bất phân thắng bại.[68] Ba ngày sau, ở lượt đấu cuối cùng gặp Ireland, anh đóng góp một bàn thắng trong trận thắng Ireland 2–1 ngay trên sân nhà, qua đó giúp Ba Lan đứng vị trí thứ hai của bảng D với 21 điểm, kém Đức 1 điểm và chính thức giành quyền tham dự Euro 2016[69], đồng thời cùng với David Healy của Bắc Ireland trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất vòng loại với 13 bàn thắng.[70]

Lewandowski là một trong 23 cầu thủ Ba Lan có tên trong danh sách chính thức tham dự Euro 2016 tại Pháp.[71] Trong ba trận đấu tại vòng bảng với Bắc Ireland, Đức và Ukraina, Lewandowski chơi lùi sâu và thường nhận bóng từ khu vực giữa sân nên không có bất kỳ cơ hội nào uy hiếp khung thành đối phương.[72] Phải đến trận đấu gặp Thụy Sĩ tại vòng 1/16, anh mới có cú sút trúng đích đầu tiên nhưng không thành bàn. Trong loạt sút luân lưu sau đó, anh là người thực hiện lượt sút đầu tiên cho Ba Lan và đã thành công.[73]

Ngày 30 tháng 6 năm 2016, trong trận đấu tứ kết Euro 2016 gặp đội tuyển Bồ Đào Nha, Lewandowski đã có bàn thắng đầu tiên ở giải đấu này ngay ở phút thứ hai của trận đấu (bàn thắng nhanh thứ nhì trong lịch sử các vòng chung kết Euro[74]), nhưng đến phút thứ 33 thì tiền vệ Renato Sanches ghi bàn thắng gỡ hòa 1–1 cho đội tuyển Bồ Đào Nha và tỉ số được giữ nguyên đến hết 120 phút thi đấu. Đội tuyển Ba Lan đã phải dừng bước ở tứ kết sau khi để thua Bồ Đào Nha 3–5 trên chấm luân lưu 11m, trong đó Lewandowski thực hiện thành công lượt sút của mình.[75] Vào thời điểm Ba Lan bị loại, Lewandowski là cầu thủ bị phạm lỗi nhiều nhất tại giải đấu.[75]

Ngày 4 tháng 9 năm 2016, trong lượt trận đầu tiên của vòng loại World Cup 2018 khu vực châu Âu, Lewandowski là người ghi bàn thắng nâng tỉ số lên thành 2–0 bằng cú đá penalty, tuy nhiên Ba Lan lại để Kazakhstan cầm hòa với tỉ số 2–2.[76]. Ngày 7 tháng 10, ở lượt trận thứ hai gặp đối thủ Đan Mạch, anh đã lập một cú hat-trick giúp Ba Lan giành chiến thắng trước Đan Mạch với tỉ số 3–2 dù ở hiệp 2 Đan Mạch gỡ lại 2 bàn. Ba ngày sau, anh đã ghi bàn thắng ở những phút bù giờ cuối cùng giúp Ba Lan vượt qua đối thủ yếu Armenia với tỉ số 2–1. Ngày 11 tháng 11, ở lượt trận thứ tư của vòng loại World Cup 2018, Lewandowski đã lập một cú đúp trong chiến thắng 3–0 của Ba Lan trước România tại sân khách. Cũng trong trận đấu này, ở những phút gần cuối hiệp 2, anh bị dính phải những vết pháo sáng từ phía khán đài, rất may cho anh là các bác sĩ kết luận rằng anh chỉ bị choáng nhẹ và có thể tiếp tục thi đấu.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 5 tháng 11, 2016.[77]
CLB Mùa bóng Giải đấu Giải vô địch QG Cúp QG Châu Âu Khác1 Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Znicz Pruszków 2007–08 Giải hạng I Ba Lan 32 21 2 0 34 21
Lech Poznań 2008–09 Ekstraklasa 30 14 6 2 12 4 48 20
2009–10 28 18 1 0 4 2 1 1 34 21
Tổng cộng 58 32 7 2 16 6 1 1 82 41
Borussia Dortmund 2010–11 Bundesliga 33 8 2 0 8 1 43 9
2011–12 34 22 6 7 6 1 1 0 47 30
2012–13 31 24 4 1 13 10 1 1 49 36
2013–14 33 20 4 2 8 6 1 0 46 28
Tổng cộng 131 74 16 10 35 18 3 1 185 103
Bayern München 2014–15 Bundesliga 31 17 5 2 12 6 1 0 49 25
2015–16 32 30 6 3 12 9 1 0 51 42
2016–17 10 7 1 3 4 4 1 0 16 14
Tổng cộng 73 54 12 8 28 19 3 0 116 81
Tổng cộng sự nghiệp 321 196 40 21 80 43 7 2 448 262

1 Siêu cúp Ba Lan, Siêu cúp Đức.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 11 tháng 11, 2016[78]
Đội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2008 4 2
2009 12 1
2010 13 6
2011 11 4
2012 10 2
2013 10 3
2014 6 5
2015 7 11
2016 12 8
Tổng cộng 85 42

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 10 tháng 9, 2008 Sân vận động Olimpico, Serravalle, San Marino  San Marino 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2010
2 19 tháng 11, 2008 Sân vận động Croke Park, Dublin, Ireland  Cộng hòa Ireland 3–1 3–2 Giao hữu
3 1 tháng 4, 2009 Arena Kielc, Kielce, Ba Lan  San Marino 4–0 10–0 Vòng loại World Cup 2010
4 23 tháng 1, 2010 Sân vận động 5 tháng 12, Nakhon Ratchasima, Thái Lan  Singapore 1–0 6–1 Cúp Nhà vua Thái Lan 2010
5 2–0
6 4 tháng 3, 2010 Sân vận động Polonii, Warsaw, Ba Lan  Hy Lạp 1–0 1–1 Euro 2012
7 8 tháng 9, 2012 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Bulgaria 2–0 2–0 Giao hữu
8 18 tháng 11, 2010 Sân vận động Miejski, Poznań, Ba Lan  Bờ Biển Ngà 1–0 3–1 Giao hữu
9 3–1
10 9 tháng 2, 2011 Sân vận động quốc gia Algarve, Algarve, Bồ Đào Nha  Na Uy 1–0 1–0 Giao hữu
11 6 tháng 9, 2011 PGE Arena, Gdańsk, Ba Lan  Đức 1–0 2–2 Giao hữu
12 7 tháng 10, 2011 Sân vận động Seoul World Cup, Seoul, Hàn Quốc  Hàn Quốc 1–0 2–2 Giao hữu
13 11 tháng 10, 2011 BRITA-Arena, Wiesbaden, Đức  Belarus 2–0 2–0 Giao hữu
14 2 tháng 6, 2012 Pepsi Arena, Warsaw, Ba Lan  Belarus 2–0 2–0 Giao hữu
15 8 tháng 6, 2012 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Hy Lạp 1–0 1–1 Euro 2012
16 26 tháng 3, 2013 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  San Marino 1–0 5–0 Vòng loại World Cup 2014
17 3–0
18 6 tháng 9, 2013 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Montenegro 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2014
19 6 tháng 6, 2014 PGE Arena, Gdańsk, Ba Lan  Litva 2–1 2–1 Giao hữu
20 7 tháng 9, 2014 Sân vận động Algarve, Faro, Bồ Đào Nha  Gibraltar 3–0 7–0 Vòng loại Euro 2016
21 5–0
22 6–0
23 7–0
24 13 tháng 6, 2015 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Gruzia 2–0 4–0 Vòng loại Euro 2016
25 3–0
26 4–0
27 4 tháng 9, 2015 Commerzbank-Arena, Frankfurt, Đức  Đức 1–2 1–3 Vòng loại Euro 2016
28 7 tháng 9, 2015 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Gibraltar 3–0 8–1 Vòng loại Euro 2016
29 4–0
30 8 tháng 10, 2015 Sân vận động Hampden Park, Glasgow, Scotland  Scotland 1–0 2–2 Vòng loại Euro 2016
31 2–2
32 11 tháng 10, 2015 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Cộng hòa Ireland 2–1 2–1 Vòng loại Euro 2016
33 13 tháng 11, 2015 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Iceland 3–2 4–2 Giao hữu
34 4–2
35 30 tháng 6, 2016 Sân vận động Vélodrome, Marseille, Pháp  Bồ Đào Nha 1–0 1–1 Euro 2016
36 4 tháng 9, 2016 Astana Arena, Astana, Kazakhstan  Kazakhstan 2–0 2–2 Vòng loại World Cup 2018
37 8 tháng 10, 2016 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Đan Mạch 1–0 3–2 Vòng loại World Cup 2018
38 2–0
39 3–0
40 11 tháng 10, 2016 Sân vận động quốc gia Warszawa, Warsaw, Ba Lan  Armenia 2–1 2–1 Vòng loại World Cup 2018
41 11 tháng 11, 2016 Arena Națională, Bucharest, România  România 2–0 3–0 Vòng loại World Cup 2018
42 3–0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Znicz Pruszków
  • II Liga (1): 2006–07
Lech Poznań
Borussia Dortmund
Bayern München

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vua phá lưới Giải hạng II Ba Lan (1): 2006-07 (15 bàn)
  • Vua phá lưới Giải hạng I Ba Lan (1): 2007-08 (21 bàn)
  • Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá Ba Lan (Ekstraklasa) (1): 2009-10 (18 bàn)
  • Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá Đức (Bundesliga) (1): 2013-14 (20 bàn)
  • Cầu thủ Ba Lan xuất sắc nhất năm (3): 2011, 2012, 2013

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ đầu tiên trong lịch sử Bundesliga vào sân từ ghế dự bị ghi được 5 bàn trong một trận đấu (từ phút 51 đến phút 60).
  • Hat-trick nhanh nhất (5 phút), 4 bàn và 5 bàn nhanh nhất trong lịch sử Bundesliga.[79]
  • Cầu thủ nước ngoài đạt đến cột mốc 100 bàn thắng nhanh nhất lịch sử Bundesliga.[80]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Player profile”. Bayern München. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  2. ^ “The making of Dortmund ace Lewandowski”. UEFA. Ngày 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ Kuna, Tomasz. “.: liga polska” (bằng tiếng Ba Lan). 90minut.pl. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Lewandowski: Từ “cậu ấm” còi xương đến người hùng Champions League”. Dân Trí. Ngày 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ a ă Lesniowski, Piotr (ngày 26 tháng 5 năm 2008). "Kolejorz" walczy o króla”. Gazeta Wyborcza (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ Ceglinski, Lukasz (ngày 11 tháng 9 năm 2008). “Bajka o Robercie Lewandowskim”. Gazeta Wyborcza (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ “Robert Lewandowski brings goals and fortitude to Borussia Dortmund”. The Guardian. Ngày 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ “Dortmund macht Lewandowski-Transfer perfekt”. focus.de (bằng tiếng Đức). Ngày 11 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ “Schalke 04 1–3 Borussia Dortmund”. Goal.com. Ngày 19 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  10. ^ “Robert Lewandowski: Bayern signing 'to give all for Dortmund'. BBC Sports. Ngày 5 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  11. ^ “Borussia Dortmund 4–0 Augsburg: Lewandowski Hat-Trick Seals Emphatic Victory For Defending Champions”. Goal.com. Ngày 1 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  12. ^ “Borussia Dortmund 5–0 Koln: Five-star champions move second in Bundesliga table”. Goal.com. Ngày 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  13. ^ “Gündogan bestraft unaufmerksame Freiburger” (bằng tiếng Đức). Kicker.de. Ngày 17 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  14. ^ “Lewandowski ist Polens Bester” (bằng tiếng Đức). kicker. Ngày 12 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ “Borussia Dortmund 1-0 Bayern Munich: Robben misses late penalty as Lewandowski goal puts hosts on brink of Bundesliga glory”. Goal.com. Ngày 11 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ “Borussia Dortmund 2–0 Borussia Monchengladbach: Perisic and Kagawa trigger celebrations as Jurgen Klopp's men retain Bundesliga crown”. Goal.com. Ngày 21 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ “Borussia Dortmund 4 – 0 SC Freiburg”. Sky Sports. Ngày 5 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  18. ^ “Dortmund complete double”. Sky Sports. Ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  19. ^ “BVB-Torjäger Lewandowski überholt Konietzka” (bằng tiếng Đức). ruhrnachrichten.de. Ngày 17 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ James, Andy (ngày 18 tháng 9 năm 2012). “Dortmund leave it late to defeat Ajax”. UEFA. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ “Borussia Dortmund say Robert Lewandowski will not sign new contract”. Sky Sports. Ngày 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ James, Andy (ngày 24 tháng 4 năm 2013). “Four-goal Lewandowski leaves Madrid reeling”. UEFA. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  23. ^ “Jose Mourinho: Real Madrid made it easy for Robert Lewandowski”. BBC. Ngày 24 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  24. ^ “Borussia Dortmund 1 – 2 Bayern Munich”. BBC. Ngày 25 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  25. ^ “Dortmund prevail over Bayern in Supercup thriller”. bundesliga.com. Ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  26. ^ “Aubameyang hat-trick has Dortmund flying”. Bundesliga. Ngày 10 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  27. ^ “Lewandowski shines as Stuttgart hit for six”. bundesliga.com. Ngày 1 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  28. ^ “Lewandowski najlepszym strzelcem BVB w Europie!” (bằng tiếng Ba Lan). sport.wp.pl. Ngày 25 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  29. ^ “Lewandowski scores 100th goal for Borussia Dortmund”. Polskie Radio. Ngày 16 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  30. ^ “Lewandowski top of the charts as Dortmund thrash Hertha”. Bundesliga. Ngày 10 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  31. ^ “Bayern Munich and Borussia Dortmund set for German Cup final”. BBC Sport. Ngày 16 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  32. ^ “Robert Lewandowski unterschreibt bis 2019”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Ngày 4 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  33. ^ “Robert Lewandowski expects to win many titles as Pole is unveiled at Bayern Munich”. The Daily Mail. Ngày 9 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  34. ^ “Aubameyang köpft BVB zum Supercup-Sieg”. kicker (bằng tiếng Đức). Ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  35. ^ “Bayern Munich denied win as Schalke claim 1–1 draw in Alonso debut”. ESPN FC. PA Sports. Ngày 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014. 
  36. ^ “SC Paderborn 07 0–6 Bayern Mun”. BBC Sport. Ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  37. ^ “Roma 1-7 Bayern Mun”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  38. ^ “Bayern Munich 8-0 Hamburg: Thomas Muller, Arjen Robben, Mario Gotze, Robert Lewandowski and Franck Ribery among the goals as Pep Guardiola's side ran riot at the Allianz Arena”. Mail Online. Ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  39. ^ “SC Paderborn 07 0–6 Bayern Mun”. BBC Sport. Ngày 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2015. 
  40. ^ Begley, Emlyn (ngày 21 tháng 4 năm 2015). “Bayern Mun 6 1 FC Porto”. BBC Sport. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  41. ^ “Bayern Munich: Pep Guardiola's side win 25th Bundesliga title”. BBC Sport. Ngày 26 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  42. ^ “Bayern Mun 1-1 Bor Dortmd”. BBC Sport. Ngày 28 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  43. ^ Jurejko, Jonathan (ngày 12 tháng 5 năm 2015). “Bayern Mun 3 2 Barcelona”. BBC Sport. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  44. ^ “Nottingen 1-3 Bayern Munich: Vidal off the mark in cup win”. Goal.com. Ngày 9 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  45. ^ “Bayern Munich 5-0 Hamburg: Bavarians begin Bundesliga campaign in ominous fashion”. Goal.com. Ngày 14 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  46. ^ “Lewandowski ghi năm bàn trong 9 phút, Bayern đè bẹp Wolfsburg”. Vnexpress. Ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  47. ^ “Bayern striker Robert Lewandowski scores 5 goals in 9 phút”. ESPN FC. Ngày 22 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  48. ^ “Robert Lewandowski đã lập những kỷ lục gì với 5 bàn trong 9 phút vào lưới Wolfsburg?”. Thể thao và Văn hóa. Ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  49. ^ “Robert Lewandowski: More goals in nine phút than Liverpool”. BBC Sport. Ngày 22 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  50. ^ “1. FSV Mainz 05 0–3 Bayern Mun”. BBC Sport. Ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  51. ^ “Bayern Mun 5-0 Dinamo Zagreb”. BBC Sport. 29 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  52. ^ “Bayern Mun 5-1 Bor Dortmd”. BBC Sport. 4 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  53. ^ “FC Ingolstadt 04 1-2 Bayern Munich”. BBC. 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  54. ^ “Bayern Munich 3-1 Hannover 96”. BBC. 14 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  55. ^ “Im zweiten Anlauf: Vidal beschert Bayern den ersten Titel” (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  56. ^ “FC Carl Zeiss Jena 0 5 Bayern Munich”. BBC Sport. 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  57. ^ “Bayern Munich 6-0 SV Werder Bremen”. BBC Sport. 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  58. ^ “FC Schalke 04 0-2 Bayern Munich”. BBC Sport. 9 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  59. ^ “Euro 2012 Player Profiles: Robert Lewandowski”. SBNation.com. Ngày 29 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  60. ^ “Hy Lạp hòa Ba Lan trong trận mở màn kịch tính”. Vnexpress. Ngày 9 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  61. ^ Holyman, Ian (ngày 16 tháng 6 năm 2012). “Czechs through as Poland check out”. UEFA.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  62. ^ O'Henley, Alex (ngày 17 tháng 6 năm 2012). “Over and out for Poland”. UEFA.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  63. ^ Olkowicz, Łukasz; Żelazny, Piotr (ngày 6 tháng 9 năm 2013). “Polska – Czarnogóra 1:1. Futbol po raz kolejny okazał się okrutny” [Poland – Montenegro 1:1. Football has once again proved to be cruel] (bằng tiếng Ba Lan). przegladsportowy.pl. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  64. ^ “Poland’s Robert Lewandowski scores four in seven-goal rout of Gibraltar”. The Guardian. Press Association. Ngày 7 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  65. ^ “Drei Tore von Lewandowski bei Polens 4:0”. Neue Zürcher Zeitung. Ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  66. ^ “Germany 3-1 Poland”. BBC Sport. Ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  67. ^ “Euro 2016 round-up: Portugal extend lead, Poland thump Gibraltar”. The Guardian. Ngày 7 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  68. ^ Lamont, Alasdair (8 tháng 10 năm 2015). “Scotland 2-2 Poland”. BBC Sport. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  69. ^ Koźmiński, Piotr (11 tháng 10 năm 2015). “Lewandowski's latest takes Poland to France”. uefa.com. UEFA. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  70. ^ “Lewandowski equals Healy's scoring record”. UEFA. 12 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  71. ^ “Robert Lewandowski headlines Poland's 23-man Euro 2016 squad”. Sky Sports. 31 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  72. ^ “Ba Lan đi tiếp, Lewandowski vẫn gây thất vọng lớn tại EURO 2016”. VTV.vn. 26 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  73. ^ Brassell, Andy (25 tháng 6 năm 2016). “Poland hold nerve after Switzerland’s Granit Xhaka blazes penalty wide”. The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  74. ^ “Lewandowski ghi bàn nhanh nhất từ đầu Euro 2016”. Vnexpress. 1 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  75. ^ a ă Dawkes, Phil (30 tháng 6 năm 2016). “Poland 1–1 Portugal”. BBC Sport. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  76. ^ “Kazakhstan 2-2 Poland”. Sky Sport. 4 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  77. ^ “Robert Lewandowski”. ESPN FC. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  78. ^ “Robert Lewandowski”. European Football. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2015. 
  79. ^ Reuters (ngày 22 tháng 9 năm 2015). “Soccer-Five-goal Lewandowski nets fastest Bundesliga hat-trick”. yahoo.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2015. 
  80. ^ “Robert Lewandowski: Bayern Munich centurion breaks another record”. CNN. Ngày 16 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]