Gia tộc Habsburg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Họ Habsburg)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Gia tộc Habsburg
Coat of arms of the House of Habsburg.png
Quốc giaĐại Công quốc Áo, Đế quốc La Mã Thần thánh, Vương quốc Đức, Tây Ban Nha-Vương quốc Ý, Vương quốc Hungary-Croatia, Vương quốc Sicilia, Bohemia, Anh-Ireland (Jure uxoris), Portugal, BosniaSlovenia
Danh hiệu
Sáng lậpThế kỉ 12 - Otto II, Bá tước Habsburg
Giải thểTây Ban Nha:
1700 - Carlos II chết Áo và Bohemia:
1780 - Maria Theresa, là thành viên cuối cùng, đã chết và kế tục bởi con trai bà của Nhà Lorraine
Dân tộcÁo, Catalan-Castilia, Bồ Đào Nha
Cadet branches
Cờ của hoàng tộc Habsburg
Huy hiệu của hoàng tộc Habsburg
Lâu đài Habsburg nguyên thủy, nơi phát tích gia tộc Habsburg, nay thuộc Thụy Sĩ

Gia tộc Habsburg là một hoàng tộc có ảnh hưởng và nổi bật nhất châu Âu. Ngôi vị Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần Thánh liên tục nằm trong tay người nhà Habsburg từ năm 1440 cho đến khi họ không còn dòng nam kế vị từ năm 1740 và lại tiếp tục giữ ngôi vị hoàng đế sau cái chết của Hoàng đế Franz I từ năm 1765 cho đến khi Đế chế La Mã Thần Thánh bị giải thế vào năm 1806.

Hoàng tộc Habsburg cũng là vua của Bohemia, Hungary, Croatia, Galicia, Bồ Đào NhaTây Ban Nha. Họ cũng là các nhà cai trị của một số vương quốc ở Hà LanÝ, là hoàng đế của Đế quốc Áo, Áo - Hung và Mexico. Từ thế kỷ XVI, sau triều đại của Karl V, hoàng tộc Habsburg bị chia cắt giữa các nhánh Áo và Tây Ban Nha. Mặc dù họ cai trị các vùng lãnh thổ khác nhau nhưng vẫn duy trì quan hệ gần gũi và thường xuyên kết hôn với nhau bao gồm nhà Braganza của Pedro I, Hoàng đế đầu tiên của Brazil và nhà Habsburg của vợ ông, Hoàng hậu Maria Leopoldina.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tộc này được lấy theo tên của Lâu đài Habsburg, một pháo đài được xây dựng vào những năm 1020 thuộc bang Aargau (Thuỵ Sĩ ngày nay). Bá tước Radbot xứ Klettgau đã đặt tên cho pháo đài của mình là Habsburg. Cháu trai của ông là Otto II là người đầu tiên lấy tên của pháo đài làm tên riêng của mình và thêm cụm từ “Bá tước Habsburg” vào tước phong của mình. Năm 1273, hậu duệ thứ 7 của Bá tước Radbot là Rudolph đã trở thành Hoàng đế của Đế chế La Mã Thần thánh. Ông đã chuyển trung tâm quyền lực của Hoàng gia Habsburg đến Công quốc Áo, nơi mà Nhà Habsburg cai trị cho đến năm 1918.

Một loạt các cuộc hôn nhân của người thuộc Hoàng tộc Habsburg với các hoàng gia khác đã giúp dòng họ này mở rộng phạm vi rộng lớn bao gồm Burgundy, Tây Ban Nha và đế chế thuộc địa của nó, Bohemia, Hungary và các lãnh thổ khác. Vào thế kỷ 16, gia đình này tách ra thành các nhánh Habsburg của Tây Ban Nha là dòng chính và nhánh Habsburg của Áo là dòng phụ.

Hoàng tộc Habsburg tuyệt chủng dòng nam vào thế kỷ XVII, nhánh Habsburg Tây Ban Nha tuyệt dòng nam sau cái chết của vua Charles II vào năm 1700 và được thay thế bởi Nhà Bourbon. Nhánh Habsburg của Áo tuyệt chủng dòng nam voà năm 1740, sau cái chết của Hoàng đế La Mã Thần thánh Charles VI. Dòng này được kế thừa bởi con cháu của Maria Theresa (con gái lớn của Charles VI) khi bà kết hôn với Francis III – Công tước của Lorraine và Hoàng tộc này được gọi là Nhà Habsburg – Lorraine.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhà Habsburg là nơi phản đối kịch liệt Chủ nghĩa xã hội quốc gia và Chủ nghĩa cộng sản. Ở Đức, Adolf Hitler phản đối các nguyên tắc của Nhà Habsburg trong hàng thế kỷ trước đó về việc cho phép các cộng đồng địa phương dưới sự cai trị của họ duy trì các văn hoá dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ truyền thống, và ông ta mang trong mình lòng căm thù với gia đình Habsburg. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, có một phong trào kháng chiến Habsburg mạnh mẽ ở Trung Âu, đã bị khủng bố triệt để bởi Đức Quốc xã và Gestapo. Lãnh đạo không chính thức của các nhóm này là Otto von Habsburg, người đã vận động chống lại Đức Quốc xã và cho một Trung Âu tự do ở Pháp và Mỹ. Hầu hết các chiến binh kháng chiến, chẳng hạn như Heinrich Maier, người đã chuyển giao thành công địa điểm sản xuất và kế hoạch về tên lửa V-2, xe tăng Tiger và máy bay cho Đồng minh, đã được thực hiện. Gia đình Habsburg đóng vai trò hàng đầu trong sự sụp đổ của Bức màn sắt và sự sụp đổ của Khối Cộng sản Đông Âu.

Đế chế Habsburg có lợi thế về quy mô, nhưng cũng có nhiều nhược điểm. Có đối thủ ở 4 phía, tài chính không ổn định, dân số gồm nhiều nhiều sắc tộc và cơ sở công nghiệp mỏng. Nguồn lực hải quân của nó hạn chế nên nó đã không cố gắng xây dựng một đế chế ở nước ngoài. Nó có lợi thế về các nhà ngoại giao giỏi, điển hình là Hoàng tử Metternich; họ có một chiến lược vĩ đại để tồn tại giúp đế chế tiếp tục tồn tại bất chấp các cuộc chiến tranh với Ottoman, Frederick Đại đế, NapoléonBismarck, cho đến thảm họa cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cùng với triều đại Capetian, hoàng tộc đối địch truyền thống của Nhà Habsburg, nó là một trong hai triều đại hoàng gia châu Âu lâu đời nhất và cũng là một trong những triều đại hùng mạnh nhất, đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị châu Âu trong gần 5 thế kỷ.

Vua La Mã và sự hợp nhất lãnh thổ ở Đông Alps[sửa | sửa mã nguồn]

Vào nửa sau thế kỷ XIII, hậu duệ thứ 7 của Bá tước Radbot là Bà tước Rudolph IV (1218 - 1291), đã trở thành một trong những lãnh chúa có ảnh hưởng nhất đến lãnh thổ ở khu vực giữa Dãy núi VosgesHồ Constance, do điều này nên ngày 01/10/1273, Rudolph được bầu chọn làm Vua của Đế chế La Mã với đế hiệu là Rudolph I.

Một bước đi quan trọng hướng đến việc thiết lập một lãnh thổ quyền lực của riêng mình ở Đông Alps, Rudolph đã dẫn đầu liên minh chống lại vua Ottokar II của Bohemia, người đã lợi dụng Great Interregnum để mở rộng lãnh thổ về phía Nam, trước tiên chiếm lấy Babenberg (Áo, Styria, Savinja) và sau đó thừa kế Spanheim (CarinthiaCarniola). Năm 1278, Ottokar bị đánh bại và bị giết trong Trận Marchfeld. Các vùng đất mà ông đã có trong những thập kỷ trước được nhập vào Đế chế La Mã Thần thánh. Năm 1282, Nhà Habsburg giành được cho mình quyền cai trị các Công quốc Áo và Styria liên tục trong hơn 600 năm, cho đến năm 1918. Các lãnh thổ phía Nam của vương quốc cũ của Ottokar gồm Carinthia, Carniola và Savinja được ông trao cho các đồng minh của mình.

Sau cái chết của Rudolph, Nhà Habsburg không thể duy trì vương quyền trong Đế chế. Trong những năm 1300, họ đã nỗ lực giành lấy vương quốc Bohemia, nhưng thất bại. Tuy nhiên, sự suy yếu của Nhà Gorizia trong cuộc chiến tranh giành quyền kế vị đã cho phép người Nhà Habsburg mở rộng lãnh thổ về phía Nam: Năm 1311, họ chiếm Savinja và sau cái chết của Henry của Bohemia năm 1335, họ chiếm CarniolaCarinthia. Năm 1369, họ nắm quyền Tyrol. Sau cái chết của Albert III của Gorizia năm 1374, họ giành được chỗ đứng đầu tiên tại vùng Biển Adriatic, ở trung tâm Istria (Mitterburg), và năm 1382 họ giành được Trieste. Trong khi đó, các lãnh thổ phát tích Nhà Habsburg ở Aargau, Thuỵ Sĩ đã mất vào tay của Liên minh Thuỵ Sĩ vào thế kỷ XIV.

Thông qua cuộc hôn nhân với Elisabeth của Luxembourg, con gái của Sigismund của Thánh chế La Mã vào năm 1437, Công tước Albert V (1397 - 1439) trở thành người cai trị BohemiaHungary. Năm sau, Albert V được bầu lên làm Hoàng đế của Thánh chế La Mã với đế hiệu là Albert II. Sau cái chết của ông trong cuộc chiến với người Ottoman năm 1439 và cái chết của con trai ông là Ladislaus Postumus năm 1457, Nhà Habsburg lại mất Bohemia và Hungary. Tuy mất quyền kiểm soát vùng lãnh thổ này trong nhiều thập kỷ, nhưng thông qua sự tuyệt tự dòng nam của Nhà Celje vào năm 1456 và Nhà Wallsee-Enns vào năm 1466/1483, người Nhà Habsburg đã nắm quyền thế tục các lãnh thổ rộng lớn của mình và tạo ra một vùng rộng lớn. Với cái chết của Ladislaus vào năm 1457, dòng Habsburg Albertine tuyệt diệt dần, và dòng Habsburg Leopoldian tiếp quản tất cả các tài sản của Hoàng tộc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Biographische Nachschlagewerke
  • Brigitte Hamann (Hrsg.): Die Habsburger. Ein biographisches Lexikon. Wien/München 1996 (3. Auflage).
  • Richard Reifenscheid: Die Habsburger in Lebensbildern. Von Rudolf I. bis Karl I. Wien 1990 (4. Auflage).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]