Wrocław

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Wrocław/Breslau
Quảng trường chính
Quảng trường chính
Hiệu kỳ của Wrocław/Breslau
Hiệu kỳ
Hiệu huy của Wrocław/Breslau
Hiệu huy
Khẩu hiệuWrocław - Miasto spotkań / Wrocław - the meeting place
Wrocław/Breslau trên bản đồ Ba Lan
Wrocław/Breslau
Wrocław/Breslau
Tọa độ: 51°6′28″B 17°2′18″Đ / 51,10778°B 17,03833°Đ / 51.10778; 17.03833
Quốc gia Ba Lan
Voivodeship Dolnośląskie
Hạt thành phố-hạt
Thành lập Thế kỷ 10
Thành phố 1262
Chính quyền
 • Thị trưởng Rafał Dutkiewicz
Diện tích
 • Thành phố 292,82 km2 (11,306 mi2)
Độ cao 111 m (364 ft)
Dân số (2008)
 • Thành phố 691.180
 • Mật độ 24/km2 (61/mi2)
 • Vùng đô thị 1.038.000
Múi giờ CET (UTC+1)
 • Mùa hè (DST) CEST (UTC+2)
Mã bưu chính 50-041 đến 54-612
Thành phố kết nghĩa Vienne, Isère, Q158876[*], Breda, Guadalajara, Jalisco, Hradec Králové, Dresden, Wiesbaden, Kaunas, Charlotte, Bắc Carolina, Lille, Lviv, Ramat Gan, Q181376[*], Skopje sửa dữ liệu
Biển số xe DW
Trang web http://www.wroclaw.pl

Wrocław (['vrɔʦwaf] ; tiếng Đức: Breslau ; tiếng Séc: Vratislav; Latin: Wratislavia hay Vratislavia) là thủ phủ của tỉnh Dolnośląskie ở Tây-Nam Ba Lan, nằm bên sông Odra. Năm 2004, thành phố có dân số vào khoảng 638.000 người. Diện tích 292,9 km2. Đây là thành phố chính của vùng Śląsk và là tỉnh lỵ của tỉnh Dolnośląskie (từ năm 1999). Thành phố cũng là một địa hả-thành phố riêng biệt. Thành phố này từng chịu ảnh hưởng văn hóa của người Bohemia, người Áo và người Phổ, tạo nên nét đặc sắc của nó, khiến cho nó rất được yêu thích.[1]

Wrocław
Quảng trường thành phố.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia Wrocław là của người Ba Lan, nhưng rơi vào tay người Bohemia vào năm 1335. Dưới sự cầm quyền của người Bohemia, thành phố trở nên hưng thịnh và gắn liền với nền văn hóa Vương quốc Ba Lan. Vào thế kỷ 16, Triều đình Bohemia cho dựng thành quách uy nghi ở đây. Dần dần Wrocław trở thành một thành phố của nước Áo thời nhà Habsburg vào năm 1526. Triều đình Áo không mấy khoan dung các thần dân Ba Lan và Tiệp Khắc tại đây. Tên gọi Breslau cũng thông dụng với thành phố này.[1][2][3][4] Khi vị vua - chiến binh Friedrich II Đại Đế nước Phổ khởi binh đánh Áo, ông thân hành kéo đại binh vào thành Breslau vào ngày 7 tháng 1 năm 1741. Với những kẻ bị chinh phạt, nhà vua tỏ ra ân cần và do đó họ làm lễ tiệc linh đình để tuyên thệ trung thành với ông.[5]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Wrocław (1963–2011)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 15.3 19.7 25.0 27.1 32.4 34.5 37.1 37.4 32.0 26.6 22.0 19.0 37,4
Trung bình cao °C (°F) 2.2 3.7 8.5 14.0 19.4 22.2 24.1 24.0 19.4 13.8 7.6 3.4 13,6
Trung bình ngày, °C (°F) −0.8 0.1 3.9 8.6 13.8 16.8 18.6 18.2 14.0 9.1 4.1 0.5 9,0
Trung bình thấp, °C (°F) −4.4 −3.8 −0.6 2.8 7.5 10.9 12.7 12.2 8.7 4.4 0.5 −2.8 4,1
Thấp kỉ lục, °C (°F) −30 −27.2 −23.9 −8 −3 −2.7 1.0 1.5 −2 −9.3 −18.2 −21.7 −30
Giáng thủy mm (inches) 25.1
(0.988)
23.6
(0.929)
32.8
(1.291)
30.9
(1.217)
46.4
(1.827)
74.6
(2.937)
100.1
(3.941)
53.9
(2.122)
54.3
(2.138)
40.9
(1.61)
33.8
(1.331)
34.1
(1.343)
550,5
(21,673)
độ ẩm 84.2 81.1 76.0 67.0 69.1 68.6 70.7 71.9 76.5 81.5 85.4 85.5 76,5
Số ngày giáng thủy TB 21.3 18.9 17.9 11.9 12.9 13.8 15.2 11.6 11.2 14.1 15.8 20.1 184,7
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 49 65 107 142 198 194 205 197 139 108 52 39 1.495
Nguồn #1: Climatebase.ru[6]
Nguồn #2: NOAA (nắng, 1961–1990)[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Neal Bedford, Poland, trang 313
  2. ^ Norman Davies, Heart of Europe: a short history of Poland, trang 487
  3. ^ Norman Davies, Europe: a history, trang 622
  4. ^ Norman Davies, Heart of Europe: a short history of Poland, trang 487
  5. ^ Franz Kugler, The pictorial history of Germany: during the reign of Frederick the Great: comprehending a complete history of the Silesian campaigns, and the seven years war, các trang 168-169.
  6. ^ “Wroclaw Climate Normals” (bằng Tiếng Anh). Climatebase.ru. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015. 
  7. ^ “Wroclaw Climate Normals 1961–1990” (bằng Tiếng Anh). National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015.