Công quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Công quốc (tiếng Latinh: ducatus, tiếng Anh: duchy, dukedom) là khu vực đất đai (một nước nhỏ[1]) do một công tước hoặc nữ công tước sở hữu và kiểm soát.[2] Lịch sử châu Âu trong nhiều thế kỷ đã chứng kiến sự ra đời và tiêu vong của nhiều công quốc.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Thời La Mã cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Tước vị "công tước" có nguồn gốc từ thời Đế quốc La Mã, trong tiếng Latinh được viết là dux (số nhiều: duces). Tận đến thế kỷ 3 thì dux mới chính thức trở thành cấp bậc cụ thể trong hệ thống cấp bậc La Mã, còn trước đó nó chỉ là một từ được dùng để chỉ một người huấn luyện quân sự hoặc vị chỉ huy quân sự. Những cải cách quân sự dưới thời DiocletianusConstantinus đã giao công tác phòng thủ biên giới cho các dân quân địa phương, đặt dưới quyền hành của dux. Phạm vi lãnh trách nhiệm của dux có thể vượt quá một tỉnh và đôi khi là rất rộng lớn.[3] Khi quản lý dân sự và quản lý quân sự được tách biệt vào thế kỷ 4 và 5, dux (đảm trách phòng thủ các tỉnh biên cương) càng trở nên quan trọng, mở rộng sang quản lý dân sự và tư pháp.[Ghi chú 1]

Thời Francia[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Francia (Vương quốc Frank), đất nước được cấu thành từ các lãnh thổ giống với công quốc. Nạn xâm lăng của những tộc người man thực sự đã khiến hầu hết các dux giành được quyền tự chủ. Các thủ lĩnh người man chấp nhận tước vị do La Mã ban và tiếp tục giữ tước vị này cả sau khi Đế quốc Tây La Mã tan rã. Từ thế kỷ 6-7, công tước là nhà lãnh đạo cao nhất của cả vùng, đóng vai trò quan trọng trong sự định hình cấu trúc Francia.[4] Một số công quốc như thế là Công quốc Bayern và Công quốc Alemanni.

Xét về tính chất quyền lực quân sự và tư pháp đối với một nhóm các lãnh địa bá tước, Công tước có quyền hạn tương tự một vị toàn quyền nhân danh quốc chủ. Chẳng hạn, Công quốc Maine (tiếng Latinh: Ducatus Cenomannicus hoặc Cenomannensis) quản hạt 12 lãnh địa bá tước nằm giữa hai con sông SeineLoire.

Các công quốc trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời Tây Chu có một số công quốc như Tống, Quắc, ChâuNgu.

Tại Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc đầu tiên ở Anh xuất hiện vào thời kỳ nhà Plantagenet. Thân vương xứ Wales cũng là người đứng đầu Công quốc Cornwall.

Tại Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ 10, Frank Đông dưới thời Liudolfinger được cấu thành từ năm công quốc, gồm Công quốc Lotharingia (trước đó là Vương quốc Lothair II) và bốn công quốc quốc gia (mỗi công quốc này đại diện cho một quốc gia của người German) là Công quốc Sachsen (người Sachsen), Công quốc Franken (người Frank), Công quốc Schwaben (người Alemanni) và Công quốc Bayern (người Baiern).

Năm 977, Công quốc Lotharingia bị phân thành Công quốc Thượng LotharingiaCông quốc Hạ Lotharingia. Năm 1101, Bá tước xứ LimburgHenry I được phong cho đất Hạ Lotharingia và cai trị đất này đến năm 1106. Tuy vậy, ông và các hậu duệ vẫn được gọi là Công tước.

Năm 1011, mark Carinthia được nâng làm công quốc.

Năm 1041, Công quốc Bohemia trở thành đất phong của Đế quốc La Mã Thần thánh. Năm 1156, Áo được nâng làm công quốc.

Năm 1180, Heinrich Sư tử bị lật đổ. Hoàng đế La Mã Thần thánh cắt đất từ các công quốc trước đây do Heinrich Sư tử cai trị để nâng thành các công quốc mới: Công quốc Steiermark tách khỏi Công quốc Bayern, Công quốc Pommern tách khỏi Công quốc Sachsen, một phần phía nam Công quốc Sachsen trở thành một phần của Công quốc Westfalen. Công quốc Sachsen vẫn tồn tại song lãnh thổ chỉ bằng một phần nhỏ trước đó và được ban cho Bá tước Bernhard xứ Anhalt.

Năm 1190, tước vị Công tước Hạ Lotharingia được phong cho Công tước xứ Brabant. Công quốc Hạ Lotharingia mất quyền cai trị lãnh thổ của mình.

Năm 1235, Công quốc Braunschweig-Lüneburg được thành lập.

Năm 1260, Công quốc Sachsen bị chia thành hai công quốc là Sachsen-LauenburgSachsen-Wittenberg.

Năm 1339, Lãnh địa bá tước Geldern được nâng thành công quốc. Về sau, công quốc này bị phân thành các công quốc nhỏ: Mecklenburg-Schwerin, Mecklenburg-GüstrowMecklenburg-Strelitz. Lần lượt trong các năm 1354, 1355, 1356, 1380 và 1417, các lãnh địa bá tước gồm Lãnh địa bá tước Bar, Lãnh địa bá tước Luxembourg, Lãnh địa bá tước Jülich, Lãnh địa bá tước BergLãnh địa bá tước Kleve được nâng thành công quốc.

Năm 1442, Công quốc Sachsen-Wittenberg, Lãnh địa bá tước MeißenThüringen cùng nhau hợp thành Công quốc Sachsen mới. Về sau, công quốc này lại bị chia thành nhiều công quốc nhỏ: Sachsen-Eisenach, Sachsen-Coburg, Sachsen-Weimar, Sachsen-Gotha, Sachsen-Coburg-Eisenach, Sachsen-Altenburg,...

Năm 1474, Lãnh địa bá tước Holstein được nâng thành công quốc, tương tự cho Lãnh địa bá tước Württemberg vào năm 1495.

Năm 1505, Công quốc Pfalz-Neuburg được thành lập.

Năm 1644, Thân vương quốc Aremberg được nâng làm công quốc.

Năm 1774, Lãnh địa bá tước Oldenburg được nâng thành công quốc.

Năm 1806, Napoléon lập các công quốc: Nassau, Anhalt-Bernburg, Anhalt-DessauAnhalt-Köthen.

Tại Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Các mark và lãnh thổ chính nằm dưới quyền công tước tại Pháp hình thành vào thời kỳ Karolinger, sau trở thành đất phong nằm dưới quyền của nhà vua trong thế kỷ 9, nhưng sang thế kỷ 10 thì càng ngày các công tước càng thu được nhiều quyền tự trị hơn. Louis V băng hà năm 987 mà không nắm trong tay bất kỳ công quốc nào.

Vào thế kỷ 11, tại Pháp có các công quốc là: Công quốc Aquitaine (sau đổi thành Công quốc Guyenne), Công quốc Bourgogne, Công quốc FranceCông quốc Normandie. Đến thế kỷ 14, các vùng đất phong được nâng lên cấp công quốc khi được ban làm thái ấp cho các hoàng tử Pháp. Các công quốc đó là: Công quốc Alençon, Công quốc Anjou, Công quốc Berry, Công quốc Bourbonnais, Công quốc Orléans, Công quốc Valois.

Thế kỷ 16, nhiều lãnh địa bá tước và trang viên của những công thần trung thành với nhà vua Pháp được nâng làm công quốc. Một trong các công quốc cổ nhất thuộc loại này là Công quốc Uzès.

Từ thế kỷ 17, rất nhiều lãnh thổ ở Pháp được phong làm công quốc. Về mặt lãnh thổ, Cách mạng 1789 xóa bỏ tất cả các công quốc ở Pháp, chỉ còn sót lại tước vị Công tước xứ Normandy (lãnh thổ là phần hải đảo quần đảo Eo Biển, thuộc địa Hoàng gia Anh) hiện vẫn tồn tại trên danh nghĩa, hiện do Nữ hoàng Elizabeth II của Anh Quốc nắm.

Ghi chú rằng Công quốc Lorraine và Công quốc Bar nhập vào Pháp vào năm 1766, còn Công quốc Savoy nhập vào năm 1860. Đại diện của các công quốc này tại triều đình Pháp từng được xem là thuộc triều đình ngoại bang.

Tại Ý[sửa | sửa mã nguồn]

Khi người Lombard xâm chiếm Ý, họ chia đất nước thành các công quốc để quản lý. Nhiều công quốc được lập ra ở Bắc Ý (Friuli, Ceneda, Treviso, Vicenza, Verona, Trento, Parma, Persiceto, Reggio, Piacenza, Brescia, Bergamo, San Giulio, Pavia, Turin, Asti, Tuscia, Milan và Ivrea), sau bị người Frank xóa bỏ trong cuộc xâm lược năm 774 hoặc chuyển thành các lãnh địa bá tước như mô hình hành chính Đế quốc Karolinger. Ở Nam Ý, người Lombard chỉ lập có hai công quốc song phạm vi quản hạt rất rộng lớn, đó là Công quốc Spoleto và Công quốc Benevento. Chúng bị người Norman xâm chiếm năm 1053. Năm 1198, Công quốc Spoleto bị sáp nhập vào Lãnh thổ Giáo hoàng.

Thế kỷ 8, các thành thị thương mại thuộc Đế quốc Đông La Mã được tổ chức thành các công quốc tự trị, gồm Công quốc Amalfi, Công quốc Sorrento, Công quốc Napoli, Công quốc Gaeta và đặc biệt là Công quốc Venezia (sau trở thành Cộng hòa Venezia).

Từ năm 1395 trở đi, các trang viên ở Bắc Ý được Hoàng đế La Mã Thần thánh hoặc Giáo hoàng phong tước công, khiến ngày càng có nhiều công quốc được thành lập. Các công quốc được lập năm 1395 là: Công quốc Milan, Công quốc Mantua, Công quốc Lucca, Công quốc Parma, Công quốc Massa và Carrara, Công quốc Urbino, Công quốc CamerinoCông quốc Castro. Lưu ý Công quốc Savoy có quyền quản hạt cả Piemonte. Ở Nam Ý, Giáo hoàng cùng với các vua của Napoli và Sicily dùng tước công như tước vị quý tộc hàng thứ hai, xếp sau thân vương: Công quốc Galliera, Công quốc GenoaCông quốc Sora.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dux là người đứng đầu cả về hành chính, tư pháp và quân sự ở tỉnh mà họ được giao quản lý. Cũng như comes ("bá tước"), dux là cấp dưới của magister militum (lãnh đạo dân quân).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mitchell, Samuel Augustus (1871). A System of Modern Geography: Physical, Political, and Descriptive: Accompanied by a New Atlas of Forty-four Copperplate Maps, and Illustrated by Two Hundred Engravings (bằng tiếng Anh). E. H. Butler & Company. tr. 40 (xem). 
  2. ^ Hornby, A S (2005). Oxford Advanced Learner's Dictionary (bằng tiếng Anh) (ấn bản 7). Oxford University Press. tr. 453. ISBN 978-0-19-4316583. 
  3. ^ Werner, Karl Ferdinand (2012). Naissance de la noblesse, Nhà xuất bản Pluriel, tr. 423.
  4. ^ Werner 2012, tr. 429