Friedrich II của Phổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại Đế Friedrich II
Friedrich II., der Große
Quốc vương nước Phổ
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
Frederic II de prusse.jpg
Vua Friedrich II Đại Đế qua nét vẽ của họa sĩ cung đình Phổ Antoine Pesne (1683 - 1757), khoảng năm 1750.
Vua nhà Hohenzollern[1]
Trị vì 31/5/174017/8/1786
(46 năm, 18 ngày)
Tiền nhiệm Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thủ tướng Bá tước Heinrich von Podewils
Georg Dietlof von Arnim-Boitzenburg
Bá tước Karl-Wilhelm Finck von Finckenstein
Friedrich Anton von Heinitz
Kế nhiệm Friedrich Wilhelm II Vua hoặc hoàng đế
Bá tước xứ Ostfriesland
Trị vì 1744 – 1786
Tiền nhiệm Charles Edzard (Nhà Cirksena)
Kế nhiệm Không có
Thông tin chung
Hoàng hậu
Tình nhân (?)
Hậu duệ
Tên thật Friedrich von Hohenzollern
Tước vị
Triều đại Nhà Hohenzollern
Thân phụ Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Sophia Dorothea xứ Hannover
Sinh 24 tháng 1, 1712(1712-01-24)
Berlin, Phổ
Mất 17 tháng 8, 1786 (74 tuổi)
Potsdam, Phổ
An táng 17 tháng 8 năm 1991 (lần cuối)Nhà thờ Công sự, Potsdam
Nhà thờ Elisabeth, Marburg
Lâu đài Hohenzollern (gần thị trấn Hechingen)
Sanssouci, Potsdam, Đức
Nghề nghiệp Đại tá của Trung đoàn von der Goltz
Nhà triết học khu Sanssouci
Tôn giáo Kháng Cách
Hoàng gia Phổ
Nhà Hohenzollern
Wappen Deutsches Reich - Königreich Preussen (Grosses).png

Friedrich I (1701-1713)
Con cái
   Công chúa Louise Dorothea
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
Friedrich Wilhelm I (1713-1740)
Con cái
   Công chúa Wilhelmine
   Hoàng tử Friedrich
   Công chúa Friederike Luise
   Công chúa Philippine Charlotte
   Công chúa Sophia Dorothea
   Công chúa Louisa Ulrika
   Hoàng tử August Wilhelm
   Công chúa Anna Amalia
   Hoàng tử Heinrich
   Hoàng tử Ferdinand
Friedrich II (Đại đế, 1740-1786)
Friedrich Wilhelm II (1786-1797)
Con cái
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Ludwig
   Công chúa Wilhelmine
   Công chúa Augusta
   Hoàng tử Karl
   Hoàng tử Wilhelm
Friedrich Wilhelm III (1797-1840)
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Wilhelm
   Công chúa Charlotte
   Công chúa Alexandrine
   Hoàng tử Karl
   Công chúa Louise
   Hoàng tử Albrecht
Friedrich Wilhelm IV (1840-1861)

Friedrich II (24 tháng 1 năm 171217 tháng 8 năm 1786) là vua nước Phổ, trị vì từ ngày 31 tháng 5 năm 1740 đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1786.[5] Trên cương vị Tuyển hầu tước (tiếng Đức: Kurfüst) của đế quốc La Mã Thần thánh, ông có tên gọi là Friedrich IV xứ Brandenburg. Ông cũng kiêm luôn chức Vương công xứ Neuchâtel trong liên minh cá nhân. Ông được mệnh danh là Friedrich Đại Đế (tiếng Đức: Friedrich der Große).

Friedrich đã châm ngòi những cuộc chiến tranh Silesia (một phần của Chiến tranh Kế vị Áo), tiến công đế quốc Áo của Nữ hoàng nhà Habsburg và chiếm tỉnh Silesia về tay Phổ. Sau đó, Friedrich phải chống chọi với liên miny Nga, Áo, Pháp, Thụy Điển trong cuộc chiến tranh Bảy năm, ông suýt thua nhưng cuối cùng đã giữ được vương quốc.Đến lúc cuối đời, Friedrich đã xây dựng quân đội mạnh và thống nhất các vùng lãnh thổ của đất nước, vào năm 1772 cùng với các Nữ hoàng Áo và Nga tiến hành xâm chiếm và chia cắt lãnh thổ Liên bang Ba LanLitva. Friedrich cũng là một nghệ sĩ, một trong những vị vua theo chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế tại lục địa châu Âu vào thế kỷ XVIII.[6] Friedrich ủng hộ những luận điểm của đường lối triết học đó và áp dụng triệt để những lý luận trên trong công cuộc trị quốc. Ông còn tiến hành canh tân bộ máy triều đình Phổ, thực hiện không ít cải cách về dân sự, xã hội và kinh tế, bãi bỏ hình phạt tra tấn, và ủng hộ việc dỡ bỏ rào cản tôn giáo trong toàn bộ vương quốc mình.

Sau khi qua đời, Đại đế Friedrich II được an nghỉ ở Sanssouci, thành phố Potsdam, chỗ ngự mà ông đặc biệt ưa thích. Sinh thời, ông đã cho xây dựng nhiều công trình công viên Sanssouci (tiếng Pháp là thoát khỏi sự phiền muộn), trong số đó cung điện Sanssouci (Điện Vô Ưu) là nổi bật hơn cả. Việc xây cất này cho thấy nhà vua yêu thiên nhiên và mong muốn con người và thiên nhiên hòa hợp với nhau. Do không có con nối dõi, Đại đế Friedrich II truyền ngôi Quốc vương cho người cháu gọi ông bằng bác là Friedrich Wilhelm II - con trai thứ hai của Hoàng thái đệ August Wilhelm em trai ruột ông.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 1 năm 1712, Friedrich chào đời tại kinh thành Berlin, được đặt tên thánh là Karl Friedrich.[7] Ông là con của vua Phổ Friedrich Wilhelm I (1668 – 1740) và Hoàng hậu Sophia Dorothea xứ Hanover (1687 – 1757) - con gái vua Anh-Tuyển hầu tước xứ Hanover George I. Friedrich có tổng cộng là 14 anh chị em, nhưng trong số đó chỉ 10 người sống đến tuổi trưởng thành.[8]

Lúc ông ra đời, nước Phổ nằm dưới quyền thống trị của ông nội ông - Quốc vương Friedrich I. Trước kia, Friedrich I có hai người cháu chết yểu, vì vậy, nhà vua đặt nhiều hy vọng vào Friedrich. Chính vị vua này dùng cái tên của chính mình để đặt cho cháu nội, cũng hàm ý muốn đứa cháu này kế thừa Vương quốc Phổ - Brandenburg.[9] Bản thân Friedrich cũng là một đứa bé khỏe mạnh.[10] Vào ngày 31 tháng 1 năm 1712, khi ông được một tháng tuổi, vị Hoàng tôn được làm lễ rửa tội, cái tên "Karl" không được đặt và Friedrich trở thành tên chính thức của ông.[11]

Sự giáo dục và những bất hòa với vua cha[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Friedrich Wilhelm I, Hoàng hậu Sophia cùng Thái tử Friedrich và Hoàng tử August Wilhelm.

Vua Friedrich Wilhelm I mong muốn các con của mình sẽ được dạy dỗ khác với những Vương gia quyền quý trong Hoàng gia Phổ - Brandenburg, nhưng giống như những người bình dân. Trước đây, Friedrich Wilhelm từng được dạy dỗ bởi một phụ nữ Huguenot chỉ nói tiếng Pháp tên là Madame de Montbail, tức Madame de Rocoulle sau này, và Friedrich Wilhelm I mong muốn bà sẽ tiếp tục giáo dục các con của nhà vua. Hoàng tử Friedrich được các gia sư Huguenot giáo dục, và ông vừa học tiếng Pháp vừa học tiếng Đức. Nhà vua cho các thầy cô dạy Hoàng tử từ 6h sáng đến 22h30 tối.[12] Mặc dù vua Friedrich Wilhelm I có khẩu dụ rằng giáo dục chỉ hoàn toàn mang màu sắc tôn giáo và thực dụng song với sự giúp đỡ của thầy Jacques Duhan Hoàng tử Friedrich đã có được ba nghìn cuốn sách nói về thơ phú, văn học cổ điển Hy Lạp - La Mã, và triết học Pháp để bổ sung kiến thức sau những khóa học chính của ông.[13] Friedrich từ nhỏ đã sống gần mẹ nên chịu ảnh hưởng nhiều từ bà về văn học và nghệ thuật.

Friedrich rất ham đọc sách và thường lén vua cha tìm mua các loại sách vở đến mức phải bị mắc nợ. Về phía mình, vua Friedrich Wilhem I không muốn con trai của mình học văn chương vì sợ ông tiêm nhiễm phải sự nhu nhược. Nhà vua từng cầm gậy đánh của vị thầy dạy tiếng La Tinh cho Friedrich và sau đó đánh cả con trai mình vì tội dám học "tiếng nói của loài chim". Điều này đã khiến mối quan hệ giữa Friedrich và vua cha bị rạn nứt trong một thời gian dài.[14][15] Quốc vương Friedrich Wilhelm I cũng giao cho Hoàng tử Friedrich (Fritz) một Trung đoàn gồm 100 cậu bé, để Fritz huấn lệnh. Ông được ban cho một bộ quân phục một xanh da trời, và chiếc mũ ba sừng của Quân đội Phổ.[16] Ông Macaulay từng nhận định:[17]

Dù Friedrich Wilhelm I được nuôi dạy thành một tín đồ sùng đạo của thần học Calvin, nhà vua lo sợ rằng mình sẽ không được Thiên Chúa chọn lên Thiên đường. Để Friedrich khỏi phải suy nghĩ như vậy, nhà vua ra lệnh cho các thầy không dạy thuyết thiên định cho Thái tử. Bất chấp lệnh này, Friedrich von Hohenzollern đã thừa nhận thuyết thiên định, dù là một người không trọng tín ngưỡng. Một số học giả cho rằng, Hoàng thái tử đã cố tình làm trái ý với vua cha.[18]

Không những thân thiết với mẹ,[19] Hoàng tử Friedrich còn trở nên thân thiết với người chị ruột là Friederike Sophie Wilhelmine - người bạn thân của ông trong suốt đời. Năm 16 tuổi, Friedrich lại kết bạn với người lính hầu 13 tuổi của vua cha là Peter Karl Christoph Keith. Theo lời kể của Công chúa Wilhelmina, tình bạn giữa Friedrich và Peter Keith sớm trở nên gắn bó:

Hai cuộc hôn nhân bất thành[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Friedrich lúc ba tuổi cùng chị gái 6 tuổi là Wilhelmina, tranh của Antoine Pesne.

Đầu năm 1730, Hoàng hậu Sophia Dorothea - vốn là người có quan hệ huyết thống với Hoàng gia Anh Quốc[21] - cố gắng dàn xếp cuộc hôn nhân kép giữa Thái tử Friedrich và Công chúa Wilhelmina với các con của vua Anh Quốc George II: Công chúa Amelia và anh trai là Thái tử Frederick. Sophia Dorothea xem hai cuộc hôn nhân này là "toàn thiện toàn mỹ".[21]

Tuy nhiên, lo sợ về một liên minh giữa hai nước Phổ và Anh, Thống chế von Seckendorff - đại sứ Áo ở kinh thành Berlin, đã lần lượt đút lót Thống chế von Grumbkow và Benjamin Reichenbach - Bộ trưởng Chiến tranh Phổ và viên Đại sứ Phổ ở Luân Đôn. Cặp đôi này đã thận trọng phỉ báng Triều đình Anh với vua Phổ cũng như phỉ báng Triều đình Phổ với vua Anh. Đồng thời, vua Friedrich Wilhelm I cũng lo sợ thế lực của Đế quốc Anh sẽ vươn tới nội địa nước Phổ - Bradendenburg, nhất là sau khi Tuyển hầu tước George Louis của xứ Hanover lên nối ngôi vua Anh.[21]

Tức giận vì ý tưởng của Thái tử Friedrich bất lực được người Anh rất đề cao, vua Friedrich Wilhelm I đã yêu cầu người Anh những điều mà họ không thể làm được, chẳng hạn như nhượng cho nhà vua nước Phổ các xứ JülichBerg - đòi hỏi đã dẫn tới sự tan vỡ của dự định hôn nhân.[22]

Âm mưu trốn chạy bất thành[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Friedrich Wilhem I lại có ý định khác về vấn đề hôn nhân của con trai mình. Nhà vua có ý định gả Hoàng thái tử Friedrich cho Elisabeth xứ Mecklenburg-Schwerin (cháu gái của Nữ hoàng Nga là Anna). Tuy nhiên, Vương công Eugène xứ Savoie (François-Eugène de Savoie-Carignan) phản đối kịch liệt ý đồ này. Bản thân Friedrich muốn cưới Maria Theresia (con gái của Hoàng đế La Mã Thần thánh), đổi lại ông mất quyền kế vị. Tuy nhiên, Vương công Eugène thuyết phục nhà vua gả Friedrich cho Quận chúa Elisabeth Christine xứ Brunswick-Bevern (1715 – 1797) - một tín đồ Tin Lành,[23] cháu gái của Maria Theresia.[24]

Và, dĩ nhiên là người cha nghiêm khắc không có ảnh hưởng lớn bằng người mẹ hiền lành, Thái tử Friedrich von Hohenzollern đã kịch liệt phản đối dự định gả ông cho Elisabeth Christine. Ông nói: "Tôi sẽ không bao giờ lấy con ngỗng ngốc nghếch đó." Dù vua cha Friedrich Wilhelm I đã công khai răn đe Friedrich II tại nơi công cộng,[25] có lần nhà vua đã dùng roi quất Friedrich và cô bé đánh đàn dương cầm khi ông thổi sáo rất dữ dội trên đường phố Potsdam,[26] nhà vua vẫn không thể khuất phục được hoàng nhi. Thấy Quốc vương ngày càng hà khắc, có lần ông đã gửi thư cho một người bạn, cho hay ông phải "chịu nỗi thống khổ hàng ngày", và khó có thể sống được lâu hơn.[25] Thậm chí, với sự giúp đỡ của mẫu hậu và Công chúa Wilhelmina, Friedrich còn lập mưu bỏ trốn sang Vương quốc Anh để tìm ý trung nhân của mình.[21] Đó là năm vị Thái tử mới 18 tuổi;[27] năm ấy mỗi tuần ông chỉ được vua cha ban cho 1 đồng xu penni để tiêu xài mà thôi.[26][28] Friedrich von Hohenzollern lập mưu bỏ trốn sang Vương quốc Anh cùng với bạn mình là Trung uý Hans Hermann von Katte và một số sĩ quan cấp thấp trong Quân đội Phổ. Vào tháng 8 năm 1730, vua Friedrich Wilhelm I có một chuyến thị sát ở miền Tây Nam Đức và nhà vua đã cho con trai mình đi theo.[29] Vào ngày 5 tháng 8 năm 1730, khi đoàn của họ gần đến Mannheim ở Lãnh địa Tuyển hầu tước vùng Rhine thì Robert Keith, anh của Peter Karl Christoph Keith, đem kế hoạch của họ khai báo với vua Friedrich Wilhelm I và cầu xin được khoan hồng.

Trung úy Hans Hermann von Katte bị hành hình.

Đôi bạn Friedrich von Hohenzollern và Hans Hermann von Katte cùng bị bắt giam ở Küstrin. Vì cả hai người đều là Sĩ quan trong Quân đội Phổ, toan tính bỏ trốn sang nước Anh, nhà vua kết tội phản quốc cho cả hai. Nhà vua dọa sẽ xử tử hình Friedrich, sau đó đổi ý buộc ông phải nhường tước vị Hoàng thái tử lại cho em mình là August Wilhelm (1722 -1758), mặc dù cả hai hướng đều hoàn toàn không khả thi. Vua Friedrich Wilhelm tức giận:[26]

Tuy Tòa án Quân sự đã không hề gây tổn hại đến Hoàng tử và chỉ tuyên án tù chung thân đối với Katte, vua cha Friedrich Wilhelm lại truyền lệnh:[25] Vào ngày 6 tháng 11 năm 1730, ông buộc phải chứng kiến Katte bị một tên đao phủ xử trảm tại Küstrin (Kostrzyn), một pháo đài trên sông Oder.[30] Ông hét lên "Katte! Xin lỗi Ngươi nhiều lắm", và cái chết của Katte đã khiến cho Hoàng thái tử ngất xỉu và có những ảo giác trong hai ngày sau đó.[2] Dù vậy, khi sống trong nhà ngục, Friedrich vẫn được đối xử tử tế đúng theo quy cách dành cho một Hoàng tử. Ông được chăm sóc chu đáo và thậm chí, vua cha còn cử một triều thần có kiến thức uyên thâm về thuật trị quốc đến sống chung và đàm đạo với con trai. Dưới sự gợi mở của người này, Hoàng thân Friedrich đã phác thảo cho riêng mình một kế hoạch phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành dệt nói riêng cho Vương quốc Phổ. Trong thời gian này, một viên Sĩ quan Quân đội Phổ là Heinrich August de la Motte Foúque cũng đến thăm ông.[31]

Đồng thời theo thời gian, sự rạn nứt trong quan hệ cha con nhà vua dần dần được hàn gắn. Hoàng thân Friedrich đã bình tâm hơn và ông không muốn mất ngôi Thái tử vì việc mãi chống đối với vua cha. Còn vua Friedrich Wilhelm I thì càng lúc càng nhớ thương con trai. Cuối cùng, Friedrich von Hohenzollern đã xuống nước viết một lá thư xin lỗi gửi cho vua cha Friedrich Wilhelm I. Vua Friedrich Wilhelm I cảm thấy rất vui mừng, nhà vua vội đến ngục thăm con và sau đó dĩ nhiên đã ân xá cho Thái tử Friedrich.[21][32]

Tranh vẽ Đại đế Friedrich II, được treo ở Lâu đài Friedrichsfelde tại Berlin-Lichtenberg. Chưa rõ là họa phẩm của ai.

Như vậy, Thái tử Friedrich von Hohenzollern được Hoàng gia Phổ Quốc ân xá và rời khỏi xà lim vào ngày 18 tháng 11 năm 1730, nhưng vẫn không nhận lại được cấp bậc trong Quân đội mà ông bị tước trước đó.[33] Hơn nữa, ông không được về kinh đô Berlin, mà phải chịu sự giáo dục chặt chẽ về phương pháp trị quốc của Bộ Chiến tranh và Bộ Quản lý đất đai, kể từ ngày 20 tháng 11 năm 1730, và cậu học trò Friedrich cũng hết mực siêng năng.[34] Tình hình trở nên dịu hơn vào ngày 15 tháng 8 năm 1731, nhân ngày lễ mừng thọ 43 tuổi của vua Friedrich Wilhelm I, Friedrich tiếp vua cha tại nhà trọ tồi tàn của ông: ông hôn chân vua cha, bái kiến trước những lời răn dạy của vua cha và một lần nữa thanh minh rằng ông chính là thủ phạm đưa Von Katte đến con đường tội phạm.[35]

Vua Friedrich Wilhelm I vẫn tuyệt đối cấm Hoàng thái tử nghe nhạc và thưởng thức văn học, hoặc giao tiếp với phụ nữ.[35] Vài tháng sau, vua Friedrich Wilhelm I lại triệu hồi ông về thành Berlin để dự lễ cưới của chị ông là Wihelmina với Bá tước Friedrich xứ Bayreuth vào ngày 20 tháng 11 năm 1731. Cuối cùng, ông kết thúc khoá học tại Küstrin và trở về kinh đô Berlin vào ngày 26 tháng 1 năm 1732. Từ đó ông sống xa cách với Công chúa Wilhelmina.[36]

Hòa thuận với vua cha[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó, Hoàng thái tử Friedrich đã viết thư gửi công chúa Wilhelmina, trong đó có đoạn: "hai chị em mình đã không thể làm bạn hoặc là cưới nhau,"[20] thậm chí ông còn nghĩ đến chuyện tự tử. Sau đó, ông viết thư cho một hoàng thân khác, theo đó lễ cưới sẽ là lời "Chào ái phi! Chúc nàng thượng lộ bình an!".[25] Tuy nhiên, lễ cưới giữa Elisabeth Christine và Friedrich được thực hiện vào ngày 12 tháng 6 năm 1733. Trong ngày lễ cưới, chàng rể Friedrich tỏ ra không thích nàng dâu Elisabeth Christine xứ Brunswick-Bevern. Ông bực bội cho rằng cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị này như một trong những hành động của đế quốc Áo nhằm quấy rối nước Phổ,[24] kể từ khi vua Friedrich I lên ngôi vào năm 1701. Sau khi lên nối ngôi năm 1740, ông không cho phép Elisabeth đến cung vua tại thành phố Potsdam, bà chỉ được phép sống ở cung điện Schönhausen và những căn phòng tại Berliner Stadtschloss. Friedrich II và Elisabeth cũng không có con, vì thế ông phong cho người em August Wilhelm làm "Hoàng thái đệ nước Phổ"; tuy nhiên, những điều này không dẫn đến việc Friedrich và Elisabeth ly hôn.[37]

Vào ngày 27 tháng 11 năm 1731, trong buổi ngự triều tại kinh thành Berlin, toàn bộ tướng sĩ Quân đội Phổ cầu xin Quốc vương phục hồi chức Sĩ quan cho Thái tử. Và, không những ban gươm và quân phục cho Friedrich, vua cha Friedrich Wilhelm - thấy Trung đoàn von der Goltz trong Quân đội Phổ chưa có vị chỉ huy - bèn phong ông làm Đại tá của Trung đoàn này, đóng tại đồn gần NauenNeuruppin.[34] Trong Chiến tranh Kế vị Ba Lan, Friedrich Wilhelm I gửi một đạo quân Phổ đến giúp Quân đội Áo. Trong chiến dịch đánh Pháp trên sông Rhine, Friedrich được vị Thống chế Áo kiệt xuất là Vương công Eugène xứ Savoie dạy về sách lược quân sự.[38] Vương công Eugène đã tiên đoán rằng các quốc gia châu Âu sẽ phải bất ngờ trước những chính sách hiếu chiến của Friedrich von Hohenzollern, một khi ông lên kế vị ngai vàng Phổ.[39] Tuy Friedrich rất ngưỡng mộ vị Vương công xứ Savoie, ông đã than phiền trong thư gửi vua cha, rằng bọn tướng tá Áo vây quanh Vương công thật quá nhốn nháo, khiến ông khó tiếp cận Vương công. Từ đó, ông nảy sinh ý nghĩa rằng Quân đội Áo là một đám vô tổ chức, tạo điều kiện cho ông quyết định chiếm tỉnh Silesia từ tay Nữ hoàng Áo Maria Theresia. Theo lệnh của Friedrich Wilhelm I - vua cha đã yếu đi vì mắc phải căn bệnh gút trong chiến dịch chống Pháp, ông tới Schloss Rheinsberg tại Rheinsberg, nằm ở phía bắc Neuruppin.

Từ đó vị Thái tử trẻ đã sống ở Rheinsberg suốt bốn năm. Ông đã có thể tự ý xem đủ mọi loại sách vở, đồng thời cũng thường mời một số bạn hữu cùng chí hướng đến bàn chuyện thế sự hay ngâm thơ, viết văn. Tại Rheinsberg, Friedrich tụ tập một nhóm nhỏ các nghệ sĩ, gồm những diễn viên, nhạc sĩ, v.v… Ông đọc tiểu sử và chiến thuật của những vị thống soái nổi tiếng,[40] xem kịch, soạn nhạc và nghe nhạc. Ông xem thời gian này là một trong những giai đoạn an nhàn nhất trong cuộc đời ông, và cũng là lần đầu tiên Friedrich vui sướng đến thế.[40] Ông trở thành một trong những vị Quân vương được giáo dục tốt nhất trong thế kỷ XVIII.[41]

Vua Friedrich II trẻ tuổi, qua nét vẽ của họa sĩ cung đình Antoine Pesne.

Ngoài ra, ông còn lập ra "Huy chương Bayard" để bàn luận về việc quân sự với các bạn của mình. Trong các cuộc tranh luận việc quân, nhóm bạn của Friedrich tôn Heinrich August de la Motte Fouqué làm "Đại sư". Trong thời gian này, Friedrich đã chủ động viết thư cho nhà triết học lừng danh Voltaire và tạo được duyên bút mực với nhà tư tưởng lớn này.[42] Có một lần, ông nói:[30]

Dĩ nhiên là vua cha Friedrich Wilhelm I không bao giờ quên việc đào luyện cho con trai mình thành một nhà kế vị tương lai. Nhà vua thường phái con trai đi giám sát đôn đốc việc thu thuế với tư cách là Hoàng thái tử, đồng thời cho Friedrich đi sâu vào Quân đội để hiểu rõ tình hình Quân đội Phổ và làm quen với các tướng lĩnh cao cấp của Phổ. Dần dần, Thái tử Friedrich đã trở nên yêu thích, có nhiều hiểu biết sâu sắc về tình hình đất nước và Quân đội Phổ, đồng thời đã có nhiều chủ kiến riêng của mình về các vấn đề này.[36][43]

Tác phẩm "Bàn về Quân chủ" (tên tiếng Ý: De Principatibus) hay "Quân Vương" (Il Principe) của nhà triết học Niccolò Machiavelli vẫn được xem như kim chỉ nam cho đạo trị quốc ở các nước phương Tây trong thời đại của Friedrich von Hohenzollern. Tuy nhiên, năm 1739, Thái tử Friedrich hoàn tất bài tiểu luận "Chống chủ nghĩa Quyền thuật" (tên tiếng Đức: Antimachiavellismus), phản bác tư tưởng của Niccolò Machiavelli.

Trong tác phẩm này ông đã cực lực bác bỏ quan điểm "khi cần thiết phải dùng đến bạo lực và sự phỉnh gạt" của Machiavelli, cho rằng quan điểm này đã phá hỏng sự tôn nghiêm của một vị vua. Đồng thời Friedrich von Hohenzollern cũng chủ trương "cai trị quốc gia trên quan điểm công bằng, nhân từ, bác ái" và "nhà vua không phải là một đấng cầm quyền chuyên chế, là công bộc đầu tiên của Quốc gia".[44][45] Theo ông, thế giới này có hai loại Quân vương: có những vị vua chuyên chế đích thân trị quốc, mà cũng có những vị vua phải khoanh tay rủ áo lệ thuộc vào các quan đại thần.[46]

Thái tử Friedrich von Hohenzollern đã đem bản thảo đưa cho Voltaire nhờ triết gia này hiệu đính, và đã được Voltaire đánh giá cao. Qua tác phẩm này, Voltaire cho rằng Friedrich là một vị vua sáng suốt của châu Âu trong tương lai, nhà văn còn nhiệt tình hiệu đính bản thảo cho Friedrich và xuất bản quyển sách này tại Hague.[47] Tác phẩm được xuất bản ẩn danh năm 1740, và được Voltaire quảng bá rộng rãi tại Amsterdam.[48] Tác phẩm đã làm Hoàng thái tử Friedrich nổi tiếng với quan điểm "nhà vua là công bộc đầu tiên của Quốc gia".[47] Trong thời gian này, ông còn viết một tác phẩm khác là "Considérations sur l'état présent du corps politique de l'Europe", kêu gọi nhân dân Phổ - một "cường quốc thứ ba" chú ý về sự phát triển lớn mạnh của Đế quốc Áo, và chống lại ảnh hưởng từ Áo và Pháp.[19]

Sau nhiều năm tập trung hết mình vào nghệ thuật thay vì chính trị, ông được tin vua cha Friedrich Wilhelm I qua đời vào ngày 31 tháng 5 năm 1740 (tại Postdam),[49] để lại Vương quốc Phổ cho ông. Năm đó Friedrich von Hohenzollern 28 tuổi.[12] Ông lên nối ngôi, không những là nhà vua ở Phổ Friedrich II mà còn là Tuyển hầu tước xứ Brandenburg.[50] Các sử gia đánh dấu năm 1740 là năm trỗi dậy của Đế quốc Phổ, và lễ đăng quang của nhà vua là sự kiện "khai quốc" của nước Đức hiện đại.[51] Dù tiên vương lúc lâm chung có dặn "... Trẫm không cần phải làm tang lễ phức tạp gì", vua đã không hoàn toàn làm theo.[52] Trong buổi ngự triều đầu tiên, ông tuyên bố với bá quan văn võ:[53]

Nhà vua nước Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đế Friedrich II được xem là vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Vương quốc Phổ,[54] người đã đưa đất nước vào thời kỳ hoàng kim nhất.[55] Những biến chuyển của đời sống tinh thần sau khi ông bị bỏ tù đã góp phần giúp ông rạng danh tên tuổi, trở thành một Quân vương thực sự mạnh mẽ và lôi cuốn.[56] Nhà tiên tri lừng danh của Pháp là Nostradamus (1503 - 1566) đã tiên đoán thật chính xác về một "nhân vật kiệt xuất" lên ngai vàng trên đất Đức vào năm 1740 ("que le grand groppe au ryn sera getté").[57] Trước khi ông lên nối ngôi vua, nhà triết học người Pháp là Jean le Rond d'Alembert (1717 – 1783) đã nói với ông:

Sự lớn mạnh của Vương triều BrandenburgPhổ (1600 – 1795).

Cũng như các nhà triết học Khai sáng khác, Voltaire xem việc Đại đế Friedrich II đăng quang là sự kiện đưa kinh thành Berlin từ một Sparta quân phiệt của ông vua chuyên quyền Friedrich Wilhelm I thành một Athena tráng lệ của các nước thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh, thậm chí là của toàn cõi châu Âu.[25][58] Tuy nhiên, sự quan tâm này trở nên dịu đi vì ông phải đương đầu với những thực tế trong nền chính trị. Khi Đại đế Friedrich II nối ngôi "Vua ở Phổ" vào năm 1740, không khác chi vua Alexandros III xứ Macedonia xưa, ông đã thừa hưởng từ vua cha một Nhà nước được tổ chức tốt đẹp và một lực lượng Quân đội hùng mạnh do vua Friedrich Wilhelm I và ông nội là Tuyển hầu tước vĩ đại Friedrich Wilhelm I dày công xây cất.[59][60] Friedrich Wihelm I cũng để lại cho ông một nền kinh tế thịnh vượng, với ngân khố đầy đủ và thu nhập đến 7 triệu thalers.[61] Như Đại Đế Friedrich II đã nói, Vương quốc Phổ của ông giờ đây là "xứ Sparta của phương Bắc":[62][63]

Dù vậy, thời bấy giờ Phổ vẫn còn là một vương quốc không được rộng lớn, nằm ở miền Bắc Đức.[64] Nước Phổ bao gồm những vùng đất nằm rải rác, chẳng hạn như Cleves, Mark, và Ravensberg ở phía Tây của đế quốc La Mã Thần thánh; Brandenburg, Nội Pomerania, và Ngoại Pomerania ở phía Đông Đế quốc; và cựu Công quốc Phổ nằm bên ngoài Đế quốc và có đường biên giới với Liên bang Ba Lan-Litva. Ông có tước hiệu là Vua ở Phổ vì lãnh thổ của ông chỉ là một phần của vùng đất Phổ thuộc đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức. Mãi đến năm 1772, sau khi chiếm được phần lớn những vùng đất còn lại, ông mới tự phong làm Đức Vua của Phổ. Là một trong những Quân vương ngự trị lâu dài nhất của châu Âu từ thời Trung Cổ đến thời Napoléon, những chiến tích hiển hách của ông đã khiến cho ông được người ta gọi là "Friedrich Đại đế" - cái nhìn của dân tộc Đức đối với ông giống như dân tộc Nhật Bản với Thiên hoàng Minh Trị và dân tộc Nga với vua Pyotr Đại Đế vậy.[65][66][67][68]

Như "Amurath kế tục Amurath", ông đã kế vị vua Louis XIV của Pháp ("Louis Mặt Trời") làm vị Bá vương của toàn cõi châu Âu.[69] Trong cuốn sử sách của mình, nhà văn người Anh là Edward Gibbon có ám chỉ về việc chính vị hiệu của Đại Đế Friedrich II đã đẩy mạnh sự phát triển cường thịnh của Đế chế Phổ trong câu "Một vị Hoàng đế Julianus, một vị Nữ hoàng Semiramis sẽ chính vị hiệu ở phương Bắc...".[70] Ngay sau khi Nữ hoàng Áo Maria Theresia lên ngôi, Quốc vương Friedrich II gửi thư cho Voltaire:[71]

Xây dựng Quân đội Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Về tình hình Âu châu thời đó, Đại đế Friedrich II từng nhận xét:[41][72]

Nhưng tân vương Friedrich II lại không có kinh nghiệm quân sự. Tuy nhiên, thực ra ông có thiên tài về việc chỉ huy quân sĩ, và sớm trở nên được lòng tướng sĩ cùng thần dân nước Phổ[59][73][74]. Là một vị vua tận tâm, ông tiếp tục xây dựng Quân đội Vương quốc Phổ - Brandenburg,[41] với mức độ còn lớn hơn cả vua Friedrich Wilhelm I ngày trước, dù giải tán "Đội quân Khổng lồ thành Postdam" của tiên vương.[19] Ông cho rằng, việc một Quân vương đích thân thống lĩnh Quân đội là rất quan trọng. Vào năm 1776, ông viết trong "Di chúc Chính trị" của mình:[75]

Die Huldigung der schlesischen Stände vor Friedrich II. in Breslau 1741, 1882, hoạ phẩm của Wilhelm Camphausen (1818–1885).

Do đó, ông thường thân chinh cầm quân xông pha trận mạc.[76] Dù ông chỉ thường ngự ở chỗ an toàn trên chiến trường mà thống lĩnh, ngoài ông và vua Thụy Điển vài chục năm trước đó là Karl XII, dường như không có vua chúa nào lại thân chinh vào thế kỷ XVIII trên toàn cõi Âu châu.[77] Ông chú trọng canh tân Quân đội, huấn luyện binh sĩ, làm cho Quân đội Phổ trở thành một lực lượng có sức chiến đấu tốt nhất trên toàn cõi châu Âu đương thời. Trong xã hội Phổ - Brandenburg thời đó, các địa chủ Phổ luôn có những tư tưởng táo bạo về chiến tranh: làm việc khổ hạnh, chăm chỉ, tự chủ, tàn nhẫn và sẵn sàng hy sinh thay vì ăn chơi hưởng lạc, chính các địa chủ ấy đã đắc lực phò vua trong trận thắng oanh liệt tại Rossbach.[78] Vua Friedrich II đã truyền tinh thần này vào Quân đội Phổ, và nước Phổ đã truyền tinh thần này đến Quân đội Đế chế Đức sau này.[79] Như một chiếu chỉ của chính quyền Sparta cổ xưa, binh sĩ thường là người đồng tính luyến ái, và Đại Đế Friedrich II đã tìm cách ngăn ngừa tướng sĩ hoang dâm nhau để rồi mắc bệnh dịch:[80]

Về số lượng quân sĩ, nếu phụ vương Friedrich Wilhelm I đã tăng quân số Phổ từ 3 vạn lên gần 9 vạn binh lính,[81] thì ông lại tiếp tục mở rộng quân số Phổ đến 20 vạn quân sĩ tinh nhuệ.[82] Như vậy, quân số Phổ tương đương với quân số Đế quốc Áo, bất chấp một thực tế là nước Phổ thua xa Áo về số dân (chỉ chiếm 30 phần trăm dân số nước Áo thời bấy giờ),[83] chưa kể là dân số thua xa cả Đế quốc Nga của Nữ hoàng Elizaveta Petrovna, Vương quốc Anh - Lãnh địa Tuyển hầu tước Hanover của vua George II và Vương quốc Pháp của vua Louis XV.[84] Tuy nhiên, ông còn tăng thêm bảy trung đoàn trong Quân đội Phổ.[85] Trong các nước châu Âu thời đó, Đế quốc Phổ được quân sự hóa hơn cả; có nhận định của nhà sử học người Đức Georg Heinrich von Behrendost, nhưng thường được cho là của Mirabeau, như sau:[86]

Dưới triều đại Friedrich II, Quân đội Phổ - Brandenburg trở thành một lực lượng có tinh thần kỷ luật, với những binh sĩ thiện chiến và mẫn tiệp. Một lần, nhà vua bắt gặp một viên Sĩ quan Quân đội Phổ trên phố phường. Ông ngạc nhiên khi thấy viên Sĩ quan buộc một viên đạn vào dây xích vàng. Anh đáp: "Kính bẩm Đức Kim thượng, kim đồng hồ của Hạ thần mới chỉ 1 giờ, nhưng Hạ thần sẵn sàng hy sinh vì Đức Kim thượng". Ông liền ban tặng cho viên Sĩ quan trung quân ái quốc ấy một chiếc đồng hồ bằng vàng, và tuyên bố rằng, ông đã thành công trong việc làm theo những di huấn của vua cha.[28]

Song, Quân đội Phổ của ông là một trong những cỗ máy cứng nhắc nhất trong lịch sử quân sự nước Đức, người lính Phổ chỉ là một dụng cụ. Người lính Phổ không hề suy nghĩ, anh ta chỉ răm rắp làm theo lệnh của cấp trên.[87] Tương truyền, khi mới chính vị hiệu, Đại Đế Friedrich II đã hội kiến với cận tướng là Kurt Christoph Graf von Schwerin về việc chinh phạt tỉnh Silesia. Vua quan nước Phổ quyết định mở cuộc duyệt binh với 60.000 quân sĩ tinh nhuệ tại tỉnh Pomerania. Nhà vua tự mình theo dõi và tập luyện cho ba quân hết sức kỹ lưỡng và chu đáo. Trước ba quân, nhà vua hỏi vị khách già của ông - Vương công xứ Anhalt rằng cái gì đập vào mắt Vương công nhất trước mắt? [88]

Nghe nhà vua hỏi, Vương công xứ Anhalt liền tâu:[88]

“ Muôn tâu Bệ Hạ, lão thần đây thật ấn tượng trước ba quân của Người. Họ thật quy củ và tuyệt hảo khi di chuyển và thay đổi thế trận! ”

Nhà vua mới đáp:[88]

“ Trẫm thì khác, Trẫm chẳng lấy gì làm lạ và điều đấy. Sức mạnh của tiền bạc, thời gian và sự chu đáo là thế đấy! ”

Vương công già nua xứ Anhalt hỏi:

“ Vậy người ấn tượng sâu sắc với cái gì, thưa Bệ Hạ? ”

Nghe vậy, nhà vua trả lời:[88]

Ông ghen tỵ với danh tiếng của vua Thụy Điển Karl XII và theo gương vị vua này đào tào kỹ lưỡng lực lượng Kỵ binh, nên theo triết gia Friedrich Engels, nhà vua còn có trong tay một "lực lượng Kỵ binh không ai sánh kịp", đây sẽ là lực lượng giữ vai trò là cú đấm quyết định trong các trận đánh (chẳng hạn như bảo vệ Quân vương trong các trận đánh tại Rossbach và Zorndorf).[83][89] Vào năm 1779, ông nói với các chỉ huy đội Kỵ binh nhẹ, và Thống chế Gebhard Leberecht von Blücher - người chiến thắng Napoléon - luôn ủng hộ ý tưởng này:[90]

Không những thế, trong dự toán ngân sách quốc gia hàng năm thì ngân sách quân sự đã chiếm đến 80 phần trăm. Công cuộc cải cách Quân đội Phổ đã tạo cho vị Quốc vương có điều kiện để tiến hành những cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi tại Âu châu lục địa.[83] Thậm chí trong những khi thảm bại, họ vẫn phải tuân thủ quy tắc này:[91]

Đài kỷ niệm Đại đế Friedrich II tại Berlin-Friedrichshagen.

Kỷ luật khắt khe chính là một bí quyết giúp Đại đế Friedrich II giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Ông không bao giờ tha thứ cho những kẻ không biết tuân lệnh. Người ta nói rằng, trong một đêm nhà vua có dự định tiến đánh quân địch, khi họ đang đồn trú rất gần Quân đội Phổ. Lúc tám giờ tối, ông hạ lệnh cho quân sĩ tắt hết đèn từ đầu đến cuối chỗ đóng quân. Trong khi đó, ông thân hành đi quan sát xem cấp dưới có vâng lời vua hay không. Bỗng ông thấy ở một cái lều có ánh sáng, và bước vào đó. Ông phát hiện ra một viên Sĩ quan vừa viết xong lá thư gửi vợ mình. Hoảng sợ, viên Sĩ quan ấy bái lạy, và khóc: "Đức Kim thượng tha tội! Đức Kim thượng tha tội cho Hạ thần!". Quốc vương trả lời: "Đừng hòng! Nhà ngươi hãy viết thêm một dòng nữa vào bức thư nhé. Trẫm muốn vợ ngươi biết rằng, sáng mai ngươi sẽ là một cái thây ma mà thôi!" Quả nhiên, viên Sĩ quan ấy bị hành quyết, còn bức thư được gửi về cho người goá phụ của viên Sĩ quan.[93] Vị vua bạo ngược cũng từng bất hòa với hoàng đệ Friedrich Heinrich Ludwig:[94] trong bảy năm chinh chiến, sau khi Hoàng thái đệ August Wilhelm bại trận tại Lusatia (1757), vua anh triệu tập Thái đệ tới quát tháo dữ dội, rồi tống khứa Thái đệ khỏi Quân đội Phổ, để rồi Thái đệ đau buồn mất sớm.[95] Nhưng ông chỉ ghét bỏ Thống chế Phổ bại trận tại Kolin - Vương công Moritz xứ Anhalt-Dessau trước khi được Vương công Moritz phò tá đắc lực mà ca khúc khải hoàn tại Leuthen (1757) và Zorndorf (1758).[96]

Một lý do khiến Quốc vương thực hiện kỷ luật thép là để binh sĩ Phổ không thể đào ngũ được, như ông từng dạy Quân đội Phổ:[97][98]

Trong giai đoạn thái bình sau cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai, tận dụng khoảng thời gian quý báu này, Đại đế Friedrich II tăng cường cải cách Quân đội Phổ - Brandenburg. Ông chú trọng đưa những đội pháo binh (do chiến mã kéo) trở thành một binh chủng của Quân đội Vương quốc Phổ, qua đó tăng cường sức cơ động cho pháo binh đồng thời ban bố quy định mỗi năm đều phải thực hiện chế độ duyệt binh và diễn tập với mục đích là hoàn tất cơ chế huấn luyện Quân đội.[83] Để trang bị về mặt lý luận quân sĩ và động viên tinh thần toàn quân, vào năm 1746, nhà vua ngự bút cho ra mắt tác phẩm "Lịch đương đại" và sang năm 1747, ông lại xuất bản một tác phẩm khác - đó là sách "Những lời dạy của vua Friedrich Đại đế đối với Quân đội của mình".[83] Tác phẩm này được xem là một trong những luận thuyết về binh cách xuất sắc trong lịch sử.[99] Nhà vua đích thân dạy cho Quân đội Phổ di chuyển càng nhanh càng tốt, nhanh hơn cả Quân đội Thụy Điển của vua Gustav II Adolf xưa kia.[79] Đến đầu cuộc chiến tranh Bảy năm, ông đã hoàn tất việc tái xây dựng Quân đội tinh nhuệ của tiên vương năm xưa, với 150.000 binh sĩ:[100]

Chiến thắng tại Liegnitz (1760).

Trong suốt bảy năm chinh chiến, nhà vua nhận thấy nước Phổ cần có một lực lượng dân quân tự vệ, và do đó ông đã xây dựng lực lượng này.[102] Vào năm 1759, ông thiết lập một khẩu đội pháo bao gồm những khẩu hỏa pháo nặng đến sáu pao và mỗi khẩu pháo được một con chiến mã kéo, được đóng yên cương theo từng cặp với ba kỵ sĩ, và được phục vụ bởi bảy thượng sĩ phụ trách khẩu pháo. Dù khẩu đội pháo thường chịu tổn thất trên trận tiền do những kỵ sĩ không đáng tín nhiệm, "cơ cấu biệt đội" này được nhà vua tin tưởng là lợi thế về chiến thuật của lực lượng Quân đội Phổ, và sẽ còn được di truyền về sau. Quân đội Nga đã áp dụng 'cơ cấu biệt đội' của ông vào năm 1762.[103]

Những cuộc hành quân và tấn công của ông có ảnh hưởng hoàn toàn không nhỏ đến những Nguyên soái Nga lỗi lạc như Pyotr Aleksandrovich Rumyantsev hay Aleksandr Vasilyevich Suvorov.[104][105] Sau bảy năm chinh chiến khải hoàn (1763), việc làm đầu tiên của ông là tái thiết Quân đội Phổ - Brandenburg tinh nhuệ:[106] dần dần xây dựng Quân đội Phổ hùng mạnh với 190.000 binh sĩ. Nhưng khi đó, ông chỉ dùng lực lượng Quân đội để ngăn chặn những cuộc tấn công nước Phổ từ các cường quốc khác.[107] Một số cường quốc Âu châu đã xây dựng lực lượng Quân đội theo kiểu nước Phổ dưới triều vua Friedrich II Đại Đế,[108] chẳng hạn như nước Nga dưới triều vua Pavel I - một người hết sức ngưỡng mộ ông.[109] Dù bao gồm nhiều sắc dân, tín đồ tôn giáo, v.v... khác nhau, nhưng toàn quân Phổ - Brandenburg của nhà vua vẫn cùng nhau gìn giữ kỷ luật trang nghiêm.[110]

Vào năm 1786 - năm cuối đời ông, nhà vua nước Phổ tuyển 10/100 Sĩ quan Quân đội Phổ thuộc tầng lớp hạ lưu, trong khi chỉ có 22 Sĩ quan thuộc tầng lớp tư bản trong 712 Sĩ quan cấp cao từ Thiếu tá trở lên.[111] Cùng năm ấy, vua Friedrich II Đại Đế - một trong những ông hoàng chinh chiến vĩ đại cuối cùng trong lịch sử[112] - đã bỏ 75/100 thu nhập Nhà nước vào việc xây dựng Quân đội Phổ - Brandenburg, và bỏ 5/100 thu nhập khác vào kho Quân nhu.[113]

Công cuộc mở mang bờ cõi Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Đại đế Friedrich II.

Là một vị vua, nhà quân phiệt đầy tham vọng,[116][117] Friedrich II Hohenzollern mong muốn đổi mới và thống nhất những vùng đất cát cứ trong Vương quốc của mình. Triều đại lâu dài của ông chứng kiến việc Triều đình Phổ phá vỡ quyền "thiên tử" toàn bộ Đức của Triều đình Áo như trước đây,[51] nói cách khác là sự ra đời của "chủ nghĩa nhị nguyên Đức" (1740 – 1866) của ÁoPhổ - hai nước hùng mạnh nhất trong đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức.[118][119] Để đòi quyền thống trị những vùng nói tiếng Đức,[120] ông đã phát động không ít cuộc chiến tranh chống lại đế quốc Áo - do Hoàng gia Habsburg trị vì. Hầu hết các Hoàng đế La Mã Thần thánh cầm quyền từ thế kỷ XV cho tới năm 1806 đều là thành viên của triều đại Habsburg này. Và, vua Friedrich II trở thành kình địch của ba người phụ nữ hùng mạnh nhất lục địa Âu châu thời đó: Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna, Nữ hoàng Áo Maria Theresia cùng Nữ Hầu tước Pháp Pompadour; trong thời gian này, ông "làm điều thích thú, và muốn nghe ý kiến của thần dân bàn về Trẫm". Là ông vua quyết đoán, dũng cảm và tàn nhẫn như Nga hoàng Pyotr Đại đế năm xưa, ông trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đến quá trình chiếm đóng Liên bang Ba Lan - Litva của Nữ hoàng Elizaveta Petrovna, trở thành "tên ác ôn ở thành phố Postdam" đối với Nữ hoàng Maria Theresia sau khi ông chinh phạt tỉnh Silesia.[121][122] Tài năng quân sự của ông dần dần nâng cao qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt.[123] Lúc mới lên ngôi, ông gửi thư cho Voltaire:

Ông chịu ảnh hưởng từ vua cha, tham vọng và độc đoán đến mức mẫu hậu và Công chúa Wilhelmina không thể nào ngăn cản nổi.[36] Vì vinh quang của đất nước và củng cố những vùng đất bị ông chiếm, ông sẵn sàng xua đại quân tinh nhuệ ra tranh đấu, để rồi toàn thắng trước tất cả mọi quốc gia quan trọng trên lục địa châu Âu trong một loạt các cuộc chiến tranh tốn kém, và tuy các cuộc chiến ấy thật tàn khốc, nước Phổ chiến thắng đã được bảo toàn nguyên vẹn.[125] Dưới triều vua Friedrich II, nhờ có những chiến thắng vang dội của Quân đội Phổ, Vương quốc Phổ - Brandenburg vươn lên đứng thứ năm trong hàng ngũ các cường quốc hùng mạnh nhất tại lục địa châu Âu,[126] và là đại cường quốc có lãnh thổ nhỏ bé nhất trong số đó. Nền quân chủ chuyên chế Phổ - Brandenburg cũng là đại cường quốc non trẻ nhất ở châu Âu thời bấy giờ.[127] Giữa thế kỷ XVIII, trong khi các cường quốc Áo và Pháp dần dần yếu đi, hai cường quốc mới là nước Phổ - Brandenburg thời Friedrich II và nước Nga thời Ekaterina II phát triển cường thịnh trên toàn cõi châu Âu; nước Phổ của ông là cường quốc mạnh hơn cả ở lục địa châu Âu.[128][129] Có được thành tựu này là nhờ ông đã phát huy tiềm lực về quân sự vốn có của nước Phổ - Brandenburg từ thời phụ vương Friedrich Wilhelm I - một vị vua có lối sống thanh đạm, dùng thiên tài quân sự phi thường của mình mà hoàn tất công cuộc xây dựng nước Phổ - Brandenburg do Tuyển hầu tước vĩ đại Friedrich Wilhelm I đề xướng.[130]

Công cuộc bành trướng của ông đã làm cho Đế chế Phổ nâng cao truyền thống thượng võ, trở nên không khác gì các Hiệp sĩ Teuton bốn trăm năm trước.[131] Vị Quốc vương hiếu chiến còn cho rằng, những lời chỉ trích chiến tranh của các văn sĩ thời Khai sáng đã đẩy ông vào "một căn bệnh gút".[132] Là một vị vua anh hùng và quyết đoán, ông luôn luôn ra phương châm trước khi tiến hành thân chinh: 'hoặc là thắng lợi, hoặc là hy sinh!'.[133]

Chiến tranh Kế vị Áo (1740 - 1748) và 10 năm thái bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Silesia

Tân Quốc vương Friedrich II luôn mong muốn chiếm được Silesia - một tỉnh giàu có nhất của Đế quốc Áo thời đó.[134] Vì vậy, ông quyết định chống lại "Đạo luật Thừa kế năm 1713" (theo đó Maria Theresia sẽ thừa kế toàn bộ lãnh thổ của Đế quốc Áo - Habsburg), để tạo nên "điểm hẹn của sự huy hoàng" trong cuộc đời ông.[85] Ngoài ra, ông cũng lo ngại rằng, nhà vua Ba Lan August III, cũng là Tuyển hầu tước Friedrich August II xứ Sachsen, sẽ tìm cách nối lại những vùng đất nằm rời rạc của ông thông qua tỉnh Silesia. Do đó, cả thế giới đều hay tin tân vương Friedrich II quyết định thực hiện giấc mơ của mình.[135] Cụ thể hơn, ông liền mang 28.000 quân Phổ đi đánh vùng đất Silesia[136] vào ngày 16 tháng 12 năm 1740, lấy cớ là làm theo một hiệp ước được Vương triều Hohenzollern và Vương triều Piast xứ Brieg (Brzeg) ký kết vào năm 1537, mà hầu như không ai biết đến. Trước đó, ông đã đề nghị Nữ hoàng Maria Theresia nhượng cho ông các vùng Glogau và Silesia, đổi lại ông sẽ tôn chồng bà làm Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz I, nhưng bà không hồi âm.[106]

Ngay từ ngày ngày 6 tháng 12 năm 1740, các Sứ quán nước ngoài tại kinh đô Berlin hay tin nhà vua mặc giáp xông pha trận trận mạc.[137] Vào ngày 13 tháng 12 năm 1740, vị "vua - triết gia - nhạc sĩ" mở đầu sự nghiệp của "một trong những danh tướng xuất sắc nhất mọi thời đại".[137] Sau một buổi khiêu vũ trong Hoàng cung, tân Quốc vương Friedrich II lên xe ngựa, và đọc bài diễn văn trước ba quân, thể hiện sự thận trọng của vị vua - học giả - chiến binh:[138]

Chiến thắng Mollwitz (1741)
Các trận thắng đầu tiên (1740 - 1742)[sửa | sửa mã nguồn]

Không những thế, hay tin một số người cho rằng hành động táo bạo của nhà vua là liều lĩnh và gây nguy hiểm đến nước Phổ, nhà vua thắc mắc: "Sao lại thế, ngược lại à nha! Chính thiên triều Áo Quốc kia mới là kẻ lâm vào cảnh nhục nhã!"[139]. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1740, ông xua đại quân tinh nhuệ chinh phạt vùng Hạ Silesia, và, tính toán của ông hoàn toàn chính xác: đánh tan quân Áo đồn trú tại đó, ngoại trừ ba thành trì khác, toàn bộ vùng này rơi vào tay ông vào tháng 2 năm 1741.[140] Trong những giờ phút cuối cùng của năm 1740, ông cùng một đoàn Kỵ binh và lính ném lựu đạn tiến đến cổng thành Breslau và đóng quân tại Schweidnitz. Thấy vị Quốc vương Tin Lành ấy, nhân dân Tin Lành vui vẻ mở cổng thành Breslau mà chào đón Quốc vương. Tất cả các tầng lớp nhân dân đều kính mến vị vua chiến thắng này.[139] Không những thế, Quốc vương Friedrich II cũng chinh phạt vùng Brieg,[141] sau đó ông hội kiến với một cánh quân khác vừa đánh bại quân Áo. Trong vòng sáu tuần, nhà vua ca khúc khải hoàn trở về kinh thành Berlin.[106] Vào ngày 9 tháng 1 năm 1741, ông viết thư gửi Thủ tướng Chính phủ Phổ - Brandenburg là Heinrich von Podewils:[142]

Công cuộc chinh phạt tỉnh Silesia đã mang lại cho Hoàng gia Phổ 3.600.000 thaler. Nhà vua dùng phần lớn chiến lợi phẩm này để xây dựng Quân đội Phổ, do đó, vào năm năm 1741, họ có đến 106 tiểu đoàn và 161 sư đoàn Kỵ binh.[143] Và vùng Glogau giờ đây cũng là của nhà vua nước Phổ.[144] Ông vốn đã chinh phạt xứ Glogau vào ngày 23 tháng 12 năm 1740, và để lại một đoàn quân chiếm đóng tại đây.[139] Sau đó, ông và lực lượng Bộ binh tuyệt hảo giành chiến thắng trước quân Áo trong trận Mollwitz vào ngày 10 tháng 4 năm 1741 và quyết định vận mệnh của toàn dân tỉnh Silesia, dù ông rút khỏi chiến trường giữa trận kịch chiến.[106][145] Cũng giống như Quận công Wellington: vị anh hùng ngoan cường không thành công lắm trong lần thử sức đầu: ông chỉ thể hiện một ít lòng dũng cảm của mình, và rút lui sau đợt tấn công bất thành đầu tiên của Kỵ binh Phổ, nhưng Quân đội Phổ thắng trận nhờ có lực lượng Bộ binh chiến đấu tuyệt vời đập tan quân Áo đông đảo hơn, rồi ông hay tin chiến thắng khi đó nghỉ trong một nhà máy.[133][146] Sau chiến thắng Mollwitz - trận đại thắng đầu tiên đã báo hiệu cho toàn thể châu Âu biết về sự trỗi dậy của một dân tộc hiếu chiến mới mẻ,[147] nhà vua vẫn đóng quân tại đây và nạp thêm tân binh vào Quân đội Phổ, cũng như cải thiện chất lượng của Kỵ binh.[148] Người ta thấy ông khắt khe răn dạy Quân đội Phổ giữa lúc tuyết rơi và thời tiết vô cùng tồi tệ.[59] Sau lần đầu đánh bại Nữ hoàng Áo, ông làm lễ tạ ơn và nói dựa theo Kinh Thánh (Timôthê I:2, 11-12):[149]

Chiến thắng vang dội này đã mở đường cho vua Friedrich II thiết lập liên minh với Pháp, Bayern, một số vua chư hầu người Đức, Tây Ban Nha, Sardinia và Thụy Điển, chống Áo, Anh Quốc, Hà Lan và Đế quốc Nga,[140] mở ra cuộc chiến tranh Kế vị Áo.[150] Nhà vua nước Phổ không ngại khuyến khích nhiều nước tiếm ngôi vua Áo, nhưng ông là kình địch hùng mạnh nhất của nước Áo.[133][51] Được danh tướng Kurt Christoph Graf von Schwerin khuyên bảo, ông trở lại thân chinh thống lĩnh Quân đội Phổ.[133] Vùng Olmutz thuộc xứ Moravia đã rơi vào tay ông.[151] Vào ngày 31 tháng 10 năm 1741, nhà vua nước Phổ chiếm được vùng Neisse.[34]

Quốc vương Friedrich II và Quân đội Phổ.

Ông tiến đánh vùng Moravia,[59] nhưng sau đó ông lại tiến đánh xứ Bohemia vào ngày 5 tháng 2 năm 1742, rồi dùng lòng dũng cảm để khuất phục lỗi lầm trong trận thắng Mollwitz, mà thắng trận Chotusitz (Czaslau) vào ngày 17 tháng 5 năm 1742,[133][106] nhờ kỷ luật nghiêm minh của Quân đội Phổ.[152] Chiến thắng Chotusitz chính thức đưa chiến lược của Đại đế Friedrich II và Quân đội Phổ trở nên nổi tiếng hơn cả, chính ông đã truyền lệnh và điều quân Phổ lấn vào sườn của đối phương.[153] Giờ đây, ông là vị Bá vương của toàn bộ các đồn quân của tỉnh Silesia, và đẩy nước Áo đến bờ vực sụp đổ.[133][19] Sau đó, ông đã gửi thư cho Thủ tướng Chính phủ Phổ là Heinrich von Podewils:[142]

Ông cũng chiếm được luôn vùng Moravia.[154] Trong số các tù binh Áo sau trận thắng tại Chotusitz có viên tướng tên Pallandt bị thương nặng. Nhà vua nước Phổ thường xuyên thăm hỏi vị bại tướng này. Một hôm, Tướng Pallant nói với ông: "Khải bẩm Đức Thánh thượng, xem ra Người và Nữ hoàng quyền quý của Hạ thần sẽ thua bọn Pháp mất thôi, thật ra bọn chúng muốn hại Thánh thượng đấy ạ!" Nghe vậy, ông hỏi Pallant có ngụ ý gì? Sau một thời gian ngắn, vị tướng ấy bèn đưa cho ông lá thư Thủ tướng Pháp - Hồng y Fleury gửi cho Nữ hoàng Maria Theresia, đề nghị ký kết một Hòa ước riêng biệt mà không nhường cho nước Phổ một quyền lợi nào cả; và ông đã đọc bức thư này. Ông tuyên bố:[152]

Hay tin nhà vua nước Phổ sắp ký kết Hiệp định với người Áo, Thống chế Pháp là Belleisle hoảng sợ, và ông ta bỏ công đến đồn quân của ông để xem thực hư ra sao? Thấy tin đồn ấy là đúng, Belleisle lấy làm tiếc vì nhà vua đã rời bỏ nước Pháp - "người bạn tốt nhất của Đức Kim thượng". Ông bèn đưa lá thư của Hồng y Fleury gửi Nữ hoàng Maria Theresa cho Thống chế Belleisle, và thế là Belleisle chịu thua: Vua Friedrich II Hohenzollern xé bỏ liên minh Pháp - Phổ.[155] Quả nhiên, Hòa ước Breslau được ký kết vào ngày 11 tháng 6 năm 1742 quy định: người Phổ nhận được vùng Silesia từ Đế quốc Áo, đổi lại nước Phổ cũng phải gánh món nợ 1,7 triệu đồng Thalers của Áo. Nhà vua nước Phổ cũng trở thành bá chủ của toàn bộ hạt và thị trấn Glatz.[142] Ngoài ra, ông cũng phá vỡ liên minh với một số nước khác.[156] Quyền bá chủ Silesia của ông cũng được chính thức công nhận theo Hiệp định Berlin vào ngày 28 tháng 7.[157] Nhà vua nước Phổ tin chắc rằng: Nữ hoàng Maria Theresia không thể nào giành lại tỉnh Silesia từ tay ông.[149]

Sau cuộc chiến tranh này, lãnh thổ của Vương quốc Phổ mở rộng thêm 1/3.[158] Vua Friedrich II Hohenzollern lại lao đầu vào việc thổi sáo và viết văn,[152] cũng như xây dựng Quân đội nước Phổ.[159] Bấy giờ, ông chưa tròn 31 tuổi, nhưng chưa hề có vị tiên vương nào lập nên được chiến công hiển hách sánh ngang với ông.[160] Theo ghi nhận của chính vị vua chiến thắng ("Histoire de mon Temps"), cuộc chiến tranh Silesia tạo một bước ngoặt mới trong lịch sử Phổ: giờ đây, nước Phổ không ngại gì mà lại không năng nổ làm theo những chính sách táo bạo của các đời vua chúa. Ông cũng ký kết với đồng minh của Áo là Nga một bản Hiệp ước, theo đó ông vẫn luôn là vị bá chủ của vùng đất Silesia. Mặt khác, ông không thể tin tưởng vào Đế quốc Nga, do đó, khi Nữ hoàng Elizaveta Petrovna đề nghị vua gả cho Nga hoàng tương lai - Đại Công tước Pyotr xứ Holstein - một cô em gái của ông (nhằm tăng cường hợp tác với triều đình Berlin), ông đã từ chối. Đổi lại, ông đề nghị gả con gái viên Thống đốc xứ StettinQuận công Sophie Friederike Auguste von Anhalt-Zerbst-Dornburg cho Đại Công tước Pyotr.[161]

Một loạt chiến thắng (1744 - 1745)[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu cuộc chiến tranh Silesia lần thứ nhất (1740 – 1742) đã đưa Phổ - Brandenburg trở thành một Vương quốc cường thịnh, thì cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai (1744 – 1745) giúp họ duy trì ảnh hưởng của mình tại Đức. Nhà vua đã không thiết lập được một liên minh các Vương hầu người Đức, một lần nữa ông nhờ Pháp giúp đỡ, và ký kết Hiệp ước bí mật với nước này vào ngày 5 tháng 6 năm 1744. Trước sự de dọa của Áo, ông thiết lập "Liên minh Frankfurt",[157] nói cách khác là nhân danh đồng minh của nước Pháp và Bayern để tiếp tục nhảy vào cuộc Chiến tranh Kế vị Áo,[162] nhằm bảo vệ quyền thống trị vùng Silesia của ông,[163] mở ra cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai (1744 – 1745), chống nhau với một liên minh gồm Đế quốc Áo, Vương quốc Anh, lãnh chúa xứ Sachsen, Cộng hòa Hà Lan và Đế quốc Nga.[154][164][165]

Người ta nói nhà vua thường xông pha trận mạc cùng thú cưng của ông - chú chó Biche (Gengesk); có lần, khi đơn phương độc mã đi thị sát ông gặp phải một toán quân Áo hùng mạnh (có sách chép là một đạo quân Cozak).[166] Ông ôm lấy chú chó Biche núp dưới gầm cầu, và bịt miệng nó nó đội quân kia đi qua. Trong hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc" như vậy mà chú chó vẫn giữ thật im lặng, do đó ông vô cùng yêu quý nó.[167]
Chiến thắng tại Hohenfriedberg, Cuộc tấn công của Bộ binh Phổ, tranh sơn dầu trên vải bạt của Carl Röchling.

Nhà vua đã thân chinh thống lĩnh 80.000 đại quân Phổ đè bẹp xứ Sachsen.[144] Vào ngày 17 tháng 8 năm 1744, ông lại xua quân chinh phạt xứ Bohemia, vào ngày 2 tháng 9 ông và các đạo quân Phổ đã hiện ra trước cổng thành Praha: họ nhanh chóng vây hãm và chiếm đóng thành Praha.[142] Sau đó, nhà vua nước Phổ xua quân đánh vào miền Nam xứ Bohemia, đe dọa đến kinh đô Viên của Áo.[168] Vào ngày 30 tháng 9 năm 1744, ông chiếm đóng Budweis, và hành quân về đem tại đây vào ngày 4 tháng 10. Khi Vương công Charles xứ Lorraine kéo quân Áo tiến vào tỉnh Silesia, ông đánh lừa đối phương, sau một cuộc hành quân về đêm, vào buổi sáng ông cùng 65.000 quân Phổ đánh tan70.000 liên quân Áo - Sachsen chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ tại Hohenfriedberg[159] vào ngày 4 tháng 6 năm 1745,[106][169] cứu vãn quyền kiểm soát tỉnh Silesia.[101] Ông ký kết thỏa ước với Vương quốc Anh vào ngày 26 tháng 8 năm 1745, theo đó, toàn bộ châu Âu công nhận ông là Bá chủ của xứ Silesia trong khi ông xé bỏ liên minh với nước Pháp và bầu phu quân của Maria Theresia làm Hoàng đế La Mã Thần thánh.[135] Sau đó, nhà vua tiến hành chinh phạt xứ Bohemia, rồi rút quân về.[159] 22.500 quân Phổ của ông lâm vào bẫy của quân Áo trong trận Soor, nhưng, lòng dũng cảm phi thường của nhà vua và toàn quân đã giúp ông chuyển nguy cơ thất bại thành một chiến thắng oanh liệt,[170] bằng việc tổng tấn công vào cánh trái đối phương[159] và đập tan tác 39.300 quân Áo của Vương công Charles xứ Lorraine vào ngày 30 tháng 9 cùng năm, bắt được hàng ngàn binh sĩ Áo và gây cho họ tổn thất vô cùng nặng nề.[171] Trước chiến thắng Soor, nhà vua tuyên bố ông sẽ không ân xá gì cho quân Sachsen, và quả nhiên ông tiêu diệt hàng ngàn quân Sachsen và bắt tù binh không ít Sachsen.[142] Với chiến thắng vang dội này, giờ đây, ông có thể tin tưởng rằng: không có gì là Quốc vương và Quân đội nước Phổ không làm được, và triều đình Maria Theresia chắc hẳn sẽ ký Hòa ước với ông.[135]

Vào ngày 19 tháng 10 năm 1745, nhà vua ca khúc khải hoàn kéo quân vượt biên giới Silesia và trở về kinh thành Berlin, nhưng ít lâu sau nước Phổ lại lâm vào nạn binh đao, khi chánh sứ Thụy Điển tấu lên nhà vua rằng triều đình Áo muốn phản công:[101] ông thân chinh thống lĩnh 35.000 quân Phổ vượt Silesia, cùng một đạo quân đông đảo hơn đột kích Vương công Charles xứ Lorraine trong một cuộc hành quân[172] và đánh thắng quân tiên phong Sachsen của liên quân tại Hennersdorf vào ngày 23 tháng 11.[135] Sau đó, ông lại một lần nữa phục binh đánh tan tác quân Áo và đạo quân chư hầu Sachsen đông đảo tại Görlitz vào ngày 24 tháng 11 cùng năm,[173][159][174] và dĩ nhiên là quân Áo rút lui.[135] Giờ đây nhà vua nước Phổ đã chiếm được tất cả mọi kho đạn dược của quân chư hầu Sachsen tại Görlitz.[175] Theo Hầu tước Valori, chiến thắng Hennersdorf - Görlitz còn vĩ đại hơn cả những chiến thắng Hohenfriedberg và Soor:[101]

Vua Friedrich II và Vương công Charles xứ Lorraine.

Sau khi phá tan âm mưu xâm lược quê cha đất tổ Brandenburg, vua Friedrich II Hohenzollern lại tiến đánh xứ Sachsen, chiếm được vùng Leipzig.[135] Giữa lúc ấy, các triều thần báo cho ông tin về "cơn binh lửa ác liệt tại kinh thành Dresden", cánh quân Phổ của Thống chế "Dessauer Già" đại phá liên quân Áo - Sachsen trong trận Kesselsdorf, và vào ngày 17 tháng 12 năm 1745 ông hội kiến với "Dessauer Già" trước cổng thành Dresden; người Pháp đã gọi nhà vua nước Phổ là "vị vua huy hoàng".[176][177] Nước Áo thất bại, ông buộc triều đình Áo phải tôn trọng triệt để những Hiệp định trước đây. Với tư cách là nhà chinh phạt, Quốc vương Phổ cưỡi xe được kéo bởi 8 con ngựa tiến vào kinh thành Dresden, và ngự tại đó trong vòng 8 ngày. Tuy nhiên, nhà chinh phạt không hề đàn áp nhân dân: ông thăm hỏi các con của lãnh chúa August xứ Sachsen, và đi lễ nhà thờ hay nhà hát lớn vào ngày Chủ nhật.[135] Khi Tuyển hầu tước xứ Sachsen đề nghị ông tái lập hòa bình, nhà vua đáp: "Ngươi hãy thừa nhận quyền cai trị xứ Silesia của Bổn Vương, và cống cho Bổn Vương... chiến phí. Trẫm sẽ rút toàn bộ Quân đội Phổ ra khỏi nước Ngươi".[177] Trong khi lực lượng Kỵ binh Phổ đóng góp vô kể đến những trận đại thắng Hohenfriedberg, Sorr và Kesselsdorf, các sử gia Đức nhận định vào thế kỷ 19:[101]

Khi Nữ hoàng Nga là Elizaveta Petrovna tỏ thái độ ngăn chặn ông chinh phạt xứ Sachsen do nhà vua Ba Lan làm chủ, ông ngự bút thư gửi cho bà ta:[133][133] {{Tin nhắn|

Xem ra chỉ trong vòng 18 tháng mà nhà vua nước Phổ đã đánh thắng liên quân chống Phổ trong bốn trận đánh lớn cùng nhiều trận nhỏ. Ông bắt được 45000 tên tù binh, và gây cho quân địch số lượng binh sĩ thiệt mạng và tổn thương tương tự. Tên tuổi của ông nổi tiếng trên toàn cõi châu Âu, đến mức các tù binh quân địch đều vui vẻ gia nhập quân ngũ Phổ dưới ngọn cờ của ông.[133] Do ông thường trò chuyện thẳng thắn khác thường với D'Arget, thư ký riêng của chánh sứ Pháp Valori rất quý mến nhà vua. D'Arget đã nói với Hầu tước Valori:

Nhưng, ông gửi thư cho D'Arget rằng, ông muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, D'Arget lại hồi đáp rằng, chắc chắn nước Áo sẽ vĩnh viễn mất xứ Silesia về tay Quốc vương.[177] Thật vậy, theo Hiệp định Dresden vào ngày Giáng sinh 25 tháng 12 năm 1745, ông giữ vững quyền bá chủ các xứ Silesia và Glatz,[101] tôn chồng của Maria Theresia là Franz I làm Hoàng đế La Mã Thần thánh và nhận chiến phí gồm 1 triệu thaler từ Tuyển hầu tước xứ Sachsen.[144]

Cuộc chiến tranh Kế vị Áo kết thúc với Hiệp định Aix-la-Chapelle (1748), kể từ đó nước Phổ vươn lên thành một cường quốc Âu châu.[178] Dân số nước Phổ đã được gia tăng; ngoài ra, ông cuộc chinh phạt xứ Silesia đã mang lại quyền kiểm soát sông Oder cho Vương quốc Phổ. Vào tháng 12 năm 1745, vua Friedrich II cùng hai hoàng đệ ca khúc khải hoàn kéo quân về kinh thành Berlin mừng chiến thắng. Toàn dân đứng chật hai bên đường nghênh đón nhà vua và tung hô ông là "Đức Vua Friedrich Đại Đế vạn tuế!".[177]ây là lần đầu tiên ông được thần dân nước Phổ gọi là "Đại Đế".[162] Sau khi ông hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng Silesia, trong khoảng 10 năm sau đó ở châu Âu không có những hoạt động quân sự nào đe dọa đến nền an ninh quốc gia của Vương triều Phổ - Brandenburg.[83] Sau đó, nhà vua còn viết thêm phần "Rêveries politiques" vào di chúc của ông (1752). Trong "Rêveries politiques", nhà vua trình bày tất cả những cuộc chinh phạt mà nước Phổ có thể hy vọng thắng lợi trong tương lai.[179] Ông cho rằng, các vua nhà Hohenzollern rất cần phải chiếm đóng các xứ Sachsen, Pomerania thuộc Ba Lan và Phổ thuộc Ba Lan.[143] Bên cạnh đó, trong "Di chúc Chính trị" (1752), nhà vua cũng khuyên các vua kế tục đừng nên mong muốn cái ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh:[180]

Mặc dù công tích lẫy lừng, Đại đế Friedrich II xem chừng là một vị Quân vương - nhà quân phiệt biết kiềm chế tham vọng chinh phạt của mình, khác với vua Pháp Louis XIV, vua Thụy Điển Karl XII hay Nga hoàng Pyotr I.[181] Tuy ông đã thể hiện niềm khao khát làm nhà chinh phạt ngay từ thời còn trẻ, thậm chí ông cho rằng, ở một trường hợp nhất định, Đế quốc Phổ nên phá vỡ các Hiệp định trong hai cuộc chiến tranh Silesia đầu tiên để giành lấy lợi thế cho mình, ông vẫn đặt hòa bình lên hàng đầu trong "Rêveries politiques". Nửa sau thế kỷ thứ XIX, chính phủ Đức đã cấm xuất bản "Rêveries politiques", do những lời châm biếm của nhà vua dễ gây cho các nhà tự do chủ nghĩa bị sốc, và nếu chính phủ Đức tiết lộ những ý định của ông, nhân dân Đức có lẽ sẽ đặt dấu chấm hỏi đối với cái huyền thoại về sự thống nhất của Đế quốc Đức.[179] Sau khi lấy được vùng Silesia, ông từng nói:

Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Bảy năm

Nước Áo dưới triều đại Habsburg vốn là kẻ thù truyền kiếp của nước Pháp dưới thời kỳ phong kiến. Trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo trước đây, vua nước Pháp Louis XV đứng về phe Friedrich II. Tuy nhiên, sau khi Liên minh Anh-Áo tan rã, trong cuộc Cách mạng Ngoại giao năm 1756, tình thế đảo ngược: Đế quốc Áo trở thành một đồng minh của Vương quốc Pháp. Việc Đại đế Friedrich II chiếm được Silesia đã khiến cho nước Phổ cường thịnh hẳn lên và điều này làm cả Áo và Pháp đều lo sợ[162]. Thủ tướng Chính phủ Áo là Vương công Kaunitz đã miêu tả ông như một tên "bạo chúa đồng thời là quái vật của phương Bắc".[1]

"Friedrich Đại đế như Perseus" (1789), tranh phúng dụ cuộc chiến tranh Bảy năm trong giai đoạn đầu (1756).

Về phía mình, ông nhanh chóng thành lập liên minh với Anh Quốc tại Hiệp định Westminster vào ngày 6 tháng 1 năm 1756. Chính phủ Anh sở dĩ chịu liên minh với Phổ và viện trợ cho Phổ vì Anh muốn dùng Phổ để kiềm chế Pháp: giữa Anh và Pháp đã bùng nổ chiến tranh giành thuộc địaBắc MỹẤn Độ vào năm 1755.[182] Thấy các nước láng giềng đã thành lập liên minh chống lại nước Phổ, ông quyết định ra tay trước. Vào ngày 29 tháng 8 năm 1756, 100.000 đại quân được trang bị đầy đủ của ông vượt biên giới và bất thình lình tấn công Sachsen, mở đầu cuộc Chiến tranh Bảy năm.[183] Ngày 9 tháng 9 năm ấy, Quân đội Phổ của ông chiếm được Dresden - kinh đô không được phòng thủ của lãnh chúa xứ Sachsen (một đồng minh của nước Áo[183]). Quân đội Sachsen rút lui về chiếm giữ Pitna.[184]

Dù đã "quá niên trạc ngoại tứ tuần", nhà vua nước Phổ vẫn là một thiên tài quân sự.[145] Vào ngày 10 tháng 9 năm 1756 ông xua đại quân tinh nhuệ Phổ tiến hành vây hãm thành Pirna, khiến quân Áo không kịp trở tay. Khi triều đình Áo gửi quân tiếp viện tới chống vị vua "đã phá vỡ thể trạng của Đế quốc La Mã Thần thánh", ông rời khỏi Pirna, và,[185] vào thứ sáu ngày 1 tháng 10, ông cùng hơn 20.000 quân Phổ giành chiến thắng lừng lẫy về mặt chiến thuật 40.000 quân Áo trong trận đánh trên thảo nguyên Lobositz -[186][187] một trận chiến diễn ra khốc liệt. Sau đó, tại Pirna quân Sachsen đầu hàng vào ngày 13 tháng 10 cùng năm ấy.[188] Đại đế Friedrich II dùng vũ lực để hợp nhất những toán quân Sachsen vào Quân đội Phổ, và lật đổ Tuyển hầu tước August III xứ Sachsen.[189] Hành vi này đã bị không ít người chỉ trích, kể cả những người Phổ.[190] Trong mùa đông cuối năm 1756, vị vua chiến thắng đã đóng quân tại kinh đô xứ Sachsen.[191]

Đại đế Friedrich II đánh thắng quân Nga tại làng Zorndorf.
GIai đoạn đầu (1757 - 1758)[sửa | sửa mã nguồn]

Với chiến thắng của Quân đội Phổ trước quân Sachsen, cả ba nước Áo, Pháp lẫn Nga lo sợ và đã lập mưu phối hợp đưa 500 ngàn quân tấn công chính quốc Phổ, khiến Vương quốc này bị vây hãm tứ phía.[183] Do nhà vua nước Phổ thẳng tay bỉ bác đời tư của Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna, bà ta căm ghét ông, và Thủ tướng nước Nga thời đó cũng cho rằng, nước Phổ của ông là "Láng giềng nguy hiểm nhất, cần phải bị tiêu diệt", do ông ta hoảng sợ trước lực lượng Quân đội tinh nhuệ của nhà vua.[82] Trị vì một nước khá nhỏ với dân số ít ỏi, Đại đế Friedrich II sẽ còn phải đánh Thụy Điển, Sachsen, Ba Lan và phần lớn các tiểu quốc của người Đức thuộc đế quốc La Mã Thần thánh - một liên quân lớn mạnh chưa từng thấy trong lịch sử châu Âu,[133][192][193] trong khi ông chỉ có hai đồng minh là đế quốc Anh và Hanover.Trên thực tế, vì chỉ một mình ông phải đối đầu với một liên minh đông đảo như thế, còn nước Anh chủ yếu viện trợ về mặt tài chính.[183] Nhưng trước khi liên quân tấn công chính quốc Phổ, quân sư Hans Karl von Winterfeldt đã tham mưu nhà vua ra tay trước để đẩy lùi quân Áo vào thế thủ tại xứ Bohemia, và ông quyết định làm theo:[95] Ông giao cho Thống chế Hans von Lehwaldt cầm chân liên quân Thụy Điển - Nga, và tiến hành chinh phạt xứ Bohemia vào tháng 4 năm 1757.

Nhà vua giao một đạo quân Phổ cho tướng August Wilhelm, Công tước xứ Brunswick-Bevern - và đạo quân này đã đánh tan tác quân Áo trong trận chiến tại Reichenberg vào ngày 18 tháng 4 năm 1757.[95][194] Với chiến thuật "đánh lần vào sườn",[195] 67.000 quân sĩ tinh nhuệ[196] của nhà vua cũng đập tan tác quân Áo của Vương công Charles xứ Lorraine tại Praha vào ngày 6 tháng 5, giết được Thống chế Áo là Maximilian Ulysses Browne[197] và phong tỏa luôn thành phố này.[174] Tuy nhiên, sau chiến thắng lừng lẫy này,[198] ông bị một Thống chế khác của Áo là Leopold Joseph von Daun đánh cho thảm bại tại Kolin vào ngày 18 tháng 6 cùng năm,[199] và rút về xứ Silesia. Tuy nhiên, quân Nga rút lui sau trận đánh với Thống chế Hans von Lehwaldt ở chính quốc Phổ, nhà vua nước Phổ vẫn giữ một cái đầu lạnh và sẽ còn tiến hành chinh phạt xứ Sachsen.[183][200] Cuộc chiến tranh Bảy năm đóng vai trò không nhỏ với việc tạo nên "Huyền thoại về Đức Vua Friedrich II" - một vị tướng vĩ đại đã đọ sức với cả châu Âu.[62] Bản thân ông đã so sánh tình hình của Vương quốc Phổ - Brandenburg hiện giờ với Đế quốc Thụy Điển thời vua Karl XII vào năm 1700, đều bị khoảng ba liệt cường bao vây tứ phía.[104] Sau chiến bại tại Kolin, Quân đội vua Friedrich II đã đẩy lùi quân Áo ra khỏi kinh thành Berlin.[201]


Đại đế Friedrich II tại Lissa, họa phẩm của Adolph von Menzel.
Đại Đế Friedrich II và Quân đội Phổ.

Sau chiến thắng tại kinh đô Berlin, vào tháng 11 cùng năm, dù đã 45 tuổi,[145] ông thống lĩnh 20.000 đại quân Phổ tiến đánh Leipzig, nhưng cho ba quân dời từ Bedlau sang Rossbach (dùng kế "điệu hổ ly sơn") vì nhận thấy Rossbach là trận địa dễ mang lại thắng lợi hơn, và Quân đội Phổ di chuyển nhanh "giống như thay cảnh trên sân khấu trong nhà hát". 45.000 Liên quân Áo - Pháp chủ quan truy kích, và vào ngày 5 tháng 11 năm 1757, nhà vua nước Phổ tiến hành phản công và giành chiến thắng quyết định trước liên quân đông gấp đôi của Charles, Vương công của SoubiseVương công Joseph của Saxe-Hildburghausen trong trận Rossbach và mở đường cho ông quét sạch quân Áo ra khỏi bờ cõi Silesia. Ông bắt được hàng ngàn quân Áo và quân Pháp, trong số đó có những thống soái, những khẩu pháo và cờ hiệu của họ.[112][94] Tin tức về chiến thắng của ông vang xa đến không ít người sống bên biển Baltic, bên dãy An-pơ: kể từ khi nước Đức và nước Pháp ra đời, chưa có một hậu duệ của các Hiệp sĩ Teuton nào lại đánh thắng dòng dõi Pháp một trận oanh liệt đến thế.[203] Chiến thắng lẫy lừng tại Rossbach đã khiến cho nhân dân Luân Đôn (Anh Quốc) vô cùng vui sướng, họ hân hoan chào đón lễ mừng thọ của "vị anh hùng của đức tin Kháng Cách" đã thắng trận này. Kể cả những nước chư hầu của Đế quốc Áo cũng tự hào vì ông, và danh tiếng của ông trở nên không kém vị tù trưởng Arminius đối với dân tộc Đức - ông đã truyền cảm đến toàn dân Đức một tinh thần không thể tiêu diệt được nếu họ có lâm vào khó khăn chăng nữa.[8] Chiến thắng của ông cũng tạo điều kiện cho liên minh giữa vua Phổ và vua Anh được thắt chặt hơn.[204] Sau đó, với 36.000 quân của ông nhanh chóng hành quân về tỉnh Silesia trong vòng 15 ngày.[205] Ông còn nói:[206]

Công cuộc hành quân về giải phóng tỉnh Silesia vô cùng nhanh chóng của ông đã khiến cho Vương công Charles xứ Lorraine,[112] dù Quân đội Phổ - Brandenburg đã mệt mỏi. Thấy một người lính than lạnh, ông khuyên anh hãy cố gắng, vì tỉnh Silesia sẽ nhanh chóng ấm lên; ông cũng nói: "Trẫm và các Khanh chiến đấu vì vinh quang, vì vinh dự, vì vợ con của Trẫm và các Khanh..."[112] Bằng chiến thuật "đánh lấn vào sườn" trứ danh, ông dựa vào sự phân bố của Quân đội Áo mà truyền lệnh cho một toán Kỵ binh đánh nghi binh vào quân cánh phải của Áo, gây cho quân Áo để ý đến toán quân ít ỏi ấy. Sau đó, ông xua quân chủ lực tấn công quân cánh trái của Áo, rồi cho toàn bộ Kỵ binh và Pháo binh Phổ tấn công dữ dội. Thế là ông giành chiến thắng vang dội trước 70.000 quân Áo của Thống chế - Bá tước Leopold Joseph von DaunVương công Charles xứ Lorraine trong trận Leuthen (Ba Lan) vào ngày 6 tháng 12 - một chiến công hiển hách hiếm có trong suốt chiều dài lịch sử quân sự, hai viên tướng Áo rút quân về đêm.[207][159][205][208] Đại thắng tại Leuthen không những là chiến thắng vĩ đại nhất của Đại Đế Friedrich II, mà còn là chiến thắng vĩ đại nhất trong thời đại này.[209][210] Nhờ vào thiên tài quân sự lừng lẫy của ông, đây là trận cuối cùng trong một loạt chiến thắng huy hoàng của ông trước Vương công Charles xứ Lorraine, và do đó ông đã làm tiêu tan sự nghiệp của viên tướng này.[159] Ông tiêu diệt hàng nghìn quân Áo và nhanh chóng tiến chiếm thành Breslau, chỉ sau vài ngày vây hãm.[211]


Quân Cozak bắt hụt Đại đế Friedrich II (1759).
Quân đội Phổ đại thắng tại Leuthen (1757).

Sau chiến thắng vang dội tại Leuthen, một nhà ngoại giao người Anh miêu tả nhà vua rất vui sướng và hạnh phúc, nhưng không vì thế mà tự cao tự đại với việc ông trở thành người hùng anh Phổ - một "anh hùng chẳng đáng chê chẳng đáng khen".[209] Với việc Quân đội Phổ đánh tan quân Thụy Điển, Đại Đế Friedrich II đã chấm dứt chiến dịch lần thứ hai (1757).[197] Vài tuần sau khi chinh phạt thành Breslau, ông chiếm được Liegnitz.[174] Bước sang năm sau (1758), nhà vua nước Phổ xây dựng được lực lượng Quân đội Phổ, tuyển thêm tân binh trong số đó có những tù binh người Áo, người Pháp và người Nga, lại còn nâng cấp sức chiến đấu của Lực lượng Pháo binh Phổ.[212] Ông xua quân tái chiếm thành Schweidnitz;[213] sau đó, do quân Nga vây hãm Küstrin, ông kéo quân về trong vòng mười ngày nóng nực và đẩy lui quân Nga ra khỏi Küstrin.[214] Ngay sau đó, nhờ sự phò tá đắc lực của đạo quân do viên chỉ huy Kỵ binh Phổ là Friedrich Wilhelm Freiherr von Seydlitz cầm đầu,[215] quân của Friedrich gặp nhiều thiệt hại trong khi đánh nhau với quân Nga do tướng William Fermor chỉ huy trong trận Zorndorf gần sông Oder trong hai ngày 26 tháng 827 tháng 8 năm 1758, nhưng ép được quân Nga bỏ Brandenburg về Ba Lan.[112][197]

Nguy cơ mất nước[sửa | sửa mã nguồn]
Friedrich trong trận Kunersdorf.

Sau trận Zorndorf, Friedrich thua liên tiếp 2 trận lớn: đầu tiên là trận Hochkirch vào ngày 14 tháng 10 năm 1758, nơi quân đội ông bị quân Áo do thống chế Leopold Joseph von Daun chỉ huy đột kích và đánh tan, thiệt hại đến hơn 9 nghìn binh tướng. Sang năm sau, liên quân Áo-Nga do nguyên soái tài ba Pyotr S. Saltykov và tướng Laudon chỉ huy lại đánh tơi tả quân Phổ do Friedrich trực tiếp chỉ huy trong trận Kunersdorf vào ngày 12 tháng 8 năm 1759. Trong 3 vạn quân Phổ tham gia trận này, có đến khoảng 19 nghìn người chết, tàn phế và bị bắt[216]:[217]. Sau trận đánh Friedrich nhận định với tể tướng von Finckenstein rằng: "Ta không còn bất cứ một tiềm lực nào nữa. Nói thật với ông nhé, ta tin rằng tất cả đã mất. Vĩnh biệt, ta không thể sống đến khi non sông rơi vào tay quân địch."[218] {{Cquote|

Vua Phổ trong trận chiến Hochkirch.

Tuy nhiên, Saltykov và Laudon đã không chộp cơ hội tấn công Berlin, thay vì đó họ rút quân về Ba Lan tạo điều kiện cho Friedrich một đội quân gồm 28.000 người..[219][220] Tình hình Friedrich một lần nữa được cứu vãn khi ông lần lượt đánh bại quân Áo trong trận Liegnitz vào ngày 15 tháng 8 năm 1760.[221] Kế đến, trong trận Torgau vào ngày 3 tháng 11 năm 1760, Friedrich đánh thắng quân Áo do tướng Daun chỉ huy.[222] Sang chiến dịch lần thứ sáu năm 1761,[197] Friedrich phải giữ thế bị động và chặn đứng liên quân bằng một loạt thủ đoạn.[223] Đại đế Friedrich II tìm cách phá vỡ liên quân Nga - Áo tại Liegnitz. Để bảo vệ tỉnh Silesia, ông và quân sĩ cắm trại kiên cố tại Kunzendorf, gần vùng Freiburg, nơi nhà vua đóng quân trong khoảng từ sáu đến bảy tuần.[224] Vào ngày 20 tháng 8 năm 1761, nhà vua nước Phổ áp dụng lại thủ đoạn của Liên quân chống vua Pháp Louis XIV tại Koekelberg (1697):[225] ông chiếm đóng Bunzelwitz[219] - nơi được đào hào vững chắc xung quanh. Thống chế Áo là Nam tước Ernst Gideon von Laudon và Nguyên soái Nga là Aleksandr Borisovich Buturlin không tiến đánh những chiến hào của nhà vua tại Bunzelwitz, do họ không có đủ quân nhu.[226] Luôn mong muốn được trợ cấp để thay đổi tình thế, Đại đế Friedrich II thường bày mưu tính kế, bằng việc sắp xếp đạn dược và bố trí vũ khí, khiến liên quân Nga - Áo phải lo sợ, và không phải là không gặt hái thành công, lại còn cung cấp được lương thực cho toàn quân trong suốt hai tuần.[133][227] Cuối cùng, 150.000 liên quân Nga - Áo, do không thể đánh bại Quốc vương và 30.000 quân Phổ, nên bèn rút về vùng Hạ Silesia và Liên bang Ba Lan - Litva.[197] Trong khi ấy, Đại Đế Friedrich II truyền lệnh cho Tướng Platen tiến hành công kích vào Ba Lan, phá tan nhiều kho đạn dược của quân Nga và bắt được không ít tù binh Nga.[228][229]

Sau đó, Quốc vương Phổ rời khỏi Bunzelwitz và tiến công đạo quân Áo đã chiếm thành Schweidnitz, nhưng hai bên không đánh nhau trong bất kỳ một trận nào. Ông và quân sĩ nghỉ đông tại thành Breslau xứ Silesia.[230] Vào ngày 15 tháng 7 năm 1761, Quân đội Phổ của ông và Công tước Ferdinand xứ Brunswick cũng đập tan tác quân Pháp của Vương công Soubise và Victor-François, Công tước Broglie thứ hai và trong trận Villinghausen.[228][231] Tuy nhiên, tân Thủ tướng Anh Quốc là Huân tước Bute đề nghị Quốc vương Phổ - Brandenburg nhân nhượng cho Nữ hoàng Áo và thiết lập hòa bình; còn nếu ông không nghe theo, Huân tước Bute sẽ không bao giờ viện trợ cho ông nữa; nhưng ông vẫn cứ theo đuổi chiến tranh.[232] Tuy nhà vua nước Phổ không bị đánh bại trong chiến dịch năm 1761, ông đã hay một tin dữ: Pháo đài Kolberg (Pomerania) thất thủ về tay đối phương.[233]

Tuy nhiên, Quân đội của vua Phổ - Brandenburg đã đánh bại quân Thụy Điển và đẩy lùi họ về thành Stralsund.[197] Qua bao năm chiến tranh tàn khốc, tình hình kinh tế Phổ suy sụp, tài nguyên của Phổ đều kiệt quệ cả,[234] quân số thiếu hụt đến mức phải tuyển cả trẻ con 13, 14 tuổi vào làm lính, tinh thần binh sĩ sa sút trầm trọng. Còn bản thân Đại đế Friedrich II thì tóc bạc trắng, tinh thần suy sụp, hốc hác như một ông già và nhiễm phải chứng phong thấp do phải lăn lộn quá nhiều ngoài sa trường. Ông luôn mang theo người một bình thuốc độc để khi cần thì tự sát.[235] Vào ngày 6 tháng 1 năm 1762, trong thư gửi cho Thủ tướng Chính phủ Phổ - Bá tước Finck von Finckenstein, ông viết:


Đại đế Friedrich II cùng Trung đoàn Anhalt-Bernburg khải hoàn tại Liegnitz.

Không được Anh Quốc giúp nữa, ông hy vọng mình sẽ giành lấy thế thượng phong với một "phép lạ" tại kinh thành Constantinopolis: Đế quốc Ottoman sẽ tuyên chiến với liên minh chống Phổ,[236] và kêu gọi người Tartar tiến hành cướp phá xứ Hungary của nhà Habsburg.[227] Vào năm 1761, ông ký kết một hiệp ước hữu nghị với triều đình Thổ - Ottoman.[237] Vào năm 1762, một sứ thần người Tartar đã đến yết kiến vua tại một trong những đồn quân của ông. Sứ thần Phổ tại kinh đô Constantinopolis cho biết "Sultan Mustafa III đang gấp rút chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Nga - Áo - Thổ - Phổ sắp tới", và Đại Đế Friedrich II quyết định chờ đến giữa tháng hai năm ấy.[204] Trong bối cảnh ông không còn đồng minh và tài nguyên, ông nói ông chỉ chiến thắng hoặc hy sinh vì công cuộc chinh phạt tỉnh Silesia, nếu ông không có thời cơ, ông sẽ không khác chi chính trị gia Cato Trẻ quyết không rơi vào tay nhà độc tài Julius Caesar thời nội chiến La Mã, ông sẽ kết liễu cuộc đời ông, để mà được chôn vùi trong "đống đổ nát của quê cha đất tổ":[116][238]

Giữ vững vương quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Đại đế Friedrich II sau chiến thắng Torgau, tranh sơn dầu trên vải bạt của Bernhard Rode.

Đầu năm 1762, trong lúc Phổ đang gần kề thất bại, Friedrich II được tin nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna qua đời vào ngày 5 tháng 1 năm 1762.[239][230] SỰ kiện này được gọi là triều đạiBrandenburg lại có "phép lạ" (Mirakel des Hauses Brandenburg). Do không có con, sinh thời Elizaveta Petrovna đã chỉ định một người cháu gọi nữ hoàng này bằng dì là Đại Công tước Pyotr xứ Schleswig-Holstein làm người thừa kế ngôi vua, tức Nga hoàng Pyotr III.[240] Pyotr III vốn là một người rất ngưỡng mộ Friedrich II, do đó ông ta mới đã thiết lập một liên minh tấn công và phòng thủ với Phổ, rút quân khỏi vùng Đông Phổ đồng thời tuyên bố bảo vệ Phổ trước bất cứ một cuộc tấn công nào,[241] Friedrich cũng cũng không ngần ngại trao trả các tù binh Nga về kinh thành Sankt-Peterburg.[230][242]

Mặt khác, "Phép lạ của Nhà Brandenburg" cũng không phải là một điều cho lạ cho lắm, vì ông đã đoán trước về cái chết của Nữ hoàng Elizaveta Petrovna ngay từ những năm đầu của cuộc chiến tranh Bảy năm.[116] Theo chân Nga, Thuỵ Điển cũng ký kết Hiệp ước Hamburg với nước Phổ vào ngày 22 tháng 5 cùng năm đó, đưa hai Vương quốc Phổ và Thuỵ Điển đến tình trạng status quo ante bellum.[243] Nhưng Friedrich vẫn phải đơn phương độc mã chống chọi với liên quân Áo - Pháp.[167] Dù Anh Quốc không viện trợ nữa nhưng nhà vua nước Phổ vẫn quyết tâm theo đuổi cuộc chiến. Trên mặt trận phía Tây, Friedrich được Công tước Ferdinand xứ Brunswick phò tá đắc lực với việc Quân đội Phổ đại phá quân Pháp trong trận Wilhelmstal vào ngày 24 tháng 6 và đuổi quân Pháp ra khỏi xứ Westphalia, lại đánh tan tác quân Pháp trong Lutterberg vào ngày 23 tháng 7 năm 1762, và dẹp tan đạo quân Pháp rồi chiếm luôn thành Cassel, giữ trọn niềm tự hào của Đế quốc Phổ lừng lẫy.[159][197] Vào ngày 1 tháng 7 năm 1762, Nga hoàng Pyotr III gửi một đạo quân Nga tới giúp nhà vua nước Phổ, nhưng ít lâu sau đó liên minh Áo - Nga tan rã, theo lời của tướng Nga Zakhar Grigoryevich Chernyshov là do Pyotr III qua đời, triều đình Nga "chịu ảnh hưởng từ các kẻ thù của Đức Vua" nên hạ lệnh rút quân về Nga. Ông bèn khôn khéo giữ quân Nga lại để "hù dọa" quân Áo, thay vì cùng họ đánh Áo: thế là ông xua quân đột kích quân của Bá tước Áo là Leopold Joseph von Daun,[244]dùng những đội hình được phân bố rải rác mà giành chiến thắng lừng lẫy trong trận Burkersdorf vào ngày 21 tháng 7 năm 1762,[245][246] khiến tướng Nga Chernyshyov phải ngưỡng mộ.[167] Chiến thắng vang dội tại Burkersdorf của Quân đội vua Friedrich II đánh dấu sự phát triển của chiến thuật "tuyến".[247]

Sau khi quân Nga rút lui, nhà vua và Quân đội Phổ tiến hành vây hãm thành Schweidnitz,[174] thế là Bá tước Joseph Leopold von Daun tìm cách chiếm lại thành này: sự can thiệp của Bá tước Daun dẫn đến trận chiến tại Reichenbach vào ngày 16 tháng 8, trên lưng ngựa chiến "Hoàng đế La Mã", Đại đế Friedrich II cùng quân sĩ đánh tan tác quân Áo. Sau đó, thành Schweidnitz đã thất thủ về tay Quân đội vua Phổ[198][248] Vua Friedrich II Đại Đế liền tiến quân vào xứ Sachsen, giao cho Công tước xứ Bevern việc phòng thủ tỉnh Silesia. Vào ngày 29 tháng 10 năm 1762, sau một vài trận giao chiến thắng lợi tại lãnh địa Sachsen, với sự phò tá của hoàng đệ Friedrich Heinrich Ludwig cùng viên chỉ huy Kỵ binh Phổ lừng danh là Friedrich Wilhelm Freiherr von Seydlitz,[245] ông dùng những đội hình phân tán giành một chiến thắng lớn lao trước Thống chế Jean-Baptiste Serbelloni của Quân đội Áo - Sachsen[249] - Đế quốc La Mã Thần thánh trong trận chiến Freiberg[250][246] - trận chiến cuối cùng trong suốt bảy năm chinh chiến,[251] và chiếm được phần lớn miền Nam xứ Sachsen.[19][146]

Sau trận thắng vang dội đó, Đại đế Friedrich II tiến hành một cuộc đình chiến ngắn với người Áo, cũng như một loạt vụ tấn công của Quân đội Phổ vào những Vương hầu đối lập trong Đế quốc La Mã Thần thánh (chẳng hạn như lãnh chúa xứ Bayern và xứ Franconia).[197] Cuối cuộc chiến, vị vua chiến thắng cũng tiến hành chinh phạt xứ Bohemia, một quân đoàn Đế quốc Phổ tiến đến cổng thành Praha và phá tan kho đạn dược tại đây.[252] Mùa đông năm 1762, sau chiến thắng trước liên quân chống Đế quốc Phổ, ông nghỉ đông tại Meissen, Leipzig.[253] Cuối cùng, Nữ hoàng Áo đã công nhận mình là kẻ thất bại và tiến hành đàm phán với nhà vua nước Phổ.[254] Nhờ thiên tài quân sự của Đại Đế Friedrich II, những đội binh hùng tướng mạnh và lòng dũng cảm của Quân đội Phổ, Đế chế Phổ đã giành thế thượng phong trước liên quân, và buộc một số lãnh chúa trong đế quốc La Mã Thần thánh phải giữ thái độ trung lập.[250]

Vào ngày 15 tháng 2 năm 1763, một Hiệp ước được ký kết giữa các nước Áo, Phổ và Sachsen tại Hubertusburg (lâu đài của vị lãnh chúa xấu số xứ Sachsen), theo đó, Maria Theresia thừa nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu ("status quo ante bellum"), cũng như quyền cai quản không thể tranh cãi của Phổ đối với tỉnh Silesia và thành Glatz (đúng như Đại Đế Friedrich II đã nói "Trẫm và các Khanh sẽ lấy lại thành Glatz khi nền hòa bình chung được lập lại..." - 1760[220]),[255] kết thúc cuộc chiến tranh Bảy năm tại châu Âu.[256][257][258] Nước Áo không bao giờ được gây ra một cuộc xung đột vũ trang nào nhằm đòi lại tỉnh Silesia nữa, và nhà vua nước Phổ cũng không phải mất một tấc đất nào.[17] Về phía mình, ông không mời nước Nga tham gia Hiệp định Hubertusburg, để tránh trường hợp chiến tranh Nga-Phổ lần thứ nữa có thể diễn ra.[216]

Tượng đài Đại đế Friedrich II tại đại lộ Unter den Linden, Berlin.

Cùng năm với Hiệp định HubertusburgHiệp định Paris (1763) giữa Vương quốc Anh và Vương quốc Pháp. Trong Hiệp định này, Đại đế Friedrich II không đòi hỏi Pháp nhượng lại các tỉnh rải rác của nước Phổ ở miền Tây Đức, chẳng hạn như Wesel. Theo Hiệp định Paris, Quân đội Pháp phải rút khỏi các tỉnh ấy nhưng Phổ không chiếm lại được các tỉnh ấy. Tuy nhiên, sau khi quân Pháp bỏ đi, nhà vua nhanh chóng đòi lại các tỉnh này. Ông có nhiều lý do để cảm thấy buồn phiền rằng những người điều đình Anh Quốc đã không thể bảo vệ quyền lợi của ông. Nhờ có sự hòa giải của Nữ hoàng Maria Theresia, nhà vua đã chiếm lại những miền đất ấy.[216] Chiến thắng của Đại Đế Friedrich II trong cuộc chiến tranh lâu dài chống liên quân hùng mạnh đã đưa tên tuổi của nước Phổ trở nên nổi tiếng tại các lãnh địa của người Đức,[259] còn ông là "vị anh hùng của cuộc chiến tranh Bảy năm".[260][261] Tuy nhiên, về phía mình, ông phải từ bỏ quyền bá chủ lãnh địa Sachsen,[28] dù ông từng dự định chinh phạt xứ Sachsen và từ bỏ vùng Đông Phổ trong Hiệp định Nga-Phổ 1762 và từ chối nộp chiến phí cho lãnh chúa Sachsen.[216] Trong cuộc chinh phạt xứ Sachsen, ông đã chiếm đoạt rất nhiều người và của từ tay họ, và vốn chiếm lợi phẩm đồ sộ này góp phần giúp ông thành công trong việc tái thiết Đế chế Phổ sau này.[250] Cũng theo Hiệp ước Hubertusbug thì nhà vua nước Phổ có quyền tham gia việc bầu cử Đại Công tước Áo Joseph làm Hoàng đế La Mã Thần thánh - kế vị vua cha là Franz I.[262][263] Tuy nhiên, giờ đây ông đã có thể khẳng định rằng: ngay cả một liên minh Áo - Phổ không thể nào đẩy nước Phổ ra khỏi hàng ngũ liệt cường.[163]

Sau thắng lợi trong cuộc chiến tranh Bảy năm, Vương quốc Phổ nắm vai trò chủ chốt trên chính trường châu Âu,[108][264] được công nhận rộng rãi là một liệt cường.[265] Vương hiệu "Friedrich Đại đế" chính thức được người ta gọi cho ông sau chiến thắng lẫy lừng tại Rossbach (1757)[266] và thảm bại tại Kunersdorf (1759);[267] giờ đây không chỉ thần dân nước Phổ mà các nước lân bang cũng dùng từ "Đại đế" khi nhắc đến nhà vua.[259] Với tư cách là vị Quốc vương lừng danh nhất thế giới khi đó, danh tiếng của ông lan rộng khắp nơi, ngay cả vua xứ Maroc hay Hãn vương xứ Krym cũng phải kính trọng ông, ngay cả vua xứ SardiniaVictor Amadeus III cũng vô cùng thán phục ông.[268][269]

Đại Đế Friedrich II cùng Quân đội Phổ.

Vương quốc Phổ toàn thắng, vị vua kiệt xuất nhất trong cuộc chiến tranh Bảy năm đã đưa nước Phổ trở thành cường quốc quân sự giữ vai trò bá chủ trên toàn cõi Âu châu,[270] một đòn đánh đáng kể vào Hoàng quyền tối thượng của Hoàng đế La Mã Thần thánh.[256] Chiến thắng của ông và Quân đội Phổ trước liên quân các nước Áo, Pháp, Nga (vốn luôn có quân số đông đảo hơn họ[216]), v.v... được xem là một trong những thành tựu quân sự lớn nhất trong lịch sử châu Âu.[271] Theo một nhà ngoại giao người Pháp, vị thế của Vương quốc Phổ trong đế quốc La Mã Thần thánh giờ đây còn lớn mạnh hơn trước: với tư cách là người chiến thắng, Triều đình Phổ đã trở thành minh chủ của một bộ phận lớn những người Tin Lành có tư tưởng chống Áo hoàng.[272] Nữ hoàng Nga là Ekaterina II và Tuyển hầu tước xấu số của xứ Sachsen đã gọi ông là "kẻ thù tàn bạo", trong khi Nữ Hầu tước Pháp Pompadour - vốn căm ghét vị Quốc vương chiến thắng - mệnh danh ông là "Thiền Vu Attila của phương Bắc", ngay từ sau một loạt trận thắng huy hoàng của ông tại Rossbach và Leuthen (1757).[259] Người ta cũng thường ví von ông với vị Thiền Vu hung hãn Attila xưa, chẳng hạn như "Thiền Vu Attila trên đất Đức".[212] Bên cạnh đó, ngay sau cuộc chiến tranh Bảy năm, nước Phổ không còn có một đồng minh nào; nhà vua bằng mọi giá không đẩy Vương quốc Phổ vào bất kỳ một cuộc chiến tranh nào. Ông biết rằng, Vương quốc này chỉ mới trở thành một trong những liệt cường trên lục địa châu Âu, nhưng có thể mất vị thế này - vốn dựa vào sức mạnh của Quân đội đất nước.[107] Sau ngày khải hoàn, ông viết thư gửi Hầu tước D'Agens:[167]


Để phổ biến những chiến công hiển hách của nhà vua nước Phổ ở Anh Quốc, nhà văn nổi tiếng (từng là Sĩ quan Quân đội Anh) là George Alfred Henty đã cho ra mắt tác phẩm "Câu chuyện về vua Friedrich Đại Đế và cuộc Chiến tranh Bảy năm" (1898). Nhà văn G. A. Henty ngưỡng mộ ông vì trong lịch sử, không, hoặc ít cuộc đại chiến nào trong lịch sử, giữa một nước khá nhỏ và một liên quân hùng mạnh lại kéo thật lâu, và kết thúc với chiến thắng rực rỡ của nước nhỏ kia. Nhờ thiên tài quân sự của nhà vua và sự chấp hành kỷ luật xuất sắc của toàn dân và Quân đội Phổ, Vương quốc Phổ chiến thắng với một ý nghĩa hết sức quan trọng không kém cuộc chiến tranh Ba mươi năm: Đức tin Kháng Cách mãi mãi được bảo tồn ở Đế quốc La Mã Thần thánh, thay vì bị diệt vong. Cũng theo nhà văn G. A. Henty, dù Vương quốc Anh (vốn làm chủ xứ Hanover) có điều kiện thuận lợi hơn Vương quốc Phổ, nhờ có chiến thắng của nhà vua - anh hùng nước Phổ mà Quân đội Anh giành lấy hai thuộc địa Ấn Độ và Canada từ tay quân Pháp.[228]

Liên minh Nga-Phổ và cuộc chia cắt Liên bang Ba Lan-Litva (1772)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đế Friedrich II qua nét vẽ của Johann Georg Ziesenis (1716–1776) - họa sĩ người Đức gốc Đan Mạch. (1763)

Một mặt, sau khi cuộc Chiến tranh Bảy năm kết thúc, Đại đế Friedrich II vẫn tiếp tục công cuộc mở mang bờ cõi của Vương quốc Phổ,[205] và diễn một sự kiện hết sức quan trọng: cuộc chia cắt Ba Lan.[273] Nữ hoàng Ekaterina II lên thống trị Đế quốc Nga sau khi giết hại Nga hoàng Pyotr III. Khác với người chồng Pyotr III, Ekaterina II là Nữ hoàng Nga chống Phổ quyết liệt, trong khi Đại Đế Friedrich II là vị vua từng giao chiến với nước Nga trong cuộc chiến tranh Bảy năm - cái thời mà quân Nga được tự do vượt qua Liên bang Ba Lan-Litva. Dù vậy, sau chiến tranh Bảy năm, nước Nga đã mỏi mệt,[226] do nước Phổ không còn đồng minh nên việc thành lập liên minh với Đế quốc Nga là cần thiết, trong khi các nước Áo và Pháp vẫn còn thái độ thù địch: do đó, tuy hai vị vua ghét nhau, Đại đế Friedrich II đã đề nghị Nữ hoàng Ekaterina II liên minh với ông, và hai vị Đại đế đã ký kết Hiệp ước, thành lập một liên minh phòng thủ vào ngày 11 tháng 4 năm 1764.[107][274] Theo Hiệp ước này, Đế quốc Nga công nhận quyền cai quản vùng Silesia của Vương quốc Phổ - Brandenburg, đổi lại Phổ ủng hộ Nga chống lại Đế quốc Áo - Habsburg hoặc là đế quốc Ottoman của người Thổ. Giành được sự ủng hộ của nước Phổ cũng cần thiết trong việc Ekaterina II đưa người tình của bà là Stanisław August Poniatowski - một nhân vật không có cá tính và nghị lực - lên làm vua Ba Lan hòng giúp Nga khống chế nước này.[275] Vào tháng 9 năm đó, với sự ủng hộ của Ekaterina II, Stanisław August Poniatowski được tôn làm vua nước Ba Lan. Liên minh Nga-Phổ giữa Ekaterina II và Friedrich II kéo dài cho đến năm 1781.[242]

Trong phiên họp Repnin năm 1767, đế quốc Nga tăng thêm ảnh hưởng đáng kể đối với Liên bang Ba Lan-Litva. Việc làm này đe doạ đến Áo và người Thổ Ottoman, nhưng cũng khiến cho Đại đế Friedrich II lo ngại. Năm sau (1768), bất chấp sự hiện hữu của Liên minh Nga-Phổ, đế quốc Ottoman tuyên chiến với Nga.[107] cuộc chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1768–1774) bùng nổ: dù ông không muốn đế quốc Nga trở nên lớn mạnh hơn sau khi chiếm được những vùng đất nằm dưới quyền cai quản của triều đình Ottoman, ông trợ cấp cho Ekaterina II 300.000 rúp. Trước sự trỗi dậy của nước Nga, nhà vua nước Phổ và Hoàng đế Joseph II cùng Thủ tướng Áo là Wenzel Anton (Vương công xứ Kaunitz-Rietberg) đã lập lại mối quan hệ hữu nghị Áo-Phổ. Ngay từ năm 1731 (khi còn học tập ở tỉnh Küstrin), trong bức thư gửi Thống chế Dubislav Gneomar von Natzmer, ông đã cho rằng việc sáp nhập phần Ba Lan thuộc Phổ sẽ giúp cho các lãnh thổ phía Đông của Vương quốc Phổ được thống nhất.[276] Trong quan hệ Phổ - Ba Lan, ngay từ năm 1759 khi Quốc vương Phổ phá tan tác nguồn tiếp viện của quân Nga, ông chỉ viết bằng tiếng La Tinh trong công văn gửi cho Quốc vương Ba Lan, vậy mà triều đình Ba Lan rất nể sợ ông.[277]

Các vị vua Friedrich II, Ekaterina II và Joseph II chia cắt "chiếc bánh" Liên bang Ba Lan-Litva (1772).

Mùa đông 1770 - 1771, em trai Đại đế Friedrich II là Friedrich Heinrich Ludwig đến bệ kiến Nữ hoàng Ekaterina II tại kinh thành Sankt-Peterburg. Thấy nước Áo sáp nhập một số vùng đất vào năm 1769, triều đình Nga gợi ý nước Phổ chiếm đóng một số vùng thuộc Ba Lan, chẳng hạn như Warmia. Nghe vậy, Hoàng tử Heinrich trình tấu kế hoạch này lên vua anh, và nhà vua gợi ý tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan giữa ba đế quốc Phổ - Áo - Nga. Thấy vậy, Thủ tướng Áo Kaunitz yêu cầu Đế quốc Phổ, sau khi lấy đất của Ba Lan, phải trả lại tỉnh Silesia cho Đế quốc Áo, nhưng Đại đế Friedrich II không dại gì làm theo đề xuất này.[278][279]

Sau khi quân Nga chiếm đóng các công quốc vùng Danube, Hoàng tử Friedrich Heinrich Ludwig đã thuyết phục vua anh và nữ hoàng Áo Maria Theresia rằng sự cân bằng quyền lực sẽ không được duy trì bằng những cuộc xâm chiếm lãnh thổ thuộc Ottoman của quân Nga, mà bằng một cuộc phân chia Liên bang Ba Lan-Litva được thực hiện bởi ba cường quốc Phổ - Nga - Áo. Trong cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất vào năm 1772, vua Friedrich II nhận lấy phần lớn tỉnh Prusy Królewskie (nằm ở vùng hạ sông Vistula) của Liên bang Ba Lan-Litva.[280] Ông sáp nhập 36 nghìn cây số vuông lãnh thổ cùng với 60 vạn dân cư vào Vương quốc Phổ - Brandenburg. Như vậy, Phổ là nước nhận được ít đất đai nhất trong ba liệt cường tham gia cuộc phân chia lãnh thổ của Liên bang Ba Lan-Liva.[281] Tuy nhiên, vùng đất mới Tây Phổ đã hợp nhất với Đông Phổ cùng các vùng Brandenburg, Hinterpommern và khiến cho Triều đình Phổ - Brandenburg nhận được quyền cai quản cửa sông Wisla, một khu vực có giá trị kinh tế quan trọng. Mặc dù Maria Theresia đã chấp thuận việc phân chia này một cách miễn cưỡng, theo Đại đế Friedrich II, "dù bà ta đã khóc, nhưng bà ta buộc phải đồng ý".[282]

Như vậy, với kết quả của cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất (1772), trong khi Nữ hoàng Maria Theresia thì bực mình, Nữ hoàng Ekaterina II cũng không thoả mãn, nhưng Đại đế Friedrich II đã thu được lợi nhuận hơn cả, dù ông không chiếm được vùng Danzig hoặc là vùng Thorn (Torun).[283] Ông nhanh chóng thực hiện cải tổ về mặt hành chính, luật pháp, là cải tiến hệ thống trường học ở Tây Phổ.[284] Tuy nhiên, nhà vua tỏ ra coi thường những thần dân mới của mình. Ông không làm gì ngoài việc xúc phạm szlachta, một nhóm quý tộc người Ba Lan, vì viết rằng Ba Lan "là nước có một chính phủ tồi tệ nhất ở châu Âu, nếu không kể Thổ Nhĩ Kỳ".[282] Ông xem Tây Phổ là nơi chưa có văn minh, giống như vùng đất Canada - một thuộc địa của đế quốc Anh thời bấy giờ,[285] lại còn so sánh người Ba Lan với người Iroquois ở Bắc Mỹ.[282] Nhà vua xem cuộc chia cắt Ba Lan là hậu quả của "sự ngu xuẩn của bọn Potockis, Krasi_skis, Oginskis, và tất cả những tên tiện dân có tên kết thúc với chữ -ki"; trong thư gửi Voltaire vào năm 1772, ông gọi họ là "giống người sắp tuyệt chủng ở châu Âu".[286] Trong lá thư gửi Heinrich, ông cho rằng:


Vua Friedrich II bèn cho người Đức đến Tây Phổ để quy hoạch tỉnh này.[284] Ông cũng có hy vọng rằng những người Phổ này sẽ hất cẳng những người Ba Lan ra khỏi Tây Phổ.[288] Nhiều quan đại thần người Phổ cũng tỏ thái độ coi thường người Ba Lan.[285] Tuy nhiên, bên cạnh đó nhà vua đối xử tốt với một số người Ba Lan, chẳng hạn như Tổng Giám mục Ignacy Krasicki, người đã làm lễ khai trương Đại giáo đường Thánh Hedwig vào năm 1773. Ngoài ra, ông còn khuyên các vị vua kế tục nên học tiếng Ba Lan. Họ đã làm theo lời khuyên của ông, mãi cho đến khi Hoàng đế Friedrich III quyết định không cho con mình là Wilhelm II học ngôn ngữ này.[284] Vào tháng 3 năm 1775, nước Phổ ký kết Hiệp ước thương mại với Ba Lan, đánh đấu một bước tiến trong chính sách đầy tham vọng về phía Đông.[283] Theo đó, hàng xuất khẩu của Ba Lan vào Vương quốc Phổ - Brandenburg triều đình bị đánh sưu cao thuế nặng.[289] Nhà văn Thomas Carlyle nhận định:[11]


Sau công cuộc chia cắt Vương quốc Ba Lan-Litva, Đại Đế Friedrich II cùng các vị vua kế tục cũng phá hủy lâu đài Marienburg của người Ba Lan, và chọn lâu đài này làm nơi thu hoạch thóc lúc và đạn dược.[290]

Đại Đế Friedrich II và cuộc chiến tranh Cách mạng Mỹ (1775 - 1785)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đế Friedrich II qua nét vẽ của Adolph von Menzel, 1859.

Đại đế Friedrich II có ác cảm với Chính phủ Huân tước Bute của Anh Quốc. Vị Thủ tướng này không duy trì liên minh Anh-Phổ của cựu Thủ tướng William Pitt Già[291] - nhà chính trị vô cùng ngưỡng mộ Quốc vương Phổ.[139] Những năm tháng thái bình thịnh trị cuối đời Friedrich II chứng kiến cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh Quốc tại Bắc Mỹ.[292] Khi Cách mạng Mỹ bùng nổ, Chính phủ Anh tố cáo ông ngăn cản việc họ thuê một toán quân Nga làm lính đàn áp Cách mạng Mỹ, và cho các tướng tá Phổ đứng về phe Cách mạng, nhưng vô căn cứ. Ông không hề ban chiếu chỉ nào cho các tướng tiến đánh quân Anh, và một Nam Tước Phổ là Friedrich Wilhelm Augustin Ludolf Gerhard chỉ tình nguyện giúp cho Cách mạng, không phải là nghe lệnh của nhà vua.[291] Ngay cả các sử gia người Đức cũng cho rằng Đại đế Friedrich II không phải là một người bạn của phong trào Cách mạng Mỹ. Cũng như Alexandros Đại Đế xứ Macedonia và Karl XII của Thụy Điển, ông vừa là một nhà chinh phạt lỗi lạc mà vừa là một vị Quân vương chuyên chính độc tài,[105] do đó, ông không có thiện cảm với "những kẻ phiến loạn" trong thâm tâm. Friedrich Kapp nhìn nhận:[293]

Bản thân Quốc vương nước Phổ cũng trơ trẽn thừa nhận ông có ý định "đứng về phe nào có lợi thế trong cuộc chiến tranh". Lúc bấy giờ, ông mong muốn tái lập liên minh Nga-Phổ. Vì thế, ông đồng ý với đề xuất trung gian của Đại đế Ekaterina II trong cuộc Cách mạng Bắc Mỹ. Khi bà thiết lập "Liên minh các nước trung lập vũ trang" chống lại Đế quốc Thực dân Anh do chịu ảnh hưởng từ nhà vua nước Phổ,[294] ông đã tham gia liên minh này.[295] Thấy một số lãnh chúa người Đức cho quân đến giúp Đế quốc Anh khủng bố cao trào Cách mạng, Đại Đế Friedrich II gửi thư cho Đại sứ Phổ ở Luân Đôn (1778):[291]

Chân dung Đại Đế Friedrich II trong một cuốn sách ở Thụy Điển vào thập niên 1870.

Sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ thắng lợi, ông thừa nhận nền độc lập của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ. Một lý do khác khiến ông tham gia "Liên minh các nước trung lập vũ trang" là do ông muốn phát triển nền thương mại nước nhà,[296] như một lá thư giữa quan Khâm sai Đại thần Phổ và một nhà ngoại giao người Mỹ ghi nhận khi Cách mạng còn tiếp diễn: "Theo văn kiện của một viên đại thần trên danh nghĩa Đức Vua, Đức Vua nước Phổ tuyên bố: những thương gia Bắc Mỹ chắc chắn sẽ giành độc lập cho non sông, và họ sẽ mang tàu buôn của họ vào các cảng của Đấng Chí tôn, mà Người không hề cấm chỉ" (1779).[297] Vào năm 1785, nhà khoa học Benjamin Franklin đàm phán với ông, và ký kết Hiệp ước thương mại Phổ - Mỹ.[298][299] Ông trở thành một trong những vị Quân vương châu Âu đầu tiên ký Hiệp ước thương mại với nền Cộng hoà mới ở Bắc Mỹ.[292] Hiệp ước có những điều khoản rất tự do, và trở thành tấm gương cho các cường quốc Âu châu khác noi theo.[297]

Ông được các nhà cách mạng Mỹ George Washington, Benjamin Franklin hay Greene thán phục. Đến Mỹ, Nam tước Friedrich Wilhelm Augustin Ludolf Gerhard von Steuben - nguyên là Sĩ quan Quân đội Phổ - được chào mừng như một trong những chiến binh dưới quyền Đại đế Friedrich II.[300] Sự hiện hữu của nhiều nhà hàng mang tên "Quốc vương nước Phổ" là một biểu hiện của lòng yêu mến của nhân dân Mỹ đối với Đại đế Friedrich II. Không những các nhà hàng và thị trấn, nhân dân các thuộc địa ở Bắc Mỹ cũng đặt tên những con tàu buôn của họ là "Quốc vương nước Phổ", vì nhận thấy những chiến thắng của ông có ảnh hưởng đến sự rút lui của thực dân Pháp ra khỏi Canada.[301] Là vị minh chủ cuộc đấu tranh của người Tin Lành chống đế quốc Áo, những người Đức tại Pennsylvania và New York và cả các lãnh tụ Cách mạng Mỹ xem ông là vị vua tài giỏi nhất, người chiến binh kiệt xuất nhất của Âu châu, và xem cuộc chiến tranh Bảy năm anh hùng của ông như một tấm gương để người Mỹ noi theo.[291]

Theo truyền thuyết, Đại đế Friedrich II - Vương chủ của các Hội Tam Điểm trên toàn cõi châu Âu - từng tặng quốc phụ Hoa Kỳ George Washington một thanh bảo kiếm, với câu đề tặng (1780):[302]


Tuy nhiên, theo một bài viết đăng trên tạp chí The Century Magazine of April (1891) của Moncure D. Conway, tác giả cuốn tiểu sử Đại đế Friedrich II là Carlyle cho biết: ông chưa từng phát hiện ra một bằng chứng nào có lẽ là nền tảng của truyền thuyết này. Vào ngày 9 tháng 8 năm 1780, tờ báo New Jersey là tài liệu đầu tiên ghi nhận về câu chuyện này, nhưng theo đó Quốc vương Phổ gửi tặng vị Tướng Washington một tấm chân dung của ông, chứ không phải là một thanh bảo kiếm.[304] Song, cũng không có bằng chứng nào cho biết câu chuyện này là có thật.[305]

Những chiến thắng chống Áo cuối đời (1778 - 1785)[sửa | sửa mã nguồn]

"Đại đế Friedrich II và anh quân y", tranh sơn dầu trên vải bạt của Bernhard Rode.

Là một ông vua có tính sôi nổi và bốc đồng, Hoàng đế Áo Joseph II rất ngưỡng mộ Friedrich II Đại đế vì thiên tài, tinh thần triết học Khai sáng và sự anh dũng của ông, và khao khát noi gương theo công cuộc cải cách đổi mới nước Phổ của ông.[306][307] Vào năm 1769, Joseph II đến thăm ông tại Neisse, tỉnh Silesia. Năm sau, ông lại viếng thăm Joseph II tại Moravia. Joseph II là một vị vua chân thành và thẳng thắn; nhưng vua Friedrich II thì thận trọng hơn, nhận ra rằng Joseph II tuy thế nhưng đồng thời là một ông vua có tham vọng lớn lao, sau này sẽ gây hiểm họa cho Vương quốc Phổ - Brandenburg.[19] Do đó, sau những lần gặp này, ông treo một tấm hình Hoàng đế Áo trong phòng của mình. Khi một số người để ý đến việc này, Đại đế Friedrich II nói với họ:[308]

“ 

Đúng vậy! Trẫm vẫn luôn quan sát vị hoàng đế trẻ tuổi này.

 ”

Quả nhiên, về cuối đời, ông lại phải tham gia một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ hơn - Chiến tranh Kế vị Bayern (1778 – 1779), chống lại âm mưu chiếm đóng xứ Bayern của Hoàng đế Áo - một chiến thắng về mặt ngoại giao của Đại đế Friedrich II.[309] Trước sự xâm lược của Đế quốc Áo, nhân dân Bayern thường than "Đức Chúa Giê-xu, Đức Mẹ Maria, Đức Vua Friedrich" với mong muốn được giải phóng. Tuy chủ trương chính sách hòa bình hữu nghị và là một đại lão chính trị gia,[310] ông quyết định đứng ra bảo vệ các Vương hầu người Đức, để dẹp tan những tham vọng của người Áo. Đại Đế Friedrich II nói với hoàng đệ Friedrich Heinrich Ludwig:[135]

Ông thiết lập liên minh với Tuyển hầu tước xứ Sachsen và Công tước Karl xứ Zweibrüken. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1778, ông cùng ba quân rời kinh đô Berlin. Vào ngày 3 tháng 7 năm 1778, ông cùng đại quân tinh nhuệ vượt từ Silesia, đến nhiều dãy núi qua biên giới Bohemia. Dù Quân đội Phổ hùng mạnh hơn hẳn, nhà vua - bấy giờ đã 66 tuổi và trở nên hết sức thận trọng[311] - áp dụng lại chiến thuật mà ông đã làm tại Bunzelwitz trong bảy năm chinh chiến (1761):[225] ông chỉ phòng thủ và đe dọa đối phương, chứ không đánh một trận đại chiến nào với quân Áo.[135] Chỗ ông đóng quân được ngăn cách với chỗ Joseph II đóng quân bằng công sông Elbe.[312] Quân đội Phổ thường hay cướp phá dữ dội vào lãnh thổ Áo, chở từng xe đầy khoai tây cướp được mang về nước và thế là sinh ra cái tên "cuộc chiến tranh khoai tây".[313] Hoảng sợ, Nữ hoàng Áo Maria Theresia gửi thư gợi ý nhà vua nước Phổ lập lại hòa bình, và ông cũng hứa: từng bước tiến của ông sẽ không để cho Nữ hoàng lo sợ về tính mạng của hoàng nhi Joseph II, dù ông có quan điểm bất đồng với Joseph II.[297] Cuối cùng thì ông rút lui khỏi xứ Bohemia,[311] và một lần nữa nước Áo là kẻ thất bại. Đại Đế Friedrich II tuyên bố hào phóng rằng ông sẽ không đòi bất kỳ một khoản chiến phí nào của vua Áo.[250]

Sau nhiều thỏa thuận bí mật giữa Nữ hoàng Maria Theresia và Đại Đế Friedrich II, ông ký kết Hiệp định Teschen: chính nhà vua nước Phổ đã đề xướng các điều khoản của Hiệp định này,[314] theo đó, ông lấy được các xứ Ansbach và Baviere từ tay người Áo, đẩy lui quân Áo khỏi xứ Bayern,[225] và giữ vững sự cần bằng quyền lực giữa Đế chế Áo - Habsburg và Đế chế Phổ - Hohenzollern.[107][205] Đến năm 1780, ông trở thành vị Bá vương một phần tỉnh Mansfeld ở miền trung Đức.[315] Hay tin Nữ hoàng Áo Maria Theresia qua đời cùng năm ấy, Đại Đế Friedrich II nói:[312]

Phúng dụ sự kiện Đại đế Friedrich II liên minh với các vua chư hầu người Đức, tranh sơn dầu trên vải bạt (1786).
Ý tưởng về một Đế chế Đức thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy ông cho rằng Hoàng đế Joseph II sẽ trả thù bằng mọi giá, nước Phổ vẫn thanh bình trong vòng 5 năm.[312] Nhưng, Hoàng đế Áo lại lăm le sáp nhập Bayern vào Đế quốc Áo lần thứ hai, qua việc tái lập liên minh Áo - Nga - Pháp, Đại đế Friedrich II hết sức lo buồn, thường than rằng việc thống trị nước Phổ đã trở thành một nỗi lo đối với tấm thân 70 tuổi của mình.[313] Ngay từ năm 1762, trong lá thư gửi cho Hầu tước D'Agens vào năm 1762, ông ngự bút: "Trẫm làm việc đại sự thật khó và gian nan, có lẽ không ai biết được cái ngai vàng của Trẫm sẽ đi về đâu, lạy Chúa..."[167] Tuy nhiên, ông lại một lần nữa đánh bại Joseph II bằng việc thiết lập "Liên minh các Vương hầu người Đức" (Fürstenbund) vào ngày 23 tháng 7 năm 1785, cùng với các lãnh chúa xứ Sachsen và Hanover.[316] Và, ông đã toàn thắng khi một loạt lãnh chúa người Đức (Hesse-Cassel, Gotha, Weimar, Brunswick, Ansbach, Baden, Anhalt, v.v...), bất chấp sự đối kháng của Hoàng đế Áo, đồng loạt theo về minh chủ Friedrich II.[135] Sự kiện này đã khiến ông được xem là người bảo vệ những đặc quyền của một số tiểu quốc nói tiếng Đức,[317] chứ không còn là vị vua gây chiến với triều đại Habsburg như trước đây nữa. Ngay từ năm 1782, các xứ Baden, Weimar và Anhalt-Dessau đã ngấm ngầm thành lập liên minh chống cả Áo lẫn Phổ, và đã thất bại với việc Đại Đế Friedrich II thiết lập và làm minh chủ của "Liên minh các Vương hầu" người Đức (1785).[318] Ông đã thành công một phần nhờ sự phò tá của viên quan tài ba Heinrich Friedrich Karl Reichsfreiherr vom und zum Stein; Vương quốc Pháp và Đế quốc Nga chống đối ý tưởng ái quốc này, nhưng chẳng làm trò trống gì được; và nông dân Bayern kính trọng Đại Đế Friedrich II xem ông là vị Quân vương bảo hộ của họ trên Trái Đất.[319]

"Liên minh các Vương hầu" cũng là cống hiến cuối cùng của nhà vua nước Phổ đối với nền chính trị châu Âu và cả thế giới, đỉnh cao của những chiến thắng mà ông đạt được trong suốt cuộc đời ông.[135][320][321] Là minh chủ của "Liên minh các Vương hầu", đây là lần đầu tiên nước Phổ hòng thống nhất các vua chư hầu người Đức thành một Đế chế Đức do Quốc vương Phổ thống trị.[322] Qua việc thành lập liên minh này, vị minh chủ "Liên minh các Vương hầu" một lần nữa thể hiện địa vị liệt cường của nước Phổ, và đẩy lùi ảnh hưởng của Đế quốc Nga và nước Pháp ra khỏi Đế chế Đức.[140] "Liên minh các Vương hầu" còn ảnh hưởng lớn đến việc sáng tác "Huyền thoại về Đức Vua Friedrich" của phong trào dân tộc chủ nghĩa nước Đức - một huyền thoại có nội dung khác hẳn với sự thật về những chính sách của ông.[323]

Xây dựng một nước Phổ giàu mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong số những Quân vương Khai sáng chuyên chính, Đại đế Friedrich II xem ông là vị vua sáng suốt thoát khỏi những thành kiến và sự ngu dốt của tiên vương,[27] hay chỉ một vị Quốc vương chuyên chính mới có thể cải thiện đời sống của thần dân.[73] Cũng theo ông, một đất nước có nền kinh tế yếu kém không thể tự vệ được.[123] Dưới triều đại lâu dài của ông, thuật ngữ "travailler pour le roi de Prusse" (Hết mình phò tá Đức Vua nước Phổ) ra đời, ám chỉ việc chúng ta làm một cái gì đó chỉ vì lợi ích của nó, nhưng không phải là một hành vi phi lý và không giúp ích gì cho đất nước.[86] Vì thế, ông đã thực hiện những cải tổ về nền chính trị và kinh tế của nước Phổ nghèo nàn, đưa nền kinh tế nước Phổ trở nên thịnh vượng.[120] Quốc vương cho rằng:[325]

Xem ra kinh tế đất nước chính là vấn đề thứ hai mà Đại đế Friedrich II quan tâm, sau việc quân sự. Về kinh tế, ông cũng noi theo những chính sách của phụ vương Friedrich Wilhelm I, nhưng ngăn nắp hơn và tham vọng hơn.[326] Cuộc chiếm đóng xứ Silesia đã đem lại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp non trẻ của nước Phổ. Nhà vua đã thực hiện chính sách khuyến nông[27] và bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước bằng các biện pháp như: đánh thuế nhập khẩu cao và giảm bớt tối đa các rào cản trong nội thương. Triều đình huy động nhân dân xây các kênh đào (trong số đó có một kênh nằm giữa sông Vistula và sông Oder) cấp nước cho các đầm lầy để canh tác nông nghiệp, và giới thiệu các loại cây trồng mới như khoai tâycủ cải. Đại đế Friedrich II đã đặt Oderbruch làm một tỉnh của Vương quốc Phổ, ông cho rằng "Trẫm đã chinh phạt được Orberuch mà không phải tốn một mũi tên": phần lớn đầm lầy ở đây trở thành nơi trồng trọt sau các năm 1746 – 1753.[327] Vào tháng 5 năm 1744, lãnh chúa Charles Edvard của xứ Đông Frisia qua đời, ông bác bỏ quyền thừa kế của triều đại Hanover và chiếm luôn xứ Đông Frisia, mở rộng tầm nhìn ra Biển Bắc. Ông ao ước thành Emden (Đông Frisia) sẽ là một đối thủ của Amsterdarm tại Đế quốc Hà Lan, do đó ông cho phép họ được tự do buôn bán vào năm 1751.[232][328] Với sự giúp đỡ của các chuyên gia người Pháp, ông đã cải tổ hệ thống thuế gián thu. Thuế gián thu đã mang lại thu nhập cao (hơn thuế trực tiếp) cho Nhà nước. Sự hiện hữu của các quan đại thần người Pháp tồn tại trong suốt triều đại Friedrich II, và ông luôn lo sợ nhân dân Phổ chỉ trích ông về việc này.[19]

Tranh vẽ Đại đế Friedrich II, không rõ là của họa sĩ nào.

Không những tiến hành canh tân hệ thống giao thông, ông còn hạ lệnh cho thiết lập nhà máy và nâng cao toàn bộ thực lực mà Vương quốc Phổ có được sau khi chinh phạt vùng Silesia.[83] Đại đế Friedrich II đã hạ lệnh cho thương gia Johann Ernst Gotzkowsky (1710 – 1775) khuếch trương thương mại và cạnh tranh với người Pháp bằng việc mở một cơ sở sản xuất tơ lụa, đồng thời cung cấp 1.500 việc làm chỉ tại nhà máy này. Đại đế Friedrich II tiếp tục khuyến cáo người dân nộp thuế cầu, đường, chợ, v.v... và hạn chế sự nhập khẩu hàng hóa. Vào năm 1763, khi Johann Gotzkowsky bị phá sản do một cuộc khủng hoảng tài chính vốn xuất phát từ Frankfurt và Amsterdam,[329] nhà vua đã giành lấy kiểm quyển soát công ty sản xuất đồ sứ của ông này (KPM), nhưng lại không mua thêm tranh do Gotzkowsky bán. Do đó, công ty sản xuất đồ sứ "KPM" trở thành một công ty thuộc quyền kiểm soát của Hoàng gia Phổ Quốc.[330]

Dưới triều vua Friedrich II Đại Đế, ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh Bảy năm và cuộc chinh phạt xứ Silesia đã dẫn đến sự thay đổi lớn lao của nền kinh tế đất nước. Trong bảy năm chinh chiến, Triều đình Friedrich Đại Đế xuống chiếu khuyến nhân dân đóng thuế đến 43 triệu thaler. Suốt bảy năm ấy, có 3 lần nhà vua giảm giá đồng tiền Phổ. Không những thế, ông cũng thu thập những đồng tiền mà ông chiếm được từ tay liên quân chống Phổ tại các tỉnh Silesia, Pomerania, v.v... Một thành tựu kinh tế quan trọng trong bảy năm chinh chiến là Hiệp định Anh - Phổ vào ngày 11 tháng 4 năm 1758, theo đó vua Anh viện trợ 27 triệu thaler cho vua Phổ, góp phần giúp ông giành thắng lợi.[331] Vào năm 1763, sau ngày khải hoàn, ông bắt tay vào việc tái thiết dần dần nước Phổ đang ở trong tình trạng đổ nát - cái giá của những chiến thắng lừng lẫy của ông trước quân Nga, quân Pháp, quân Áo, quân Sachsen, quân Thụy Điển hay v.v..., nhưng những chiến công này cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của toàn dân nước Phổ, góp phần giúp nhà vua hoàn tất sự nghiệp tái thiết đất nước.[173][19][261] Trong công cuộc tái thiết Vương quốc, sử sách ghi chép rõ: nhà vua không hề nợ của ai bất kỳ một đồng đô la nào.[106] Cũng như tiền bối Julius Caesar và hậu thế George Washington, khi hòa bình đến, ông không hề bỏ rơi sự năng nổ, nhìn xa trông rộng và lòng yêu nước thiết tha.[214] Nhà vua tận tuỵ thương dân, ông thức dậy lúc 4 giờ sáng và làm việc đến 20 tiếng đồng hồ trong một ngày,[106] do đó sự thịnh vượng của nước Phổ đã quay trở lại.[19] Việc lưu hành tiền bị giảm giá đã giữ cho giá cả các mặt hàng tiêu dùng luôn ở mức cao. Vào tháng 5 năm 1763, Triều đình Friedrich II ban hành Thánh chỉ về việc ước lượng lại đồng tiền Thaler. Với sắc lệnh này, giá trị đồng tiền, vốn trước kia không được chấp nhận trong giao dịch, được ổn định lại và đảm bảo được các khoản thu từ thuế bằng giá trị trước chiến tranh. Ở miền Bắc Đức, người ta dùng đồng Reichsthaler thay cho đồng Thaler, có giá trị bằng một phần tư giá trị đồng Conventionsthaler. Nước Phổ đã dùng đồng Thaler, có giá trị bằng một phần mười bốn đồng bạc Mark Cologne. Ít lâu sau, nhiều vị vua khác đã theo bước Đại đế Friedrich II trong việc cải cách tiền tệ nước họ - kết quả là sự thiếu hụt tiền mặt, dẫn đến sự giảm giá.[332]

Nhà vua nước Phổ cũng thiết lập Ngân hàng Berlin vào năm 1764, và đặt ngân hàng này làm ngân hàng quốc gia. Ông đã gửi một số tiền tương đương với 8 triệu thalers vào Ngân hàng Berlin.[333] Cũng sau ngày khải hoàn, ông ban hạt giống cho địa chủ của ruộng đất bị bỏ hoang để họ gieo trồng,[19] ban cho thần dân xứ Silesia ba triệu thaler, và thần dân xứ Pomerania hai triệu thalers. Ông còn truyền lệnh cho xây dựng lại những ngôi nhà, cung cấp tiền tự do cho những ngôi nhà được tái xây dựng và ban thưởng cho những Sĩ quan có công trong suốt cuộc chiến tranh tàn khốc. Những góa phụ của liệt sĩ được ông ban cho tiền trợ cấp.[211] Ông xuống chiếu giảm thuế hai năm đối với xứ Pomerania và Neumark, rồi giảm thuế sáu năm đối với xứ Silesia.[19]Chỉ trong vòng vài tháng, giờ đây tất cả mọi nông trang đều có ngựa trên toàn Vương quốc Phổ - Brandenburg.[19] Vào năm 1770, hầu như tất cả những ngôi làng bị hủy hoại đã sinh hoạt trở lại trên khắp Đế chế, nhân dân Phổ tiếp tục trồng trọt và trật tự đã ổn định lại, và tất cả các phủ đường bỏ trống đã được nhà vua lấp đầy người vào.[100] Vào năm 1773, nước Phổ có đến 264 nhà máy mới, đó là những nhà máy tinh chế đường, nhà máy làm đồ bằng da, nhà máy làm thuốc lá hay nhà máy sản xuất đồ sứ, v.v...[12] Tổng cộng, cuối đời Friedrich II, ông dùng 24 triệu thaler để cải thiện nền nông nghiệp và công nghiệp.[106] Đại đế Friedrich II cũng củng cố quyền thống trị của ông đối với các vùng đất bị chiếm đóng. Từng là một ông vua hiếu chiến, lại còn tham gia chia cắt Vương quốc Ba Lan và can thiệp vấn đề thừa kế ngôi chúa xứ Bayern, nhưng ông thống trị nước Phổ thái bình trong những năm cuối triều đại ông.[334]

"Đức Vua ở khắp mọi nơi", hoạ phẩm của Robert Warthmüller (1886), cho thấy Đại đế Friedrich II thăm một trang trại khoai tây.

Trong thời gian đó, tuy tuổi già sức yếu, sức khỏe của Đại Đế Friedrich II đã cải thiện sau cuộc chiến tranh Kế vị Bayern. Do đó, ông tiếp tục hăng hái tiến hành những cuộc duyệt binh và thao diễn. Trong những chuyến vi hành đến Wustrau, ông thường cất nhắc danh tướng Hans Joachim von Zieten đi theo ông. Blumenthal có nhận định:[101]

Cũng như tiên vương Friedrich Wilhelm I, nhà vua không những quan tâm đến việc quân sự, lại còn theo dõi chặt chẽ hệ thống hành chính nước Phổ.[41][335] Nhà vua - nhà chinh phạt của vùng Rossbach và Zorndorf[336] - đã xây dựng một hệ thống Chính phủ Đế chế Phổ - Brandenburg thời cận đại, hiệu quả nhất trên toàn cõi châu Âu.[123] Khi ông lên nối ngôi, nước Phổ có ba vị Thủ tướng: Heinrich von Podewils, Adrian Bernhard von Borck và Wilhelm Heinrich von Thulemeier. Heinrich von Thulemeier mất vào năm 1740, và không có người thay thế. Von Bock rời khỏi Chính phủ vào năm 1741 và được người cháu thế chức. Còn Von Podewils thì coi sóc việc ngoại giao cho đến khi qua đời năm 1760.[337] Vào năm 1749, Bá tước Karl-Wilhelm Finck von Finckenstein (11 tháng 2 năm 1714 – 3 tháng 1 năm 1800, Berlin) - từng là Sứ thần đến Vương quốc Thuỵ ĐiểnĐan Mạch được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Phổ.[338] Cho đến năm 1760, trụ cột của hệ thống hành chính Đế chế Phổ - Brandenburg là viên Bộ trưởng Chiến tranh (kiêm luôn chức Bộ trưởng Tài chính) Adam Ludwig von Blumenthal. Vào năm 1764, cháu trai của A. L. Blumenthal là Joachim lên nối nghiệp, tiếp tục làm quan qua nhiều đời vua. Có một lần, nhà vua nước Phổ đã căn dặn Thủ tướng Heinrich von Podewils:[62]

Cho đến năm 1786, nhà vua - thực chất là vị Thủ tướng của chính mình[17] - vẫn nghiêm khắc hạn chế những ảnh hưởng từ các vị đại thần trong triều, chẳng hạn như Bá tước Finck von Finckenstein, vị quan "rất ngưỡng mộ vua Friedrich II", theo ghi nhận của một người đương thời.[339] Khi còn làm Thủ tướng Chính phủ, Heinrich von Podewils có ít ảnh hưởng đến nền thống trị Phổ thời đó, chỉ là kẻ làm theo những mệnh lệnh khe khắc của Quốc vương. Theo Hamish Scott:[337]

Theo Giáo sư R. Lodge (Britain and Prussia, trang 72), Thủ tướng Von Finckenstein chỉ là một "kẻ phát ngôn của những ý định khẩn cấp của ông" và "bản thân ông không hề có ảnh hưởng gì đối với chính sách của vua Friedrich". Tuy nhiên, theo cuốn Liên minh Anh - Phổ và cuộc chiến tranh Bảy năm: nghiên cứu về các chính sách liên minh và ngoại giao, sự dè đặt kín đáo trong những bức thư giữa nhà vua và Thủ tướng cho thấy Von Finckenstein có những quan điểm rõ rệt trong chính sách đối nội và đối ngoại của nhà vua. Là một trung thần, Thủ tướng thường tấu thỉnh Quốc vương nghe về ý định riêng của mình, và Đại đế Friedrich II thử làm theo những ý định ấy một cách kỹ lượng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.[340] Sau năm 1763, nhà vua thường sống ở Postdam thay vì kinh đô Berlin, Thủ tướng Von Finckenstein và quan đại thần Hertzberg trở nên gần gũi với ông. Hai nhân vật này cũng tiếp tục làm quan qua nhiều đời vua.[337]

Vua Friedrich II đã tìm cách thiết lập một số cơ quan cùng làm việc với bộ máy Chính phủ Phổ sẵn có, nhưng lệ thuộc vào nhà vua hơn, và thi hành trách nhiệm mau lẹ hơn. Ông đã cải cách 'Hội đồng Chấp chính', được vua cha Friedrich Wilhelm I thiết lập trước đây. Để tăng hiệu quả của Hội đồng này, vua Friedrich II tiếp tục cải cách:[46] ông xuống chiếu thành lập một số Bộ mới để chăm lo kinh tế, khuyến khích công - thương nghiệp và cung cấp quân nhu cho Quân đội Phổ. Không may thay, do những trục trặc (chẳng hạn như mâu thuẫn giữa các Bộ), những cải cách 'Hội đồng Chấp chính' không thành công lắm. Vào năm 1763, ông lại đề xướng cải cách khác. Có thể nói, đây là ý tưởng giảm bớt quyền lợi của 'Hội đồng Chấp chính', và nâng cao ảnh hưởng của Quân vương trong mọi việc triều chính.[46] Sau đó, ông xuống chiếu thiết lập một số Bộ, và giao cho họ những trách nhiệm riêng biệt.

Dù Bộ trưởng các Bộ này thuộc về 'Hội đồng Chấp chính', trên thực tế họ là những quan chức hoàn toàn riêng lẻ và trực tiếp trao đổi mọi chuyện với nhà vua. Đại đế Friedrich II không có ý định xóa bỏ các Tổ chức Hành pháp Chiến tranh và Ruộng đất cấp tỉnh do tiên vương lập ra, nhưng ông cố gắng giảm bớt quyền hành của các Tổ chức này, và buộc họ phải thi hành Huấn lệnh của Hoàng gia nhanh chóng hơn. Do đó, khi nhà vua chiến thắng tại Silesia, ông giao xứ này cho các Tổ chức Hành pháp Ruộng đất - họ không lệ thuộc vào 'Hội đồng Chấp chính' nhưng trung thành với Quân vương. Nhà vua cũng làm điều tương tự khi chiếm đóng Tây Phổ sau cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất (1772). Vào năm 1783, ông nói với viên Thống đốc thành Breslau:[46]

Đại đế Friedrich II và người cháu - sau là vua Friedrich Wilhelm III.

Theo nhận định của cựu Thủ tướng Cộng hoà Liên bang Đức Helmut Kohl, tên tuổi của vua Friedrich II "gắn liền với sự mở đầu của nền thống trị bằng Luật pháp và một Chính phủ hiện đại".[123] Thậy vậy, nhằm xây dựng một Chính phủ Phổ công minh hơn, ông cũng đề xuất cải cách luật pháp,[12] nghe theo lời khuyên của một trong những học giả pháp luật nổi tiếng nhất thế kỷ XVIII - Coccejius. Kể từ thời Friedrich II, Luật pháp Phổ không còn núp dưới cái bóng của Luật pháp Đế quốc La Mã Thần thánh như trước nữa.[100] Cũng như Montesquieu và Beccaria, Nhà vua tin rằng Nhà nước cần có Luật pháp hơn là một Quân vương chuyên quyền, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận với công lý, đều phải tuân thủ pháp luật và việc ân xá cho một kẻ vô tội sẽ hay hơn là gán ghép cho họ tội này tội kia. Trong thư gửi Voltaire vào năm 1766 ông viết: "Một Quốc gia không thể tồn tại nếu không có Luật pháp, nhưng có thể tồn tại nếu không có Tôn giáo".[341] Do đó, Triều đình Phổ đã soạn thảo "Bộ luật Friedrich" (Codex Fridericianus) vào năm 1747. Tuy nhiên, những di sản vĩ đại hơn cả mà nhà vua để lại cho luật pháp Phổ là "Allgemeines preussisches Landrecht", được thực hiện bởi Đại Pháp quan Phổ - Bá tước Johann H. C. von Carmer (1721 - 1801), dựa trên bộ "Project des Corporis Juris Fridericiani", do Samuel von Cocceji (1670 - 1755) thực hiện trong các năm 1740 - 1751. Triều đình Phổ cũng dày công xây dựng một bộ luật mang tên "Landrecht", kết hợp giữa luật pháp nước Đức và luật pháp La Mã, được Đế quốc Phổ áp dụng chính thức vào năm 1794, khi Đại đế Friedrich II đã qua đời.[19] Quốc vương Phổ rất căm ghét thói lười biếng, và, cũng giống như tiên vương, ông sẵn sàng trừng trị những tên quan lười nhác. Ông nói:[28]

Luật pháp nước Phổ dưới thời Friedrich II là Bộ luật công minh nhất châu Âu thời bấy giờ.[123] Trước thời ông, vào năm 1721, Tuyển hầu tước Friedrich I đã nhấn mạnh rằng hình phạt tra tấn chỉ được áp dụng khi có ưng thuận của Quốc vương. Ngay từ khi lên nối ngôi, ông đã duyệt lại quy định này, và đặt ra những trường hợp tội phạm không thể dùng hình phạt tra tấn. Vào ngày 3 tháng 6 năm 1740 (chỉ ba ngày sau khi vua cha qua đời), ông tuyên bố rằng nước Phổ không thể dùng hình phạt tra tấn nữa, với ngoại lệ rất ít: chẳng hạn như nếu tội phạm đó có mưu đồ chống lại Đức Vua và Vương quốc.[342] Cho đến năm 1754, ông còn ra một lệnh tiến bộ hơn: tất cả những cách tra tấn đều biến khỏi Vương quốc Phổ, đây là lần đầu tiên hình phạt tra tấn bị bãi bỏ tại lục địa Âu châu.[343] Ông cho rằng hình phạt tra tấn không chỉ "tàn bạo" (grausam), mà cũng không phải là một cách tìm công lý; và hạn chế số lượng tội phạm có thể bị tử hình.[342] Hình phạt những cô gái phá thai cũng bị Triều đình ông xóa sổ.[344] "Amsterdam Gazette" đã thuật lại một câu chuyện vào ngày 13 tháng 2 năm 1784: có một chiến sĩ tỉnh Silesia, do lấy cắp một số vật trang trí tượng Đức Mẹ Đồng trinh Maria, bị kết án tử hình vì tội báng bổ thần thánh. Tuy nhiên, anh lính cãi lại rằng, Đức Mẹ do thương cảm anh, đã ban tặng cho anh những thứ quà ấy. Hay tin, vua Friedrich II hỏi các giáo sĩ Công giáo rằng một 'phép lạ' có thể xảy ra trong Công giáo hay không? Theo lời những tăng lữ này, một 'phép lạ' thật lạ lẫm nhưng không phải là không xảy ra. Sau đó, nhà vua phán:[345]

Tượng Đại đế Friedrich II tại thành phố Brandenburg, nước Đức.

Thời bấy giờ, nước Phổ là quốc gia sở hữu một hệ thống giáo dục tốt nhất trên toàn cõi châu Âu. Quốc vương Friedrich II tin rằng nền giáo dục có thể đào tạo ra những thần dân mẫu mực, phò vua giúp nước đánh giặc, tương tự như nền giáo dục xứ Sparta xưa kia.[346] Sau khi ông lên ngôi năm 1740, các trường dạy tiếng La Tinh ở Phổ đã được cải tổ. Tiếng Hy Lạp trở thành một trong những bộ môn quan trọng nhất trong các trường dạy tiếng La Tinh.[347] Vào năm 1753, ông hạ lệnh cho mở trường học tại những ngôi làng quê. Nhiều năm sau (1770), ông thiết lập Viện Hàn Lâm Mỏ ở Berlin, mở đầu cho quá trình hình thành của Trường Đại học Kỹ thuật Berlin.[348] Nhiều nước tích cực cạnh tranh với hệ thống giáo dục Phổ, trong số đó có cả Hoa Kỳ[349].

Tuy nhiên, ông không hề đổi mới cấu trúc xã hội khắt khe của Vương quốc Phổ cũng như không giải phóng tầng lớp nông nô.[41] Vì vậy, trong thời kỳ ông cầm quyền, người nông dân vẫn phải chịu khuất phục những gò bó của chế độ phong kiến Phổ.[73] Nhà vua đã ví von số phận của giai cấp nông dân như "những con súc vật thồ trong xã hội loài người", và đánh lên họ đầy đủ thuế má.[123] Đại đế Friedrich II có thể được xem là vị vua chỉ áp dụng triết học Khai sáng một cách nửa vời, dù truyền lệnh bãi bỏ nông nô ở ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Hoàng gia, ông không hề buộc tầng lớp quý tộc thống trị Phổ phải tuân theo ở ruộng đất riêng của họ, do ông cần sự ủng hộ của họ.[350] Không những thế, chủ nghĩa quân phiệt Phổ vẫn còn tồn tại dưới triều đại ông.[351] Triều đình Friedrich II cho phép những quý tộc Junker tha hồ mua ruộng đất, đổi lại họ phải trung quân ái quốc, và sẵn sàng ra tay đánh giặc.[79] So với nước Nga thời bấy giờ, nước Phổ của Đại đế Friedrich II mang tính tư sản hơn, nhưng so với nước Pháp - vốn có ảnh hưởng lớn đến nhà vua Phổ - Phổ là một cường quốc gần như không có tầng lớp trung lưu; thậm chí, nước Phổ của Friedrich II là quốc gia ít tính chất tư sản nhất trong các nước thuộc đế quốc La Mã Thần thánh.[86] Trong một lá thư từ từ thành phố Hamburg gửi Nikolai vào năm 1769, nhà văn người Đức Lessing đã lên án chế độ quân chủ chuyên quyền và cho hay, nước Phổ là "quốc gia mù quáng nhất của châu Âu", và nhà vua chỉ áp dụng tự do chủ nghĩa qua việc cho phép thần dân văng tục chửi thề tôn giáo truyền thống. Nhà văn Wieland cũng cho hay, ngay cả khi Wieland vô cùng ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II, nhà văn này cũng tạ ơn Trời vì không phải sinh sống dưới triều đại của ông.[352]

Tượng đài Đại Đế Friedrich II tại Neuhardenberg (Brandenburg).

Mặc khác, nhà vua nước Phổ, trong những lần đi bộ ngao du, thường thăm hỏi và nói chuyện thân mật với bà con nông dân.[28] Người ta gọi nước Phổ trong thời kỳ trị vì lâu dài của ông là một "chính thể quân chủ chuyên chế lập hiến".[12] Đại đế Friedrich II còn tự tấn phong làm "Đức Vua của Phổ" sau khi chiếm được vùng Prusy Królewskie (Tây Phổ, ngoại trừ vùng Gdańsk) vào những năm 1770 – 1772,[280][353] chứ không còn là "Đức Vua Phổ" như trước nữa. Tước hiệu "Đức Vua Phổ" đã được dùng kể từ khi vua Friedrich I von Hohenzollern làm lễ đăng quang tại Königsberg năm 1701. Sự kiện Friedrich II đăng ngôi vua của Phổ đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Phổ ở đế quốc La Mã Thần thánh do vua Áo cầm đầu.[354] Trong khi lãnh thổ Phổ trước kia rộng 119000 ki-lô-mét vuông, ông đã mở rộng đến 185.000 ki-lô-mét vuông.[267] Đến khi nhà vua qua đời vào năm 1786, Quân đội Phổ gồm 200.000 binh sĩ và ngân khố quốc gia đến 70 triệu thalers Phổ.[355] Dù chiến tranh tàn khốc, người dân Phổ tăng từ 2.2 đến 5.8 triệu người. Vào năm 1740, kinh đô Berlin chỉ có 98.000 dân, nhưng đến năm 1786, kinh đô có đến 150.000 dân.[267] Đại đế Friedrich II là một trong những ông vua chuyên quyền thành công nhất trong thời đại của ông.[271] Ngay cả Nữ hoàng Nga kiệt xuất đương thời là Ekaterina II cũng vô cùng ngưỡng mộ ông và là một học trò của ông.[356][357]

Chính sách tự do tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với tôn giáo, Friedrich thực hiện chính sách tự do khoan hồng.[359][360] Sau khi Friedrich Wilhelm I qua đời, Friedrich II đã ân xá cho nhà triết học Christian Wolff - người từng bị trục xuất khỏi Phổ vì tội "vô thần".[361] riedrich II đã phủ nhận bất cứ một mối quan hệ nào giữa quốc gia và những tín điều giáo lý. Ngay từ khi lên ngôi, vào ngày 22 tháng 6 năm 1740, nghe lời than phiền rằng cộng đồng Công giáo Phổ đang tìm cách mở trường học để giảm số lượng tín đồ của Hội thánh Tin Lành,[53] ông đã lưu ý với Bộ Tôn giáo Phổ:[362][363]

Dưới triều đại ông, ở các xứ bị ông chinh phạt, tín đồ Công giáo được sinh sống tự do. Tại kinh đô Berlin, một giáo đường của người Công giáo được xây dựng.[341] Nhà vua dạy những thần dân Kháng Cách rằng, họ cũng có quyền hạn ngang với các tín đồ Công giáo Rôma, và không được ngược đãi tôn giáo này.[148] Nhà vua còn tuyên bố ông sẽ xây cất các nhà thờ Hồi giáo hay Thiên Chúa giáo nếu "bọn Thổ Nhĩ Kỳ và bọn ngoại giáo đến sinh sống ở nước ta".[364] Trong Tiểu luận về các hình thức Chính phủ (1777) của ông, nhà vua cho rằng: "Sự đàn áp là thứ gây ra những cuộc nội chiến, đẫm máu nhất, lâu dài nhất và huỷ diệt kinh khủng", và phủ nhận cả tư tưởng cấm đoán tôn giáo lẫn chính sách cấm đoán tôn giáo.[341] Phổ tự do tín ngưỡng đến mức không một nước nào ở Đức sánh bằng,[361] và trở thành một miền đất hứa, giống như Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ đối với dân nhập cư tìm kiếm tự do trong thế kỷ XIX sau này.[349] Triều đình Friedrich II cũng xuống chiếu mời những người ngoại quốc đến di cư ở các làng bản hoang tàn, góp phần tái thiết Vương quốc sau cuộc chiến tranh Bảy năm kinh hoàng.[100] Sau khi Giáo hoàng Clêmentê XIV giải thể Dòng Tên, ông vẫn cho phép các giáo sĩ Dòng Tên được giảng đạo tại vùng Silesia, Warmia, và quận Netze. Ông thích đem những tinh hoa khác nhau đến vương quốc của mình, từ các giáo sĩ Dòng Tên, những tín đồ Huguenot, hay những nhà buôn và chủ ngân hàng Do Thái, chủ yếu là từ Vương quốc Tây Ban Nha. Ông mong muốn phát triển tất cả các miền đất trên khắp đất nước, đặc biệt là tại những vùng đất mà ông cho là rất cần phải phát triển. Song, những cuộc cải cách của nhà vua tự do tư tưởng không hề gặp bất kỳ sự phản đối nào từ tầng lớp hạ lưu theo đạo Luther.[86] Cũng như vua cha đã gọi dân Do Thái là "những con châu chấu" trước kia, ông cũng không có thiện cảm với họ.[365] Dù ông gia tăng quyền lợi của cộng đồng Do Thái,[341] Testament politique của Friedrich II đã cho thấy ông là một vị vua có đầu óc thực tế và không hoàn toàn có lòng khoan dung. Trong Di chúc Chính trị có đoạn ngự bút của ông:

Ghế của vua tại Hoàng cung Sanssouci.

Do đó, người Do Thái tại biên giới Ba Lan được phép tự do buôn bán, đồng thời nhận được mọi sự bảo hộ và hỗ trợ từ nhà vua, cũng như những thần dân khác của nước Phổ. Dưới triều đại ông, cộng đồng Do Thái trở nên thịnh vượng, nhiều người trở nên dòng có;[367] thành công của việc trong việc hội nhập những người Do Thái vào xã hội những vùng đất tại biên giới Ba Lan do Đại Đế Friedrich II thực hiện có thể thấy trong rất nhiều năm sau: một người Do Thái tên là Gerson von Bleichröder (1822 – 1893) đã hỗ trợ về tài chính cho công cuộc thiết lập Đế chế thứ hai của người Đức, lãnh đạo bởi Thủ tướng Otto von Bismarck (1815 – 1898).[368]

Dưới triều vua Friedrich II Đại Đế, người ta đã trồng trọt được nhiều vùng đất hoang, Vương quốc Phổ đã có dấu hiệu chuyển hóa thành một nước theo chủ nghĩa thực dân. Nhà vua nhấn mạnh rằng dân tộc và tôn giáo không phải là những vấn đề mà ông lo sợ.[279][82]

Nhà vua với văn hoá - nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà triết học Voltaire có nhận định về Vương quốc Phổ dưới triều đại lâu dài của Đại đế Friedrich II:

Âm nhạc, triết học, văn học thời Friedrich II[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh The Flute Concert of Sanssouci của Adolph von Menzel, 1852, miêu tả cảnh Đại đế Friedrich II thổi sáo trong phòng hoà nhạc tại cung điện Sanssouci.

Không những là một tướng lĩnh Đại đế Friedrich II còn là một nhà văn có khiếu, ông vua vui chuyện[122] hay nhà soạn nhạc thiên tài. Ông được xem là một trong những vị vua có văn hóa nhất, và có lẽ học rộng hơn bất kỳ một Quân vương nào khác trên toàn cõi châu Âu.[335] Thổi sáo là một sở thích của ông. Dù phải bận tâm với những vấn đề đại sự quốc gia, ông vẫn chơi sáo hằng ngày.[117] Chính ông đã sáng tác 100 bản xô-nát để thổi sáo, và bốn bản nhạc giao hưởng. Phần lớn những ngày của Triều đình Friedrich II thường bắt đầu vào 4 giờ sáng, rồi kết thúc với một bữa ăn tối, và một buổi hoà nhạc về đêm, khi ông chơi những bản công-xéc-tô sáo mà ông biết.[372] Ông còn ví von mình với Moses ở bán đảo Sinai, tức ông là vị vua dẫn dắt nền văn hóa đồ sộ của nước nhà trở nên tiến bộ hơn. Dưới triều đại ông diễn ra sự kiện querelle des bouffons: nền âm nhạc Ý vượt trội Pháp, tạo điều kiện cho Đức phát triển và vươn lên vượt trợi cả Ý sau này.[373]

Vài ngày sau chiến thắng đầu tiên tại Mollwitz (1741), vị vua - chiến binh liền ngự bút bản "Hành khúc Mollwitz" (Mollwitzer Marsch) trong đồn quân.[374] Do tiên liệu quân Áo nhất định sẽ đầu hàng, nhà vua đã ngưng thiết triều và ngự bút bản "Hành khúc Hohenfriedberger" (Hohenfriedberger Marsch) để kỷ niệm chiến thắng huy hoàng của ông tại Hohenfriedberg (1745), ngay sau khi trận đánh này kết thúc.[135] Sau đó, ông ban bản nhạc này cho toán Kỵ binh Bayreuth - vốn đã lập chiến công hiển hách trong trận đại chiến Hohenfriedberg.[374] Dưới triều đại lâu dài của ông, những nhạc sĩ cung đình Phổ bao gồm C. P. E. Bach, Johann Joachim Quantz, và Franz Benda. Johann Joachim Quantz là thầy dạy thổi sáo của ông trong vòng nhiều năm, làm nhạc sĩ cung đình cho đến qua đời vào năm 1773. Joachim Quantz đã viết cho Quốc vương 300 bản côngxéctô sáo.[117] Còn Franz Benda thì sinh năm 1709, phục vụ Đại đế Friedrich II trong vòng nửa thế kỷ. Người nghệ sĩ này đã gặp ông vào năm 1733 tại Ruppin. Vào năm 1770, Franz Benda trở thành Nhạc trưởng trong Triều đình Friedrich II.[375] Theo nhận định của Voltaire:

Vốn từ khi còn trẻ, ông đã đánh giá cao nhạc kịch Ý khi biết về tác phẩm Cleofide của Hassel, Khi lên ngôi vua, ông đã đưa Karl Heinrich Graun (1704 - 1759), một trong những nhà soạn nhạc kịch Ý quan trọng nhất ở nước Đức thời đó, làm nghệ sĩ cung đình Phổ. Và, không phải là vị vua anh minh này chỉ biết thưởng thức nhạc kịch mà thôi. Vào năm 1755, chính ông đã cung cấp lời nhạc kịch cho vở "Hoàng đế Montezuma" của Graun, nói về một chủ đề tương đối cận đại: cuộc chinh phạt vùng México. Lời nhạc kịch Pháp ngữ của ông đã được một thi sĩ cung đình dịch ra tiếng Ý.[376] Quốc vương cũng có một bộ sưu tập đàn dương cầm lớn, nhưng không may, bộ sưu tập này bị phá huỷ trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.[377] Vốn ngưỡng mộ cuồng nhiệt người nhạc sĩ tài ba, vào năm 1747, ông vời nhạc sĩ Johann Sebastian Bach đến gặp ông tại thành phố Potsdam,[117] cuộc gặp gỡ này đã tạo cảm hứng để Sebastian Bach sáng tác bản "Musikalisches Opfer", còn được gọi là Das Musikalische Opfer. Ông cũng bỏ ra chút tiền để mời La Barberina (Barberina Campanini, 1721 – 1799) - một nghệ sĩ ba lê rất nổi tiếng người Ý đến kinh đô Berlin.[378] Barberina sinh sống tại thành Berlin từ năm 1744 đến năm 1748.[4]

Khác với vua Louis XVI của Pháp đương thời, Friedrich II Đại đế là một trong những người mở ra thời kỳ Khai sáng tại Vương quốc Phổ,[379] khởi xướng một hình thức "cách mạng văn hóa đất nước.[86] Ông yêu thích tác phẩm "Suy ngẫm" của vị hoàng đế La Mã.[380] Không những là một thành viên của Hội Tam Điểm mà ông còn là người giới thiệu hội này đến Vương quốc Phổ.[381] Vào ngày 14 tháng 8 năm 1738 (gần hai năm trước ông lên làm vua), ông bí mật tham gia Hội Tam Điểm tại Brunswick.[382] Khi lên làm vua vào năm 1740, ông trở thành "Đại sư" của chi nhánh Hội Tam Điểm tại lâu đài Rheinsberg. Do đó, nhánh này có tên là "Chi nhánh thứ nhất", hay "Chi nhánh của Thánh thượng - vị Đại sư của chúng ta". Theo đề nghị của Quốc vương, vào ngày 13 tháng 9 năm 1740, một chi nhánh mới của Hội Tam Điểm được thiết lập ngay tại kinh thành Berlin, lấy tên là "Ba thế giới".[381] Thấm nhuần tư tưởng triết học, ông cho rằng:[383]

Ông có cùng quan điểm với triết học Khai sáng của Pháp, và rất ngưỡng mộ Voltaire - một nhà văn đồng thời là triết gia lừng danh của triết học Khai sáng. Là vị quân vương có tư tưởng tự do nhất châu Âu thời bấy giờ, ông và Voltaire trở thành đôi bạn thân thiết trong một thời gian lâu dài.[384] Có người nói: "Ông vua này đã cùng Voltaire trị vì chế độ quân chủ tiến bộ vào thế kỷ 18".[178] Trong thời gian chiến tranh, ông vẫn viết thư gửi cho Voltaire, theo đó nhà vua là "chàng hiệp sĩ Đôn Kihôtê của phương Bắc".[385][386] Vào tháng 7 năm 1750, Voltaire đến kinh đô Berlin, sau đó đến Postdam theo lời mời của vua Friedrich II. Quốc vương Phổ đã khuyến khích nhà triết học Pháp gửi gắm quan điểm của mình về đạo đức, tôn giáo và xã hội trong bộ Từ điển Triết học, tuy nhiên mãi đến năm 1764 Voltaire mới xuất bản tác phẩm này.[387] Họ bất hòa với nhau vào năm 1753 và nhà triết học trở về nước Pháp.[388] Trong Tân Hoàng cung của nhà vua ở Sanssouci, có một "căn phòng của Voltaire" - nơi Voltaire cư ngụ trong thời gian đại văn hào này sống tại Postdam từ năm 1750 đến năm 1753.[389] Trong những năm tháng chiến tranh, trong đại bản doanh tại thành phố Breslau, ông vẫn đọc những cuốn sử sách của De Thou và Fleury, hay những tập thơ của nhà triết học người La Mã là Lucretius. Ông cảm thấy, tập thơ thứ III của Lucretius làm kiệt quệ vạn vật xung quanh ta, và làm ta tập trung hết sức cao độ vào những vầng thi ca. Sau ngày khải hoàn, có một lần ông ngự bút lá thư gửi nhà toán học D'Alembert:[148]

Ấy là lệnh ông khi ông hãy còn trẻ tuổi.[390] Trong thời gian cầm quyền của Đại đế Friedrich II, nhân dân Phổ có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí hạn chế.[41] Vào năm 1741, ông sáng lập ra tiền thân của tờ báo "Schlesische Zeitung" tại thành phố Breslau thuộc Phổ, với tên gọi là "Schlesisch privillegierte Staats-, Krieg- un Friendenszeitung" (Báo Nhà nước, Chiến tranh và Hoà bình, được Hoàng gia bảo trợ).[391] Song, những tờ báo được ông khen ngợi cũng chính là những tờ báo thường ca tụng Đức Vua.[390] Ngay từ khi lên ngôi vua, ông đã mong muốn Vương quốc mình sẽ là nơi quy tụ của nhiều nhà bác học kiệt xuất. Chính vì thế, tháng 7 năm 1741, ông đã triệu nhà toán học Leonhard Euler đến kinh đô Berlin. Nhà vua thiết lập Viện Hàn lâm Khoa học Berlin vào ba năm sau và bổ nhiệm một nhà toán học tên Pierre-Louis Moreau de Maupertuis làm Viện trưởng của Viện này.[392] Ông còn giao cho Euler phụ trách các ngành vật lý và toán học tại Viện Hàn lâm Khoa học Berlin. Bước sang thập niên 1760, vua Friedrich II Đại Đế lại bất hòa với Leonhard Euler,[393] do một ý tưởng độc tài và những rắc rối nhỏ nhặt.[390] Ông bèn triệu nhà toán học, thiên văn học người Pháp là Joseph-Louis Lagrange đến thay Leonhard Euler phụ trách ngành toán học tại Viện Hàn lâm Khoa học Berlin.[394] Nhận lời mời: "Trẫm, Đức Vua vĩ đại nhất muốn gặp gỡ nhà toán học vĩ đại nhất trên toàn cõi Âu châu", Joseph-Louis Lagrange ở kinh đô Berlin trong suốt 20 năm, rời khỏi nước Phổ sau khi nhà vua bước vào cõi vĩnh hằng.[395] Nhà vua cũng viết cuốn "Discours de l'utilité des sciences et des arts dans un État" để phản hồi các tác phẩm "Discours" trong các năm 1750 và 1753, "Guy-li hay Nàng Hê-lô-i-dơ mới" (1760), "Contrat Social", và "Ê-min hay Về giáo dục" (cùng vào năm 1762) của nhà văn Jean-Jacques Rousseau, được đọc trước Viện Hàn lâm Khoa học Berlin vào ngày 27 tháng 1 năm 1772.[396] Tuy Đại đế Friedrich II cho phép các văn nghệ sĩ tha hồ chỉ trích tôn giáo truyền thống, ông không cho phép họ chỉ trích Quân đội Phổ - lực lượng nòng cốt của chính sách ngoại giao hung hãn của ông.[351] Cuối triều đại ông, thấy tờ báo "Kölnische Zeitung" chỉ trích ông, vị vua già cho một thuộc hạ bỏ 100 đồng đu-ca ra thuê bọn côn đồ tới chất vấn tác giả của tờ báo ấy.[390][397]


Nhìn chung, Vương quốc Triết học của vua Friedrich II Đại Đế đã lôi cuốn nhiều nhà văn tới đó, không những Pierre Louis Maupertuis mà còn có Francesco Algarotti, d'ArgensJulien Offray de La Mettrie. Chưa kể, vua cũng triệu nhà thơ nổi tiếng Christian Fürchtegott Gellert đến Hoàng cung mà đọc thơ cho Quân đội Phổ nghe.[398] Vào năm 1755, ông mời nhà triết học - toán học lừng danh D'Alembert đến thăm ông tại Wesel trên sông Rhein. Quan điểm phủ nhận Ki-tô giáo của ông luôn được D'Alembert ủng hộ.[167] Vào năm 1769, vua vời nhà làm đồng hồ kiệt xuất Louis George lên kinh để làm đồng hồ cho ông.[399][400]

Vào năm 1765, nhà triết học người Pháp là Claude Adrien Helvétius đến Vương quốc Phổ - Brandenburg, và luôn dùng bữa với nhà vua.[401] C. A. Helvétius đã hiến dâng các tác phẩm của mình cho nhà vua, vì ông là một vị Quân vương gắn bó với chủ nghĩa nhân đạo.[132] Cũng trong thời gian cầm quyền của Đại đế Friedrich II, nhà triết học nổi tiếng Immanuel Kant (1724 – 1804) - vốn là người thán phục vị Quốc vương anh minh[402] - đã xuất bản những tác phẩm viết về tôn giáo tại Berlin, tại châu Âu có nơi đã kiểm duyệt những tác phẩm này. Kinh đô Berlin trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và nghiên cứu của lục địa Âu châu trong thời gian này.[173] Dù là một Quân vương nắm quyền chuyên chế, khác với vua Pháp là Louis XIV - người quan niệm "Trẫm là Quốc gia" - cùng nhiều Quân vương đương thời, ông tuyên bố "Quả nhân là người công bộc đầu tiên của Quốc gia", phủ nhận thần quyền của Đức Vua.[178][40][403] Ông còn nói:[123]

Die Tafelrunde, tranh vẽ của Adolph von Menzel. Vua Friedrich Đại đế đang tiếp khách tại Sanssouci, bao gồm những thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Phổ và Voltaire (ngồi, người thứ ba từ bên trái).

Dù chẳng mấy ưa đại văn hào J. J. Rousseau nhưng nhà vua đã cho Rousseau sang lánh nạn tại Đế chế Phổ - Brandenburg.[25] Không những thế, ông cũng truyền lệnh cho Johann Christian Edelman - một người theo học thuyết Spi-nô-da tiến bộ - đến tị nạn tại kinh đô Berlin. Vào năm 1747, giới tăng lữ Calvin và Luther đã công kích Edelman, họ xem Edelman là một mối hiểm họa và là thành viên của một môn phái thù địch. Nhà vua cũng tỏ ra thiếu thiện ý với J. C. Edelman, do Edelman có tư tưởng chống đối chế độ quân chủ chuyên chế, và phê phán bài ca tụng việc lên nối ngôi của vua Friedrich II Đại Đế, do Voltaire sáng tác.[404] Nhưng, trong khi sách của Johann Christian Edelman từng bị đốt ở thành phố Frankfurt/Main, Đại đế Friedrich II không hề phản đối chủ nghĩa tự do đạo đức và chủ nghĩa hoài nghi tôn giáo của Edelman.[379] Trước cuộc chiến tranh Bảy năm, nhà văn Gotthold Ephraim Lessing (đến kinh thành Berlin năm 1749) đã viết những bài thơ tôn vinh nhà vua, còn nhà thơ Geim thì ca ngợi ông như vị bán thần. Trong khoảng thời gian đó ông cũng ngự bút các tác phẩm " Mémoires pour servir à l'histoire de Brandebourg" và "L'Art de la guerre". Tuy bài thơ "L'Art de la guerre" bị phê bình là khó hiểu, nhưng tác phẩm "Mémoires pour servir à l'histoire de Brandebourg" được xem là có giá trị cao.[19]

Sau ngày khải hoàn chiến thắng, từ năm 1764 đến năm 1786, ông tiếp tục lấy việc xây cất Hoàng cung, viết văn và trao đổi thư tín với các văn công làm vui thú.[211] Ngoài tiếng mẹ đẻ của ông là tiếng Đức, nhà vua còn nói được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nhatiếng Tây Ban Nha. Không những thế, ông cũng am hiểu tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp cổ và cận đại, và tiếng Hê-brơ. Nhà vua không có thiện cảm với người Đức, xem họ như "những tên tiện dân".[123] Nổi tiếng là một người có lòng yêu thích nền văn hóa Pháp, Friedrich II Đại đế thường xuyên nói và viết bằng tiếng Pháp, lại không yêu thích nền văn hóa, ngôn ngữ và văn học Đức. Ngay từ lúc ông còn ở ngôi Thái tử, vua Friedrich Wilhelm I đã than phiền:[26] "Hắn rất kiêu ngạo,... lại đam mê say đắm cái thứ tiếng Pháp - một việc sẽ là đổ toàn bộ cơ đồ dựng nước của Trẫm." Khi lên ngôi Quốc vương vào năm 1740, ông thiết lập Huy chương tưởng niệm những danh tướng trung quân ái quốc trong Quân đội Phổ, thế mà ông lại đặt cho Huy chương một cái tên tiếng Pháp: Pour le Métrite.[405] Trong cuộc chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), sau khi vạch ra kế hoạch cho những trận thắng huy hoàng tại Rossbach và Leuthen (1757), ông cũng tham khảo văn chương Pháp ngữ.[133] Ông chỉ dùng tiếng Đức để nói chuyện với con chiến mã của mình, đúng như lời nhận xét:[123][406]

Trong nhiều năm dưới triều vua Friedrich II Đại Đế, các viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Berlin cũng dùng tiếng Pháp nhiều hơn tiếng La Tinh và tiếng Đức.[407] Và, ông đã phê phán khuyết điểm của các nhà văn người Đức như sau:[408]

Đại đế Friedrich II trên lưng bạch mã.
Tượng bán thân nhà vua tại thủ đô Berlin.

Vào năm 1780, luận văn ngắn "De la littérature allemande" của nhà vua được xuất bản tại kinh đô Berlin, thể hiện những bất đồng của ông đối với nền văn hóa Đức.[409][410] Tác phẩm này, được ông viết bằng tiếng Pháp và bàn về văn học Đức, cho rằng tiếng Đức chỉ là ngôn ngữ của những gã quê mùa.[19] Ông còn thương xót cho sự thưởng thức văn hoá rẻ tiền của tầng lớp hạ lưu Đức, do họ say mê những bản dịch tiếng Đức của các tác phẩm của đại văn hào Shakespeare ("Những tác phẩm ghê tởm của ông Shakespeare... đem cho những tên man rợ xứ Canada đọc đi là vừa"). Không những thế, ông còn nhận định tác phẩm "Götz von Berlichingen" của đại thi hào Johann Wolfgang von Goethe"thật đáng ghét, đây là sự làm theo những thí dụ tồi tệ đến từ Anh Quốc", và không hiểu sao bọn dân đen (le parterre) cứ thèm muốn học thuộc lòng "những thứ ngớ ngẩn" (ces dégoûtantes platitudes) ấy. Quốc vương đã chơi với những người mà ông cho là "cũng bộc trực như thế", nói cách khác là thẳng tay bỉ bác văn học Đức.[411]

Những tinh hoa của nền văn hóa Pháp không phải là lý do duy nhất khiến vị vua nước Phổ chê bai văn hóa Đức: thời bấy giờ có nhiều người ngoại quốc giữ vai trò quan trọng trong chính phủ Phổ, họ đều là những người chẳng ưa gì nền văn hóa Đức.[412] Khi nhà vua xuất bản một tập thơ bằng tiếng Pháp, nhà văn Moses Mendelssohn đã không ngần ngại phê phán việc ông không chịu viết tiếng Đức; hậu quả là nhà vua cấm đoán sách vở của Mendelssohn. Sau này, người ta tiến cử Moses Mendelssohn vào Viện Hàn lâm Khoa học Phổ, nhưng nhà vua giận dữ từ chối.[413] Đại thi haò Johann Wolfgang von Goethe (1749 – 1832, 37 tuổi khi nhà vua qua đời[414]) cũng từng chỉ trích ông "bị trói buộc vào ảnh hưởng từ nhà triết học Voltaire".[72] Nhưng, vị vua - anh hùng vẫn không phải là không bao giờ nghĩ đến quang vinh của văn hóa nước nhà: trong một bài tiểu luận vài năm trước khi về cõi vĩnh hẵng, ông, cũng như Moses, hy vọng sẽ tìm ra một Miền Đất Hứa, với hy vọng:[174]

Thấy ông chán gét văn học Đức, các văn nghệ sĩ người Đức đã cố gắng gây cho nhà vua ấn tượng trước những tác phẩm viết bằng tiếng Đức của họ, và khắc phục những nhược điểm của nền văn hóa Đức. Đường lối trị quốc đúng đắn của Đại đế Friedrich II cũng ảnh hưởng đến nhiều chính khách - trong số đó có Nam tước Karl vom und zum Stein (1757 – 1831) - một triều thần Phổ ngưỡng mộ ông và tin rằng nếu Đại Đế Friedrich II còn sống, chắc hẳn ông sẽ lập lại niềm tự hào của Đế chế Phổ kiêu hùng sau khi quân Napoléon đánh bại Quân đội Phổ (1806).[415][416] Đại thi hào Goethe cũng là người khen ngợi tài năng của vua Friedrich II và bộ máy Chính phủ Vương quốc Phổ.[412] Trong chuyến viếng thăm Strasbourg (Strassburg), Goethe đã gửi gắm cảm nghĩ của mình về Đại đế Friedrich II qua mấy dòng văn sau:[417]

Trong khi nhà thơ F. W. Gleim bày tỏ niềm mến mộ của thần dân đối với ông, và gọi ông là "Đức Vua Anh hùng", đại thi hào Goethe cho hay nhà vua và cuộc chiến tranh Bảy năm là điều được các nhà thơ người Đức quan tâm hơn cả trong thời gian đó.[367] Nhà vua nước Phổ còn xuống chiếu ân xá cho nhà thơ người Đức chống tôn giáo Christian Friedrich Daniel Schubart (theo Wikisource-logo.svg Schubart, Christian Friedrich Daniel”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). 1911.  là vào năm 1787), nên nhà thơ này ghi nhớ công ơn của ông. Bài thơ "Lịch sử cuộc đời Trẫm", "Về binh pháp" và "Lịch sử cuộc chiến tranh Bảy năm" được xem là những tác phẩm nổi tiếng nhất của Đại đế Friedrich II.[17] Từ năm 1846 đến năm 1857, Chính phủ Phổ mới truyền lệnh cho Preuss và Viện Hàn lâm Khoa học Berlin tiến hành dịch kho tàng văn họ mà Đại đế Friedrich II để lại. Những tác phẩm này bao gồm 6 bài thơ, 7 quyển sử sách, 2 quyển triết lý, và 3 quyển binh pháp, cùng 12 lá thư do Đại đế Friedrich II trao đổi với những bạn hữu.[19] Ông Macaulay đã nhận định về tác phẩm "Hồi ký" của nhà vua nước Phổ:[17]

Kiến trúc dưới triều đại Friedrich II[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chinh phạt vùng Silesia, chính Quốc vương Friedrich II đã thiết kế pháo đài Silesia, được xây dựng vào năm 1747.[418] Ông cũng gửi loại hổ phách ven biển Baltic từ kinh đô Berlin đến tặng tặng Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna, và những món quà của ông đã giúp Hoàng gia Nga và kiến trúc sư cung đình người Ý nổi tiếng là Bartolomeo Rastrelli mở rộng "căn phòng hổ phách" trứ danh vào năm 1755.[419][420] Chân dung của vị vua vĩ đại Friedrich II cũng được treo trên một cái trống ở Hoàng cung Charlottenburg.[36]

Tập tin:Freundschaftstempel (A L Krüger 1780).jpg
Ngôi đền Tình Bạn tại quần thể kiến trúc Sanssouci.

Trong suốt thời kỳ cầm quyền của mình, nhà vua đã cho xây dựng nhiều công trình nổi tiếng ở kinh thành Berlin, phần lớn trong số đó còn tồn tại cho tới ngày nay, chẳng hạn Nhà hát Quốc gia Berlin, Thư viện Hoàng gia (ngày nay là Thư viện Quốc gia Berlin), Đại giáo đường Thánh Hedwig, và Vương phủ của Hoàng tử Friedrich Heinrich Ludwig, được xây ở chỗ mà nay là Trường Đại học Humboldt. Ông tiếp tục công cuộc xây cất các Quảng trường chốn kinh kỳ của vua cha Friedrich Wilhelm I, và cho xây "Unter den Lindenstrasse" và "Forum Fredericianum" nổi tiếng tại Bebelplatz.[407] Tuy nhiên, vào mùa hè nhà vua chỉ thích ngự ở thành phố Potsdam, nơi ông xây cung điện Sanssouci (còn gọi là Điện Vô Ưu hay Cung Tiêu Dao) - công trình nổi bật nhất của phong cách rococo miền Bắc Đức. Ông đã hạ lệnh cho kiến trúc sư kiêm hoạ sĩ người Hà Lan là Georg Wenzeslaus von Knobelsdorff xây cất Cung điện Mùa Hè (Schloss Sanssouci) vào năm 1744.[421] Cung điện này có một tầng, là nơi Hoàng tộc Phổ cư trú, đồng thời là nơi nhà vua giải trí bằng những thứ khoái khẩu nhất của ông: triết học và âm nhạc.[389][350] Là một nhà thơ, nhà triết học và người làm vườn, Đại đế Friedrich II muốn cung vua giống như ngôi nhà của một thi hào La Mã, thay vì Hoàng cung tráng lệ của Hoàng đế La Mã xưa kia. Ông đã nói với Ligne:[422]

Mặt chính diện ở hướng nam (hoặc mặt chính diện công viên) và phần chính của cung điện Sanssouci.

Sanssouci, dịch từ tiếng Pháp có nghĩa là "thoát khỏi sự phiền muộn", trở thành nơi ẩn dật của Đại đế Friedrich II. Tên tuổi của kiến trúc sư Georg Wenzeslaus von Knobelsdorff gắn liền với sự phát triển của phong cách kiến trúc "Rococo thời Friedrich". Tuy nhiên, vào năm 1746 do có bất hòa mà nhà vua sa thải Knobelsdorff, và giao phó cho Johann Boumann việc xây dựng Hoàng cung Sanssouci.[423] Tuy nhiên, vào năm 1753, trong lúc lâm bệnh nặng, Georg Wenzeslaus von Knobelsdorff gửi chư cho nhà vua: "Hạ thần xin được đa tạ Bệ hạ vì tất cả mọi ân huệ và sự trọng dụng của Bệ hạ trong suốt cuộc đời của Hạ thần".[424] Trong suốt bảy năm chinh chiến, nhà vua chỉ đến thăm Postdam đúng một lần.[267] Ngôi vườn của vua Friedrich II Đại đế tại thành phố Postdam là một khu vườn kiểu Anh (Jardin anglais).[425] Sau khi cuộc chiến tranh Bảy năm kết thúc, vào năm 1763 ông hạ lệnh cho xây dựng tòa "Tân Hoàng cung" (tên tiếng Đức: Neues Palais) nguy nga theo phong cách Ba-rốc ở phía Đông công viên Sanssouci. Ông đã nghĩ đến việc xây dựng toà lâu đài to lớn này ngay từ năm 1750, nhưng sau cuộc chiến tranh Bảy năm ông mới bắt đầu xây cất nó - để kỷ niệm chiến thắng của Vương quốc Phổ trong cuộc chiến tranh ấy, chứng tỏ thực lực của nước non nhà đang trên đà lớn mạnh (1763).[389] Việc xây cất cung điện này hoàn thành vào năm 1769.[389][426][427] Hoàng cung nguy nga của ông đã được ví von với Hoàng cung Versailles của nước Pháp.[428]

Li cung của nhà vua nước Phổ tại Breslau, Silesia.

Với công cuộc xây cất "Tân Hoàng cung", Đại đế Friedrich II đã thông báo với toàn bộ Âu châu rằng, Hoàng gia nước Phổ không hề gặp khủng hoảng kinh tế sau cuộc "chiến tranh thế giới lần đầu tiên".[429] Trong khi Cung điện Sanssouci được trang trí một cách đơn sơ, Tân Hoàng cung lại có dáng vẻ khác. Tân Hoàng cung có hai tầng, là một trong những toà thành trì gây hấp dẫn nhất trên khắp nước Đức. Gần Tân Hoàng cung, nhà vua cho xây "Tòa nhà Communs". Dù chính là nhà bếp của Tân Hoàng cung, tòa nhà này trông không hề đơn sơ, chẳng khác gì một cung điện.[389] Vị vua chiến thắng còn cho tạc tượng ba người phụ nữ hoàn toàn khỏa thân (mà ông bảo là "con đĩ của phương Bắc"[320]) nâng cao Vương miện của ông trên nóc Tân Hoàng cung, và ba người phụ nữ truồng trần này thể hiện cho ba kình địch của ông trong cuộc chiến Bảy năm tàn khốc: Nữ hoàng Elizaveta Petrovna của nước Nga, Nữ hoàng Maria Theresia của nước Áo và Nữ Hầu tước Pompadour - Nữ hoàng trên thực tế của nước Pháp.[430][431]

Từ năm 1754 cho đến năm 1764, nhà vua xây dựng "Ngôi nhà uống trà Trung Quốc" (Chinesisches Teehaus)[432] nổi tiếng tại công viên Sanssouci. Ở Lietzenburg (Hoàng cung Charlottenburg), ông cũng có một Phòng tranh lớn và một căn phòng khác được trang hoàng theo kiểu Trung Hoa.[433] Mười năm sau cái chết của Nữ Bá tước Wilhelmina xứ Bayeuth (1758), ông còn xây cất một công trình tưởng niệm người chị bất hạnh ở các khu vườn Sanssouci - đó là Ngôi đền Tình Bạn (Freundschaftstempel).[434][435] Ông cũng truyền lệnh dựng một đài kỷ niệm để đền ơn chú chó trung thành của ông - Biche (Gengesk).[436]

Đời tư của Đại Đế Friedrich II[sửa | sửa mã nguồn]

"Friedrich der Große auf Reisen" (Đại đế Friedrich II vi hành), hoạ phẩm của Adolph von Menzel (1815–1905).

Vua Friedrich II Đại Đế từng tỏ ra thất vọng với căn bệnh sún răng của ông và em gái là Công chúa Brunswick (Charlotte).[438] Ông không phải là một nam giới ghét phụ nữ, vì, như đã nói ông là bạn thân của người chị mình, thậm chí ông còn có ít nhất là hai mối ái tình với nữ giới khi còn trẻ.[24] Vào năm 1758, ngày Quân đội vua Friedrich II đại bại trước quân Áo trong trận chiến tại Hochkirch cũng chính là cái ngày buồn thảm nhất trong cuộc đời ông: nhà vua hay tin Công chúa Wilhelmina xứ Bayeuth.[94] Thậm chí, có thông tin cho rằng trong thời gian sống ở kinh đô nước Phổ, nữ nghệ sĩ Barberina Campanini trở thành người tình của ông. Tuy nhiên, vào năm 1748, nhà vua phát hiện cô yêu Louis de Cocceji - con trai của viên Đại Pháp quan Triều đình Phổ thời đó, vì thế cô bị thất sủng.[4]

Tuy thế nhưng theo một số nhà sử học,[439] ông có lẽ là một Quân vương đồng tính luyến ái hoặc lưỡng tính (giống như nhiều vị vua - chiến binh khác: vua Macedonia Alexandros Đại đế, vua Anh Richard I Sư tử tâm[440][441]), thậm chí có khả năng là một người độc thân. Do ông thân mật đến mức lạ thường với người lính hầu Christoph Keith, vua cha Friedrich Wilhelm I đã truyền lệnh đày ải Keith. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục viết thư tình cho người vệ sĩ mới của Hoàng thái tử - đó là Trung tá Borcke (1728), theo đó "Chẳng ai yêu mến Ngươi bằng Ta đâu...", và đề nghị Borcke "đền đáp" tình yêu thương mà ông dành cho viên Trung tá.[442] Ông và Trung uý Hans Hermann von Katte (1704 – 1730) cũng bị nhiều quan viên trong Triều đình Phổ cho là có quan hệ đồng tính luyến ái.[2]

Sau khi Hermann von Katte bị vua Friedrich Wilhelm I hành hình, Hoàng thái tử Friedrich bị buộc phải cưới Quận chúa Elisabeth Christine xứ Brunswick-Bevern. Sau khi vua cha Friedrich Wilhelm I qua đời năm 1740, ông sống tách biệt với vợ mình. Trong những năm sau đó, mỗi năm Friedrich II Đại đế chỉ đến thăm vợ một lần.[443] Cũng giống như Hoàng đế La Mã Thần thánh là Joseph II, ông không có một mụn con nối dõi nào cả.[444] Tuy nhiên, ông vẫn đối xử đàng hoàng với Hoàng hậu,[19] bản thân bà cũng gọi ông là "Đức Vua kính yêu". Sau khi Katte chết, nhà vua có một người bạn mới: Fredersdorf. Sau này, ông đã phong Fredersdorf làm quan đại thần và gây sốc cho tầng lớp địa chủ Phổ bằng việc ban cho con trai của người nông dân trẻ tuổi một điền trang.[25] Ông còn có một người bạn khác, Keyserling, theo một nhà ngoại giao người Pháp, nhà vua chung sống với Keyserling trong vòng nhiều tiếng đồng hồ, và không cho Keyserling ra ngoài đường, vì "sợ thiên hạ dị nghị về ông ta".[25]

Là một vị vua thanh đạm,[12] Đại đế Friedrich II thường sinh sống tại Cung điện Sanssouci - chỗ ngự mà ông yêu thích nhất tại thành phố Postdam. Đó là cung điện mà ông xây cất sau khi cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai kết thúc. Tương truyền khi ông đang thị sát vùng Postdam và nghỉ chân dưới bóng cây trên một ngọn đồi, ông đã nhìn thấy dòng sông Havel uốn lượn và một dãy núi xinh đẹp phía sau, đồng thời về phía xa còn có đồng ruộng bao la và mùi thơm lúa mạch đã làm nhà vua thấy hết sức dễ chịu, không còn vướng bận ưu phiền.[445]

Đại Đế Friedrich II năm 68 tuổi, qua nét vẽ của họa sĩ người Thụy Sĩ Anton Graff.

Thế là ông đã quyết định xây một cung điện mùa hè cho mình tại đây, đó chính là Cung điện Sanssouci. Chính tay nhà vua đã thiết kế cung điện này.[445] Sau khi khánh thành thì Cung điện Sanssouci lúc nào khách khứa cũng đông nghẹt, tuy nhiên các quan khách ít khi thấy nhà vua ở bên cạnh Hoàng hậu Elisabeth Christine. Thật vậy, Đại đế Friedrich II thường lấy lý do bận việc nước để Hoàng hậu không "quấy rầy" mình. Chị gái của ông, Công chúa - Nữ Bá tước xứ Bayreuth Friederike Sophie Wilhelmine (1709 – 1758) từng than phiền như sau:

Và sự đồng tính luyến ái của Quốc vương cũng được thể hiện trong một bài thơ ca ngợi Hoàng cung Sanssouci, khi ông dời về đây (được ông ngự bút tặng cho một người bạn của ông): "Trong Hoàng cung được trang hoàng lộng lẫy này/Đôi ta hãy cùng tự do chung sống...".[25] Không những thế, Ngôi đền Tình Bạn tại Postdam cũng là nơi tán dương những mối tình đồng tính luyến ái trong thời kỳ Hy Lạp cổ điển, được trang hoàng với chân dung của OrestesPylades ở giữa những nhân vật khác.[447] Bản thân nhà vua gọi những nhân vật này là "các anh hùng của tình bạn". Ngôi đền được xây dựng dựa theo một bài thơ cùng tên do Voltaire viết vào năm 1732, được Friedrich von Hohenzollern đọc vào tháng 9 năm 1737.[434]

Vua Friedrich II Đại Đế

Khi Friedrich II von Hohenzollern lên ngôi Quốc vương vào năm 1740, ông đã khuyến dụ Voltaire đến thăm kinh đô Berlin.[448] Tuy nhiên, lúc bấy giờ đại văn hào vướng vào mối tình với bà du Chatelet, nên không thể đến thăm ông. Tuy nhiên, vào năm 1743, Voltaire viếng thăm ông,[344] theo lệnh của vua Pháp nhằm củng cố liên minh Pháp-Phổ.[448] Một trong những thượng khách đã được Đại đế Friedrich II tiếp đón tại khu Sanssouci là chính nhà triết học người Pháp này. Sau khi bà du Chatelet qua đời vào năm 1749, cuối cùng thì Voltaire cũng nhận không ít lời mời đến chung sống với nhà vua: Vào tháng 7 năm 1750, Voltaire đến kinh thành Berlin. Là viên thị thần của ông, Voltaire được ông chu cấp cho 20.000 quan Pháp và sống tại một trong những cung điện Hoàng gia Phổ.[448]

Nhà vua và Voltaire đã làm bạn với nhau trong gần 50 năm, một tình bạn nổi tiếng trên khắp lục địa Âu châu.[342] Có lần, Voltaire từng gửi tặng một bài thơ cho ông, ví ông như Julius Caesar - vị hoàng đế đồng tính luyến ái, đã cải cách hệ thống lịch thời kỳ La Mã cổ đại,[25] và từng gọi ông là "Đức Vua vĩ đại, đẹp trai và thích quấy rối người khác" (grand roi, coquette), hay một tâm hồn cao thượng, một tâm linh anh dũng và khó thể nào phai.[449] Nhiều người khác và cả bản thân Quốc vương cũng ví von ông như Hoàng đế Julius Caesar.[450][451] Không những thế, Voltaire từng ví von nhà vua với những thi sĩ Horace, Catullus, Maecenas, nhà triết học Sokrates, các Hoàng đế Augustus, Titus, Antoninus Pius, Flavius Claudius Julianus, "Hoàng đế Marcus Aurelius đời mới", "Ngôi sáng sao trên bầu trời phương Bắc" hay "Vua Solomon của phương Bắc".[231][451][452][453]

Voltaire trở thành người thầy, nhà triết học và người bạn tận tuỵ nhất của ông.[453] Cũng chính Voltaire là triết gia đầu tiên đã tôn vinh ông với Vương hiệu "Friedrich Đại đế".[454] Theo Voltaire, nhà vua nên được tôn làm Đại Đế vì quan hệ của ông với phụ nữ hết sức hạn chế, vì những lý do khôn ngoan.[455] Cụ thể hơn, tuy ông đã nhiệt tình ngự bút những lá thư gửi cho người tình Emilie du Chatelet của Voltaire, số lượng thư từ ông gửi cho du Chatelet là vô cùng ít. Ông cũng tiếp đón Voltaire với lòng sùng kính lớn lao, thường đàm luận với Voltaire trong vòng hai tiếng đồng hồ và dùng bữa tối với đại văn hào Pháp.[448] Voltaire từng nói:[25]

Tượng nhà vua tại Lâu đài Hohenzollern.

Khi Voltaire chỉ trích một vị Giám mục Nhà thờ Pháp, Quốc vương Phổ đã bảo vệ lý lẽ của nhà triết học lừng danh.[25] Bên cạnh đó, hai người thường gây sự với nhau, vì Voltaire là người phản đối chủ nghĩa quân phiệt Phổ dưới thời Đại đế Friedrich II. Voltaire đã kể cho nhà vua bài học về vua Karl XII của Thụy Điển mang hoài bão quá lớn và thất bại trong Đại chiến Bắc Âu, đồng thời phê phán gay gắt ông vua quân phiệt nước Phổ trong tác phẩm "Candide, ou l'Optimisme" (Ngay thẳng, hay lạc quan).[132] Vào năm 1753, Voltaire phê phán dữ dội Viện trưởng Pierre-Louis Moreau de Maupertuis của Viện Hàn lâm Khoa học Berlin trong tác phẩm "Chỉ trích ông Tiến sĩ Akakia" (Histoire du Docteur Akakia et du Natif de St Malo).[456] Thấy vậy, vua Friedrich II nổi giận, ông hạ lệnh cho đốt sách "Chỉ trích ông Tiến sĩ Akakia" và tống giam Voltaire vào một căn nhà. Một tác gia ẩn danh đã sáng tác cuốn "Cuộc sống riêng tư của Đức Vua Phổ Quốc" (The Private Life of the King of Prussia), theo một số người thì tác giả ẩn danh này chính là Voltaire sau khi rời khỏi nước Phổ. Tác phẩm này đã ghi nhận rằng Đại đế Friedrich II là một vị vua đồng tính luyến ái. Hay tin, nhà vua nước Phổ không phủ nhận mà cũng không cho rằng nội dung quyển sách này là đúng, mà cũng không tố cáo Voltaire là người đã viết nó. Vài năm sau, ông và Voltaire lại trở thành bạn bè, nhưng sau này họ lại tố cáo lẫn nhau để rồi họ lại chia rẽ nhau như trước.[457] Song, Voltaire viết về trận xung đột với nhà vua nước Phổ như sau:[25]

Và, tuy có bất hòa với Đại Đế Friedrich II nhưng Voltaire vẫn luôn xem ông là một Đấng Quân vương mẫu mực.[458] Sự chia rẽ giữa ông và Voltaire cũng không cản trở việc nhà triết học Pháp ghi chép một cách thẳng thắn. Trong cuốn "Hồi ký" (tên tiếng Pháp: Mémoires, 1759) của Voltaire, nhà triết học này đã viết về sự đồng tính luyến ái của vua Friedrich II, bằng lối văn chương trào phúng thầm lặng. Theo ghi nhận của Voltaire, nhà vua ngủ theo kiểu Sparta trên một chiếc võng giản dị của Quân đội nước Phổ. Tuy nhiên:


Các nhà sử học khác thì không cho rằng Đại đế Friedrich II là một người đàn ông, họ cho rằng ông từng viết: ông chỉ là "một kẻ có ưu thế hơn những người phụ nữ" mà thôi. Tuy nhiên, giáo sư người Pháp là Dieudonné Thiébault cho rằng nhà vua đã yêu một cô gái tại Neuruppin.[3] Theo quan Ngự y nổi tiếng người Thụy Sĩ là Johann Georg Ritter von Zimmermann (1728 – 1795), ông muốn những lời đồn đồng tính luyến ái trở nên đúng, để cho dân chúng không nghĩ rằng cơ quan sinh dục của ông đã bị tổn thương trong một "ca mổ phẫu thuật hiểm nghèo" nhằm giúp ông thoát khỏi bệnh hoa liễu.[461] Zimmermann cũng cho biết, rất nhiều người Đức và Pháp (đều là kẻ thù hoặc bạn hữu của nhà vua) đã vu cáo nhà vua là người đồng tính luyến ái, giống như Socrates từng bị vu cáo là yêu Alcibiades.[25] Theo kết luận của nhà sử học người ÚcChristopher Clark, tác giả cuốn Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947:

Các sử gia, nhà yêu nước người Đức viết về Đại đế Friedrich II không hề đề cập đến việc ông là vua đồng tính luyến ái.[25] Về cuối đời, nhà vua ngày càng trở nên cô độc ngay từ giữa cuộc chiến tranh Bảy năm.[268] Khi đại thần Michael Gabriel Fredersdorf muốn lấy vợ, nhà vua nói khôi hài: "Phải chăng đám cưới của khanh sẽ được tổ chức hôm nay thay vì ngày mai nếu nó mang lại cho khanh niềm vui sướng và thảnh thơi, hoặc nếu nó mang lại cho khanh một kẻ do thám và một tên tiểu đồng?"[25] Sau bảy năm chinh chiến, ông rời khỏi Leipzig vào ngày 15 tháng 3 năm 1763, và cùng dũng tướng Ferdinand xứ Brunswick ca khúc khải hoàn kéo quân về kinh thành Berlin vào ngày 20 tháng 3.[463] Tối hôm ấy, trên xe ngựa ông đi qua những con đường yên tĩnh, và về đến Hoàng cung, gặp lại một số hoàng thân quốc thích.[167] Do ông trông như một cụ già, khi ông vua 51 tuổi chiến thắng trở về, ông được quần chúng nhân dân chốn kinh kỳ gọi là "Cụ già Fritz".[248] Dù Kinh đô đã trải qua hai lần bị tàn phá, hay tin ông trở về, thần dân Kinh đô trở nên hạnh phúc và tự hào tán dương ông vua chiến thắng, đến nỗi họ quên mất tất cả những gian khổ mà họ đã hứng chịu trong suốt cuộc chiến tranh Bảy năm tàn khốc.[252]

Đại đế Friedrich II, tranh sơn dầu trên vải bạt của nữ hoạ sĩ Anna Dorothea Therbusch (1775).

Vài năm sau (1768), ông bắt tay vào viết "Di chúc Chính trị thứ hai".[464] Tuy chiến thắng vang dội, sau chiến tranh quan hệ vua - tôi giữa ông và Công tước Ferdinand xứ Brunswick trở nên lạnh nhạt, vị lãnh chúa này về trị vì lãnh địa Brunswick vào năm 1766. trang 51: "Leuthen".[159] Tuy nhiên, họ không hề tuyệt giao nhau: từ năm 1772 cho đến năm 1782, Công tước Ferdinand đã vài lần viếng thăm nhà vua.[465] Do vừa giỏi trị quốc, vừa yêu nghệ thuật và lại còn văn võ song toàn nên nhà vua cũng được toàn dân Đức gọi là "ông hoàng độc đáo" (tiếng Đức: der Einzige).[466]

Cũng như vua cha Friedrich Wilhelm I, ông là một Quân vương bủn xỉn, ông thường đội chiếc mũ ba sừng quen thuộc, mặc bộ quân phục màu xanh cũ rích có cổ áo màu đỏ.[28] Mỗi năm, ông chỉ trả cho các Đại sứ các nước Anh, Pháp một khoảng tiền lương dưới 5.000 đô la.[106] Trong Hoàng gia Phổ, người ta chẳng dám mở nắp chai rượu sam-panh nếu không có sức của Quốc vương.[17] Ông luôn ca ngợi đức tính giản dị và giáo huấn muôn dân học tập.[28] Theo thời gian, những người bạn hữu của ông tại khu Sanssouci lần lượt qua đời mà không hề có người thay thế. Dù từng cãi lộn với Voltaire, khi Voltaire qua đời, Đại đế Friedrich II vẫn không hề cắt đứt mối quan hệ với nhà triết học người Pháp: Ông gửi thư cho nhà toán học Jean le Rond D'Alembert vào ngày 22 tháng 6 năm 1780: "Cứ mỗi sáng Trẫm đều cầu nguyện ông ấy. Trẫm nói: "Voltaire thiêng liêng...".[396] Đại đế Friedrich II trở nên độc đoán và hay chê bai các vị quan đại thần cùng Sĩ quan Quân đội Phổ, làm cho họ thất vọng. Khi ông trở về kinh đô sau những chuyến thăm các tỉnh hoặc những cuộc duyệt binh, dù nhân dân Berlin thường chào mừng nhà vua, nhưng ông không tỏ ra vui thú gì với thần dân, mà chỉ yêu quý thú cưng của mình - những con chó săn thỏ Ý.[467] Sau chiến thắng Soor, chú chó Biche (Gengesk) bị quân Áo bắt, nhưng sau đó bất ngờ được trả về cho nhà vua, như một "điều khoản của Hòa ước Áo - Phổ". Bạn của Đại Đế Friedrich II - Trung tá Rothenburg rón rén mang chú chó vào Hoàng cung, không hề báo cho Quốc vương biết do thấy ông đang làm việc hăng say, nhưng ngay lập tức cặp "vua - tôi" quấn quýt bên nhau: chú chó nhảy lên vai của nhà vua, và nhà vua rơi lệ - trông ông không khác chi một em bé.[101][166][436] Ông gọi một con chó là 'Hầu tước Pompadour', ví von nó với Nữ Hầu tước Pompadour.[468] Ông thương những chú chó của ông hơn cả con người do:[469]

Qua đời và vấn đề yên nghỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1785, nhà vua đi duyệt binh trong một ngày mưa tầm tã, nên ngã bệnh nặng.[396] Trong các tháng 5 - 6 năm 1786, bệnh tình của Đại đế Friedrich II ngày càng trở nên nghiêm trọng, khó có thể đi duyệt binh.[101] Vốn chỉ có chút niềm tin đối với tôn giáo, độ tin tưởng của ông đối với y học cũng tương tự. Tuy nhiên, có lẽ do sức khỏe của ông không được khá hơn, nhà vua đã triệu Ngự y Hoàng gia Johann Georg Ritter von Zimmermann đến chữa bệnh cho ông.[101][470][471] Vào ngày 22 tháng 6 năm ấy, Zimmermann đến khu Sans Souci. Ngự y ghi nhận[101]


Vua Friedrich Đại đế băng hà, hoạ phẩm của Bernhard Rode (1786/1787).

Vào ngày 4 tháng 7 năm 1786, ông cưỡi con ngựa xám dài tên là Condé chạy quanh những khu vườn Sanssouci với tốc độ cao. Về cung, Đại đế Friedrich II ngã quỵ xuống, và không bao giờ ra khỏi cung vua nữa. Người ta chỉ đưa ông đến nền đất cao Sanssouci vào những buổi chiều nắng đẹp.[101] Trong khoảng thời gian còn lại, nhà vua thường ngự trong căn phòng của mình. Lúc thì ông ho, lúc thì ông ngủ, lúc thì ông đọc những chồng thư gửi trên chiếc bàn nằm ở trước cái ghế của ông, và ký tên vào các văn kiện bằng bàn tay run cầm cập của mình. Dù ánh nắng mặt trời làm cho ông bị chói mắt, nhà vua không muốn bị bó buộc trong những chiếc màng che vào những thời khắc cuối cùng của cuộc đời mình. Ông phản đối (theo Zimmermann, 1788, 103):[101]

“ 

Đừng có kéo rèm! Đừng có kéo rèm! Quả nhân thích ánh sáng cơ mà.

 ”

Là một Quân vương dí dỏm, một lần, nhà vua hỏi Ngự y Zimmermann bằng một câu châm biếm nghề nghiệp: "Ái khanh đã cho được bao nhiêu người sang thế giới bên kia rồi?"[472]; tuy Ngự y đã uống phải một liều thuốc đắng như vậy, nhưng Ngự y vừa có ý nói lên sự thật vừa có ý tán dương nhà vua: "Muôn tâu Bệ hạ, không được nhiều bằng Bệ hạ, và cũng không được nổi tiếng như Người."[473] Do căn bệnh phù,[474] ông qua đời vào 2 giờ 20 phút buổi sáng ngày 17 tháng 8 năm 1786,[428] sau 46 năm trị quốc và hưởng thọ 74 tuổi.[49][382] Trước khi về cõi vĩnh hằng, ông hoàng chinh chiến thấy chú chó cưng của mình run lạnh, bèn hạ lệnh: "Người đâu, đắp chăn cho nó!". Ông nói lời cuối cùng:[475]

Vua Phổ Friedrich Wilhelm I cùng Hoàng hậu Louise xứ Mecklenburg-Strelitz tiếp Nga hoàng Aleksandr I bên mộ vua Friedrich II (Nhà thờ Công sự, Potsdam).

Cái chết của Đại đế Friedrich II cũng không khác với cái chết của Hoàng đế Áo Joseph II bốn năm sau đó: đặt dấu chấm hết một thời đại đầy thành tựu trong chế độ quân chủ.[476] Nhà cách mạng Hoa Kỳ Thomas Jefferson xem cái chết của nhà vua nước Phổ là một thảm họa của châu Âu và là một sự kiện có ảnh hưởng đến toàn thế giới.[300] Triều đình vua Joseph II của Áo cũng xuống chiếu để tang ông trong vòng hai tuần.[477] Tuy nhiên, trong khi những người nước ngoại thán phục ông tỏ ra thương tiếc, nhiều thần dân của ông thở phào nhẹ nhỏm, thậm chí gần như mừng rỡ khi hay tin nhà vua mất. Dù là một Quân vương "Khai sáng chuyên chế", khi ông còn sống, họ là những người phải chịu gánh nặng cho nhà vua để ông thắng vang dội trong cuộc chiến tranh, lại còn bị xua đuổi bởi tính cách lạnh lùng của ông và đau khổ khi sống dưới chế độ không trọng tín ngưỡng của ông.[334][444] (theo ghi nhận của Mirabeau - Sứ thần Pháp đã yết kiến Đại đế Friedrich II vào ngày 17 tháng 4 năm 1786)[396]


Vào những ngày cuối cùng trong đời, Đại đế Friedrich II thường ở cùng với một Bá tước trẻ tuổi người Ý. Vị Bá tước này đã được ông chỉ định làm Đại sứ.[478] Cháu trai ông, vua Friedrich Wilhelm II (1744 - 1797) lên nối ngôi. Trước kia, cha của vị vua này là Thái đệ August Wilhelm đã mất vào năm 1758, nên vua Friedrich II Đại đế chỉ định Friedrich Wilhelm II làm vị vua tương lai của Vương triều Brandenburg.[479][480] Lúc vua Friedrich II Đại đế qua đời, nước Phổ vẫn là một cường quốc nổi trội ở Đức, một trong những đại cường quốc trên toàn thế giới[64] và cũng là liệt cường có nền quân sự hùng mạnh nhất trên lục địa Âu châu.[414] Tuy nhiên, trong một thời gian sau khi ông mất, nước Phổ cũng mất đi sự huy hoàng do một vài ông vua kế vị ông đều bất tài.[481] Mãi đến các năm 1813 - 1815, sau khi Quân đội Phổ dẹp tan quân Pháp của Napoléon Bonaparte, công lao đưa nước Phổ lên hàng liệt cường của ông mới được tiếp tục phát huy,[482] chủ nghĩa nhị nguyên Phổ - Áo do ông khởi xướng mới ngày càng gia tăng,[483] và đến hồi kết khi Quân đội Phổ đại phá quân Áo vào năm 1866.[140] Mãi đến năm 1871, nước Phổ một lần nữa đánh thắng quân Pháp và tiến hành thống nhất Đế chế Đức[484] - một việc mà Đại đế Friedrich II đã mong muốn xưa kia.[100]

Hoàng đế Napoléon I viếng mộ vua Friedrich II.

Sinh thời, Đại đế Friedrich II trăng trối rằng, ông muốn được chôn cùng với con chó cưng của ông[485] tại một vườn nho trên sân thượng của cung điện Sanssouci. Tuy nhiên, tân vương Friedrich Wilhelm II đã hạ lệnh cho chôn Đại Đế Friedrich II bên cạnh cha ông - vị vua - chiến sĩ Friedrich Wilhelm I trong một Nhà thờ Công sự tại Postdam (bị phá hủy năm 1945).[123] Người ta chôn cất Đại đế Friedrich II với chiếc áo sơ mi của một tên lính hầu, do ông không có một bộ quần áo nào thật quá ư là đẹp mắt, xứng đáng được mang theo linh cữu của nhà vua.[93] Trong những năm tháng chiến tranh chống Napoléon, quân Pháp đã lấy cắp một thanh gươm của Đại Đế Friedrich II vào năm 1806, và bẻ bảo kiếm khi kinh đô Paris thất thủ và Napoléon thất thế, để Quân đội Phổ không thể lấy lại được thanh bảo kiếm của nhà vua (1814). Một chiếc chuông đồng hồ của nhà vua cũng bị Napoléon lấy đi, mang theo nó khi bỏ chạy và dùng đến khi qua đời ở chốn đày ải.[486]

Vào năm 1805, chính tại mộ Đại Đế Friedrich II, vua Phổ là Friedrich Wilhelm III đã đặt tay lên linh cữu ông, cùng Nga hoàng Aleksandr I nguyện thề thiết lập liên quân chống Pháp.[487] Sau này, Thống chế Paul von Hindenburg - Tổng thống nước Cộng hòa Weimar và Thủ tướng Adolf Hitler đã đến mộ của Đại Đế Friedrich II để xác nhận thỏa thuận đưa Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa lên nắm chính quyền.[123] Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), người ta đã chuyển quan tài chứa vua cha Friedrich Wilhelm I và Đại Đế Friedrich II tới một cái hầm dưới lòng đất, sau đó lại chuyển đến một cái giếng mỏ gần thị trấn Bernrode để bảo vệ cho thi hài các vị vua không bị phá hoại trong chiến tranh. Vào ngày 27 tháng 4 năm 1945, Quân đội Hoa Kỳ đã phát hiện ra linh cữu của ba nhà quân phiệt vĩ đại nhất của nước Đức: bao gồm cha con vua Friedrich II và cố Tổng thống Von Hindenburg, thậm chí có cả phu nhân của ông Hindenburg, và chuyển thi hài của họ đến Lâu đài Marburg, nhằm sưu tập và tìm kiếm "kho báu" của Đức Quốc xã. Như một phần của dự án bí mật mang tên "Chiến dịch Bodysnatch",[488] [489] quân Mỹ chuyển thi hài hai vị vua đến Nhà thờ Elisabeth tại thành phố Marburg, sau đó lại chuyển đến Lâu đài Hohenzollern gần thị trấn Hechingen. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ và nước Cộng hoà Liên bang Đức được thống nhất, thi hài Friedrich Wilhelm I được chôn cất trong Lăng Hoàng đế Friedrich III ở Nhà thờ Hòa Bình (Friedenskirche), tại Sanssouci.

Mộ của Friedrich II Đại đế tại Sanssouci.

Ngoài ra, sau khi bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9 tháng 11 năm 1989,[490] ước muốn của Friedrich II Đại đế cuối cùng cũng trở thành hiện thực.[389] Ngày 17 tháng 8 năm 1991 chính là ngày kỷ niệm 205 năm ngày nhà vua nước Phổ bước vào cõi vĩnh hằng. Vào hôm đó, chiếc quan tài chứa ông được đặt tại sân trước của cung điện Sanssouci và được hộ tống bởi một đội vệ binh danh dự Bundeswehr. Cùng ngày, vào buổi tối ông được chôn cất trong ngôi mộ trên nền đất cao nhất của khu vườn nho. Ngay từ năm 1744, ông đã mong muốn được yên nghỉ tại nơi đây, khi đó ông nói:

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Đại đế Friedrich II ở Neurebbin, Brandenburg (nước Đức). Đây là bản sao năm 1997 của bức tượng được tạc vào năm 1904, nhưng bị phá hủy sau đó.

Ông là một trong những vị vua nổi bật của triều đại Hohenzollern. Cùng với Thủ tướng Otto von Bismarck, ông trở thành một trong những nhà chính trị kinh điển của nước Đức.[483] Không những là nhà bảo trợ khoa học và văn hóa nghệ thuật,[492] ông còn được xem là nhà chính trị kiệt xuất nhất trong thời đại của ông.[493] Ý tướng "nhà vua là công bộc của nhân dân", chính sách tự do tôn giáo hay công cuộc cải tổ Chính phủ và Luật pháp Phổ cận đại, v.v... chính là những khía cạnh của một tư tưởng mới về chế độ quân chủ chuyên quyền.[494] Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, hay tin vua Phổ đại phá hàng vạn quân Pháp, Ngoại trưởng nước Pháp là Hồng y Bernis đã ca ngợi:[209]

Tuy nhiên, Friedrich II không có khả năng phổ biến tư tưởng Khai sáng vào quần chúng nhân dân. Họ vẫn còn dốt nát, nghèo khổ, và cô lập ở miền thôn quê. Do đó, nước Phổ không thể phát triển một bộ luật dân sự vững mạnh trong 10 năm sau khi ông từ giã cõi đời. Trong khi đó, tầng lớp địa chủ - quý tộc Junker vẫn đóng vai trò thống trị trong xã hội phong kiến Phổ,[27] Quốc gia Phổ chỉ đơn thuần là một cỗ máy.[495]

Dù có những đánh giá khác nhau trong lịch sử, với những trận thắng đáng nhớ của ông trước các đạo quân xâm lược đất Đức (chẳng hạn như Nga và Pháp), sau này ông được tôn vinh như một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Phổ,[40][100] anh hùng dân tộc của người Đức (đứng ngang hàng với Đại đế Karl I và nhà thần học Martin Luther), bất chấp một thực tế rằng ông chẳng mấy ưa thích nền văn hóa Đức.[496][497][498] Ông là vị Quân vương, người chiến binh Teuton kiệt xuất, đã thành công trong việc dẫn dắt nước Phổ trở thành một cường quốc chi phối vùng Trung Âu vào thời kỳ Khai sáng;[499] cùng với hai Nữ hoàng đương thời Maria Theresia và Ekaterina II là một trong ba vị Quân vương năng động hơn cả trên toàn cõi châu Âu.[500][501] Là vị vua lôi cuốn và đột ngột thay đổi bộ mặt của đất nước,[56] dân tộc Đức tự hào về Friedrich II Đại đế nhất trong tất cả các vị vua mà họ có được. Tác phẩm "Mein Kampf" (Cuộc tranh đấu của tôi) là một bằng chứng phong phú cho thấy trùm phát xít Đức là Adolf Hitler (1889 – 1945) ngưỡng mộ ông. Có lần, vị Quốc trưởng này gọi ông là "vị anh hùng lỗi lạc".[502] Dưới chế độ Đức Quốc xã, ông là một biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt Đức, họ đề cao ông như "ông vua - triết gia vung cao bảo kiếm", và còn viết sách giáo khoa có đoạn thơ:[503]


Đại Đế Friedrich II trong bảy năm chinh chiến (1757).

Nhà yêu nước Đức Heinrich von Treitschke cũng thán phục ông là vị vua xây dựng cả một dân tộc.[25] Ông là vị vua có công lớn trong việc thống nhất các dân tộc Teuton, và khi thất thế Hitler đã trốn dưới hầm và mang theo hình ảnh của ông để cố thủ cho chủ nghĩa dân tộc Đức do ông sáng lập ra hai trăm năm trước kia.[129] Tuy nhiên, không chỉ những nhà sử học người Đức mới đánh giá cao công lao của ông.[30] Thomas Bacaulay - Nam tước Bacaulay thứ nhất, nhà sử học người Anh, xem ông là một "vị Quốc vương vĩ đại nhất đã được quyền thừa kế ngai vàng trong thời kỳ cận đại".[127] Chính những tài năng, lòng dũng cảm trên chiến trường, xây dựng một lực lượng Quân đội Phổ kỷ luật và lối suy nghĩ tự do của nhà vua nước Phổ đã khiến cho Nga hoàng Pyotr III ngưỡng mộ ông và Vương quốc Phổ đến mức biến Đế quốc Nga thù địch trở thành một đồng minh của ông.[504][505][506] Huey Pierce Long, Jr. (1893 - 1935) - vị Thống đốc dân túy chủ nghĩa tiến bộ của tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) - cũng vô cùng ngưỡng mộ ông, gọi ông là "Kẻ đáng ghét vĩ đại nhất từ cổ chí kim" và nhấn mạnh đến một cuộc đối thoại của vị anh hùng kính yêu này trong bản báo cáo đến thủ đô Washington (1935):[507][508][509][510]

Một lần, Đại Đế Friedrich II quyết định tiến công kinh thành Viên của nước Áo. Những vị đại thần khờ dại liền can ngăn ông: "Kính bẩm Đức Kim Thượng, Người không thể đánh thành Viên, vì tình hình châu Âu sẽ trở nên thất thường". Tuy nhiên, nhà vua không nản chí, ông nói: "Ba quan của Trẫm sẽ chinh phạt được thành Viên, và các Khanh hãy hỏi các danh sĩ ở Heidelberg về nguyên nhân thắng lợi".[507][508] Nhà sử học Heinrich Karl Ludolf von Sybel (1817 - 1895), một thành viên của Đảng Tự do Nhân dân nước Đức thời vua Wilhelm I, cũng vô cùng ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II như một vị vua vĩ đại của nước Phổ.[511] Dù được trùm phát xít khâm phục, và dù tham chiến hai cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên lục địa Âu châu thời bấy giờ, ông quan tâm đến việc xây dựng nước Phổ giàu mạnh bằng đường lối hòa bình, đúng như ông từng gửi thư cho Voltaire:[123]

Và, sau khi đại phá liên quân Áo - Pháp đông gấp đôi, nhà vua cho Công chúa Wilhelmina chị ông hay: "Ngay bây giờ, Quả nhân có thể thăng hà trong hòa bình, do Dân tộc ta đã giành được vinh quang hiển hách...". Nhìn chung, ông là một Quân vương mạnh mẽ, chuyên cần và khuyển nho, làm việc nhiều đến mức từ một thanh niên đẹp trai trở thành một ông già mỏi mệt.[512] Đại đế Friedrich II được xem như một trong ba vị vua vĩ đại nhất của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, cùng với Nữ hoàng Nga Ekaterina II Đại đế và Hoàng đế Áo Joseph II.[513] Huân tước Acton xem ông là "một thần đồng thực sự tuyệt vời nhất" đã lên làm vua trong thời kỳ cận đại.[30] Ông cũng được xem là nhà kinh tế, tài chính vĩ đại;[75] theo Charles C. Savage, ông đạt được rất nhiều thành tựu đáng kính nể.[514] Trong sách Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới của Kha Xuân Kiều - Hà Nhân Học, phần "Friedrich: Ông vua sáng suốt" có nhận định tổng quát như sau:[515]

Vua Friedrich II Đại Đế và Tướng Ziethen trước trận thắng tại Torgau (1760), họa phẩm của Bernhard Rode (1791).

Hình ảnh Friedrich II Đại Đế và những chiến công của ông -cũng được thể hiện qua thơ, văn ca ngợi của các danh sĩ Kleist, Gleim và Archenholz, trong khi đại thi hào Goethe cho hay, những chiến công của ông đã đánh thức dân tộc Đức sau nhiều năm ngủ vùi.[352][367] Trong văn chương, nhà thơ nước Đức là Christian Daniel Friedrich Schubart tỏ lòng mến mộ nhà vua anh minh, tấm gương sáng cho mọi thế hệ anh hùng của dân tộc Đức. Tuy nhà thơ này ca ngợi những công đức của ông, như đưa chốn kinh kỳ Berlin thành "một thủ đô Athena mới", C. D. F. Schubart đã ví von ông như những vị anh hùng huyền thoại của dân tộc Đức - Teuton năm xưa, như WotanHermann, trong các bài thơ như "Bài thánh ca về vua Friedrich Đại Đế" về chiến công đại phá quân Áo tại Silesia (1740) của ông, hay bài thơ ca ngợi ông làm minh chủ bảo vệ quyền lợi của dòng giống Teuton trong đế quốc La Mã Thần thánh (1785).[516]


Thiên tài quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Friedrich II Đại đế tại Berlin, thủ đô nước Đức.

Tổng cộng, trong suốt 46 năm trời trị vì của ông, Vương quốc Phổ - Brandenburg đã 13 năm lâm chiến trong bốn cuộc chiến tranh, và Friedrich II đã chứng tỏ ông là một vị vua - chiến binhco1 tài của Phổ,[517] xứng đáng là con của Friedrich Wilhelm I - vị vua đã đánh bại quân Thụy Điển và xâm chiếm tỉnh Pomerania vào năm 1720.[518] Trong bảy năm chinh chiến, ông đã đánh bại được một liên quân chống Phổ đông đảo, điều này chứng tỏ khả năng của ông trong việchoàn toàn nắm bắt những nhược điểm hết thuốc chữa của những đế quốc vô địch kia, mà sự đố kỵ giữa các tướng soái Nga và Áo là một ví dụ.[216]

Trong số những con chiến mã mà ông cưỡi, có sáu con đã bị trúng đạn của đối phương (chẳng hạn như hai con ngựa chết trên chiến trường Kunersdorf[135]). Ông được người đời ca ngợi như một nhà chiến lược kiệt xuất,[75] thiên tài chiến thuật vĩ đại nhất của mọi thời đại. Có được những lời khen ngợi này chủ yếu là do ông thường áp dụng phương pháp tấn công bên sườn nổi tiếng (chẳng hạn như trong trận thắng tại Soor - 1745),[132][146] thực hiện những cuộc tấn công giáp lá cà. Dù lối "tấn công bên sườn" có lẽ đã được Hoàng đế Ba Tư cổ đạiCyrus Đại Đế áp dụng trong trận Thymbra vào năm 548 TCN, nhưng Đại Đế Friedrich II là ông tướng thành công vang dội nhất của lối đánh này ở thế kỷ thứ XVIII, và cho đến ngày nay tên tuổi của ông vẫn luôn luôn gắn liền với lối đánh này.[519] Nếu trận đánh tại Kolin (1757) là một thất bại của chiến thuật "đánh lấn vào sườn", vài tháng sau Quân đội vua Friedrich II đã giành chiến thắng tuyệt vời nhất của chiến thuật này trong trận chiến tại Leuthen, rồi lại chiến thắng huy hoàng với chiến thuật này tại Torgau (1760).[520][195][521][230] Trong khi chiến thắng lừng lẫy tại Leuthen đã đưa chiến thuật của ông trở nên trứ danh, nhà vua đã ghi nhận về chiến thuật này ngay từ tháng 3 năm 1742, trong hai tập tài liệu giảng dạy ba quân "Seelowitz" (‘Instruction für die Cavalleire’, 17 March, Oeuvres, XXX, 33; ‘Disposition für die sämmtlichen Regimenter Infanterie’, 25 March Oeuvres, XXX, 75),[522] sau làm vang danh đến cả Hoàng gia Áo.[523] Cách bố trí tuyến quân của ông được ví von với danh tướng Epimondas trong trận Leuctra thời Hy Lạp cổ đại,[227] và thể hiện xuất sắc trong các trận chiến Lobositz, Kolin, Rossbach, Leuthen, Kunersdorf, Liegnitz và Torgau.[30]

Không những thế, một yếu tố quan trọng nữa là khả năng chỉ huy các cuộc hành quân của ông, thể hiện qua việc ngăn chặn không cho các kẻ thù của mình tập hợp liên quân lại thành số đông và luôn biết chọn đúng thời điểm và địa điểm để đẩy lùi đối phương khỏi lãnh thổ Vương quốc Phổ. Trước khi dùng một Quân đội tinh nhuệ mà tổng tấn công thắng lợi, nhà vua không hề để cho đối phương biết trước mưu kế của mình.[524] Ông nói: "Nếu Trẫm biết cái chiến bào hiểu những kế hoạch của Trẫm, Trẫm sẽ xé bỏ và đốt nó" - một ý tưởng được vị tướng kiệt xuất của Quân đội Liên minh miền Nam Hoa KỳStonewall Jackson (1824 - 1863) đồng tình.[525] Ông, cùng với Stonewall Jackson và tướng Lucullus thời La Mã cổ đại là những vị thống soái đã cùng với một đội quân nhỏ giành chiến thắng huy hoàng trước những đội quân đông đảo hơn hẳn trên trận tiền.[526] Trong lá thư gửi người mẹ Maria Theresia, Hoàng đế La Mã Thần thánh Joseph II có viết về Đại đế Friedrich II:


Ngoài ra, nhiều tác giả (chẳng hạn như Adrian Gilbert hay Robin Cross) ghi nhận ông là vị thống soái vĩ đại nhất trong thời đại của ông.[528] [529] Trong các cuộc chiến tranh Silesia và chiến tranh Bảy năm, ông được Vương quốc Anh, và cả những cường quốc phe đối lập như Nga, Áo và Pháp ngưỡng mộ, vì năng lực phi thường của nước Phổ trên chiến trường và trong việc ngoại giao.[530] Có một lần, Quốc vương Anh là George II (1683 – 1760) - anh trai của Công chúa Sophia Dorothea mẹ Đại đế Friedrich II[531] - đã đánh giá ông như "một tên xỏ lá đáng căm ghét, một người bạn xấu xa, một đồng minh xấu xa, một người láng giềng xấu xa - nói chung là kẻ phá rối nguy hiểm nhất trên toàn cõi châu Âu này."[123] Còn Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna (từng là một người ngưỡng mộ ông)[170] - trước mối đe dọa từ Quân đội Phổ tinh nhuệ - đã gọi ông là "Quốc vương Nadir Shah thành Berlin".[532]

Đài kỷ niệm Đại đế Friedrich II tại Marienburg. Dưới chân tượng đài có các Hiệp sĩ Teuton.

Giữa bảy năm chinh chiến, ông được giáo dân Kháng Cách ở Anh Quốc và châu Mỹ mệnh danh là "vua Gustav II Adolf thứ hai".[533] Theo tài liệu "Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới" của Kha Xuân Kiều - Hà Nhân Học, "Ông mạnh dạn áp dụng phương án chủ động ra tay trước để áp đảo đối phương; tập trung binh lực, tiêu diệt dứt điểm từng đối thủ một; ông luôn quán triệt tư tưởng tấn công đến cùng, không bao giờ buông lõng quyền chủ động tấn công".[183] Ngay cả Hoàng đế Pháp đồng thời là nhà quân sự nổi tiếng Napoléon Bonaparte (1769 – 1821) đã nghiên cứu về những cuộc chinh phạt của Friedrich II Đại đế. Napoléon cũng công nhận ông là một vị thống soái vĩ đại nhất thời cận đại, thiên tài chiến thuật kiệt xuất nhất mọi thời đại[534] và đặt một tượng nhỏ hình vị vua nước Phổ trong phòng riêng của mình.[535][536] Sau khi đánh tan tác liên quân Áo - Phổ - Nga vào năm 1807, đích thân Napoléon Bonaparte - vốn luôn đồng ý với nhiều chiến thuật của Quốc vương -[536] đã thăm viếng mộ của Friedrich II Đại đế ở thành phố Potsdam và nhận xét với các tướng tá dưới quyền:

Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, Quân đội Phổ của ông liên tiếp giành chiến thắng oanh liệt tại Rossbach và Leuthen chỉ trong vòng một tháng, "điều đó thể hiện một cách hùng hồn nghệ thuật chỉ huy siêu việt cũng như kỹ xảo dụng binh nhuần nhuyễn của Friedrich" - theo hai tác giả Kha Xuân Kiều và Hà Nhân Học.[205] Napoléon Bonaparte cho rằng chỉ một trong số những trận đại thắng ấy cũng đủ cho "tên tuổi của Friedrich lưu danh thiên cổ và đứng vào hàng ngũ các danh tướng vĩ đại nhất trên thế giới"[205], còn đại văn hào Voltaire ghi nhận:[538]

Bên cạnh đó, nhà sử học quân sự và chính trị người Đức là Hans Delbrück (1848 – 1929) đã phê phán "chiến tranh tiêu hao" trong tác phẩm Die Strategie des Perikles, điều này đồng nghĩa với việc Hans Delbrück xem ông là một chiến binh thiếu anh hùng.[539] Delbrück cho biết, nhà vua nước Phổ và danh tướng thành Athena Perikles là những nhà cầm quân tiêu biểu của "chiến tranh tiêu hao".[540] Trong một buổi lễ đọ sức giữa các đoàn quân của các cường quốc vào năm 1867 ở thành phố Paris, đoàn quân Phổ chiến thắng và Đại Đế Friedrich II cùng Hoàng đế Napoléon được ca ngợi là "những người chiến hữu".[541] Qua việc ông đưa nước Phổ lên làm cường quốc quân sự hàng đầu sau ba cuộc chiến tranh xứ Silesia, ông được tôn vinh là một trong 50 vị lãnh tụ quân sự đã làm thay đổi cả thế giới.[542]


Đại Đế Friedrich II trong văn hóa cận - hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đương thời, do quá ngưỡng mộ Đại Đế Friedrich II và các danh tướng của ông, nhà tiểu luận Thomas Abbtt đã cho ra mắt tác phẩm "Người ta hy vinh vì quê cha đất tổ" (1761) để tỏ lòng kính trọng ông, sau trận đánh khốc liệt tại Kunersdorf.[352][544] Vốn đã mong muốn dựng đền tưởng niệm Đại Đế Friedrich II và các vĩ nhân người Đức, vua Ludwig I của Bayern đã cho người xây đền Walhalla vào thế kỷ XIX.[545] Người ta đã đặt tượng bán thân nhà vua nước Phổ trong ngôi đền này.[546]


Nhà vua nước Phổ

Vào năm 1793, nhà kiến trúc cổ điển người Đức Gottfried Shadow đã tạc bức tượng nổi tiếng nhất của ông: tượng Đại đế Friedrich II tại thành phố Stettin.[547] Vào năm 1851, để kỷ niệm vị Quốc vương lừng danh nhất của Đế quốc Phổ,[548] nhà điêu khắc Christian Rauh đã xây dựng một tượng đài "Ông già Fritz" bằng đồng trên đường phố kinh thành Berlin.[549]

Năm 1933 Đức Quốc xã cho ra mắt bộ phim đầu tiên nói về vị anh hùng dân tộc Đức: "Der Choral von Leuthen" (Bài thánh ca vùng Leuthen), theo đó ông là vị Quân vương sáng suốt vô bờ vô bến, với vốn kiến thức phong phú hết chỗ nói. Ông không nghe theo lời khuyên của tướng sĩ trong trận đánh tại Leuthen, để rồi đại phá quân Áo và bảo vệ non sông nước nhà. Đế chế Đức thứ ba đã làm không ít bộ phim nhưng chẳng nói về "Người nghệ sĩ - triết gia" thời kỳ Khai sáng, mà đề cập đến "Vị Quốc vương đáng kính... đã đưa nước Phổ lên hàng liệt cường sau chiến thắng trong vài cuộc chiến tranh - người chiến binh anh dũng nước Phổ"[550].

Vào năm 1935, bộ phim "Vị vua già và vị vua trẻ" (Der alte und der junge Konig) được phát hành ở Đức, nói về mối quan hệ giữa Hoàng tử Friedrich và bạo chúa Friedrich Wilhelm I.[551] Do vua cha quá độc ác, Friedrich có ý định thay đổi vua cha, nhưng không thành công và đi theo con đường phản nghịch. Nhưng sau đó ông thay lòng đổi dạ và quyết định sẽ trở thành người chiến binh xuất sắc, cùng cha hết lòng vì sự huy hoàng của non sông đất nước. Năm sau (1936), Johannes Meyer sáng tác phim "Đức Vua Fredericus" (hay "Ông già Fritz"), đại ý nói về việc ông bị quân Áo đánh bại, liên quân Nga - Áo vây hãm nước Phổ, nhưng sau đó ông xuất binh thắng lợi và trở về xây dựng Đế chế Phổ - Brandenburg phồn vinh phú cường. Vào năm 1942, Veit Harlan sáng tác phim "Đức Vua vĩ đại" (Der große König): Otto Gebühr vào vai ông, với nội dung là sau chiến bại Kunersdorf, Nữ hoàng Áo hay tin nước Phổ đã bị tiêu diệt, toàn bộ Quân đội và Nhân dân Phổ đều đề nghị ông tái lập hòa bình, nhưng ông từ chối, để rồi xuất binh và giành chiến thắng huy hoàng trước liên quân hùng mạnh trong trận chiến Leuthen, ai ai cũng phải thán phục ông. Tuy quân Nga thiết lập liên minh chống Áo, nhà vua nước Phổ không hề tin tưởng họ.[550]

Tượng Đại đế Friedrich II tại Sanssouci (thành phố Potsdam).

Vào năm 1884, Đại tá Quân đội Anh là Charles Booth Brackenbury cũng viết một tác phẩm được đánh giá cao, thuật lại tiểu sử của vị thống soái lỗi lạc Friedrich II Đại Đế[552]. Trong bộ phim "Der Untergang" (Sự sụp đổ) do Đức sản xuất năm 2004, Adolf Hitler ngồi trong một căn phòng tối và nhìn chằm chằm vào bức tranh vẽ Đại đế Friedrich II. Có lẽ đoạn phim này chứng tỏ niềm ao ước của nhà độc tài Đức Quốc xã về một phép lạ khác của Nhà Brandenburg. Ít lâu sau đó Adolf Hitler tự sát.

Trong bộ phim Patton sản xuất năm 1970, Tướng Hoa Kỳ George S. Patton đã trích dẫn sai rằng Đại đế Friedrich II nói: "L'audace, l'audace, toujours l'audace!" ("Táo bạo, táo bạo — thường xuyên táo bạo!").

King of Prussia, Pennsylvania, được theo tên quán King of Prussia. Bản thân quán này cũng được đặt tên là "King of Prussia" (Nhà vua nước Phổ) để tôn vinh Đại đế Friedrich II.[553]

Đường Phổ Quốc ("Prussia Street") tại thủ đô Dublin, Ireland được theo tên của vua Friedrich II Đại đế.[554]

Friedrich II Đại đế xuất hiện trong loạt game vi tính Civilization, các game vi tính Age of Empires III, Empire Earth II, Empire: Total War. Ông cũng là nhân vật trong các board game Friedrich và "Soldier Kings" (Những vị vua chiến binh).

Ngoài ra, nhà vua nước Phổ còn là nhân vật chính trong truyện đọc trực tuyến trên Internet (webcomic) Frederick the Great: A Most Lamentable Comedy Breaching Space and Time.

Trong manga Hetalia: Axis Powers, vua Friedrich II Đại đế được gọi là "Cụ già Fritz" - ông chủ của nhân vật Gilbert Beillschmidt (Phổ).

Không những thế, ông còn được đề cập đến vài lần trong bộ phim Barry Lyndon do Stanley Kubrick sản xuất năm 1975. Trong phim này, ông được gọi là "vua Frederick vĩ đại và lừng lẫy". Quân đội Phổ dưới triều đại ông vừa được khen ngợi vừa bị chỉ trích. Điều này thể hiện qua một đoạn trích trong phim:


Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Đế Friedrich II là anh trai của Louise Ulrike - mẫu hậu của vua Thụy Điển Gustav III.[555] Vào thập niên 1770, vua Gustav III đến thăm thành phố Potsdam và Đại Đế Friedrich II đã chỉ dạy việc trị quốc đúng đắn cho cháu mình.[96]

Friedrich Wilhelm
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
 
Louise Henriette xứ Orange-Nassau
 
 
Ernest Augustus
Tuyển hầu tước xứ Brunswick-Lüneburg
 
Sophia
Quận chúa vùng Rhine
 
 
George William
Vương công xứ Brunswick-Lüneburg
 
Eleonore d'Esmier d'Olbreuse
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Friedrich I
của Phổ
 
 
 
Sophia Charlotte
xứ Hanover
 
 
 
George I
của Anh
 
 
 
Sophia Dorothea
xứ Celle
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Friedrich Wilhelm I của Phổ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Sophia Dorothea xứ Hanover
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Friedrich II của Phổ

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 55
  2. ^ a ă â N. Mitford, Frederick the Great, New York, 1970
  3. ^ a ă Mes souvenirs de vingt ans de séjour à Berlin, Paris, 1804,.5 vol.
  4. ^ a ă â Giacomo Casanova, "History of my life", Tập 9-10, JHU Press, 1997, trang 541
  5. ^ Friedrich II Đại đế là vị vua thứ ba và cuối cùng ở Phổ. Bắt đầu từ năm 1772, ông đã sử dụng vương hiệu là "Đức Vua của Phổ".
  6. ^ Scott, H.M. (ed.), Enlightened Absolutism: Reform and Reformers in Later Eighteenth-Century Europe, (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1990), p. 265ff
  7. ^ C B Brackenbury,C. B. Brackenbury, "Frederick the Great", trang 19
  8. ^ a ă Elizabeth Harriot Hudson, The Life and Times of Louisa, Queen of Prussia - With an Introductory Sketch of Prussian History, Tập 1, trang 90, trang 147: "..victory at Rossbach"
  9. ^ Thẩm Kiên, trang 241
  10. ^ Norwood Young, "The Life of Frederick the Great", trang 14-15
  11. ^ a ă John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 21, trang 351, trang 548.
  12. ^ a ă â b c d Miles E. Campbell, M. W. Campbell, Niles R. Holt, William T. Walker, sách đã dẫn, trang 55
  13. ^ MacDonogh, p. 37
  14. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 242
  15. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 243
  16. ^ a ă M. B. Synge, The Awakening of Europe, Yesterday's Classics, 2006, trang 230
  17. ^ a ă â b c d Joseph Thomas, The Universal Dictionary of Biography and Mythology, trang cclxxxvii
  18. ^ MacDonogh, p. 35
  19. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Frederick II (also known as: Frederick the Great) King of Prussia (1712-86)
  20. ^ a ă Crompton
  21. ^ a ă â b c Thẩm Kiên, trang 244
  22. ^ Reiners, p. 33
  23. ^ Reiners, p. 63
  24. ^ a ă â Robert Aldrich, Garry Wotherspoon, "Who's who in gay and lesbian history: from antiquity to World War II", Tập 1, Routledge, 2002, trang 198
  25. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Louis Crompton, "Homosexuality & Civilization", trang 504, nguyên văn bài thơ trong trang 505, trang 508, trang 515.
  26. ^ a ă â b Robert Chambers, The book of days: a miscellany of popular antiquities in connection with the calendar, including anecdote, biography, & history, curiosities of literature and oddities of human life and character, Tập 1, W. & R. Chambers, 1863, các trang 156-157.
  27. ^ a ă â b David W. Del Testa, Florence Lemoine, John Strickland, Government leaders, military rulers, and political activists, trang 64
  28. ^ a ă â b c d đ Alice Birkhead, Heroes of Modern Europe, các trang 135-136.
  29. ^ William Darrach Halsey, Emanuel Friedman, Collier's encyclopedia: with bibliography and index, Volume 10, Macmillan Educational Co., 1984, trang 348
  30. ^ a ă â b c Norman Davies, sách đã dẫn, trang 648
  31. ^ MacDonogh, p. 844
  32. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 245
  33. ^ Reiners, p. 52
  34. ^ a ă â Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, các trang xxi-xxii, trang 36.
  35. ^ a ă W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, các trang 42-44.
  36. ^ a ă â b Rupert S. Holland, Adam Starchild, Historic Boyhoods, trang 72
  37. ^ Reiners, p. 69
  38. ^ Reiners, p. 71
  39. ^ Mary Kittredge, Frederick the Great, trang 42
  40. ^ a ă â b Gregory Fremont-Barnes, Encyclopedia of the age of political revolutions and new ideologies: 1760 - 1815, trang 269
  41. ^ a ă â b c d William J. Duiker, Jackson J. Spielvogel, The Essential World History, Tập 1.
  42. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 246
  43. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 247
  44. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 254
  45. ^ S. Andrews, "Eighteenth Century Europe, the 1680s to 1815", Luân Đôn, Longman, 1965, trang 119
  46. ^ a ă â b Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, Roudlege, trang 148, trang 58: "...Poland..."
  47. ^ a ă Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 255
  48. ^ MacDonogh, p. 125
  49. ^ a ă Alexander Hopkins McDonnald, The Encyclopedia Americana, Americana Corp., 1951, trang 33
  50. ^ Thomas Carlyle, Cyril Ransome, "The battles of Frederick the Great: Abstracted from Thomas Carlyle's biography of Frederick the Great", trang 1, trang 197.
  51. ^ a ă â b Radhey Shyam Chaurasia, History of Europe, các trang 134-136.
  52. ^ Georg Kolbe, Undying Faces: A Collection of Death Masks, Kessinger Publishing, 2003, trang 34. ISBN 0-7661-6640-6.
  53. ^ a ă John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 189, trang 192.
  54. ^ Theodor Fontane, Peter Demetz, Delusions, confusions; and, The Poggenpuhl family, Continuum International Publishing Group, 1989, trang 275
  55. ^ Friedrich Kapp, Life of Frederick William von Steuben: major general in the Revolutionary Army, trang 47
  56. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên devries
  57. ^ Mario Reading, The Complete Prophecies of Nostradamus, Sterling Publishing Company, Inc., 2009, trang 464. ISBN 1-906787-39-5.
  58. ^ Elizabeth Rawson, The Spartan tradition in European thought, Oxford University Press, 1991, trang 225
  59. ^ a ă â b Archer Jones, "The art of war in the Western world", University of Illinois Press, 2001, các trang 294-296, trang 304: "Kunersdorf".
  60. ^ Press Company Frontier Press Company, "Masters of Achievement: The World's Greatest Leaders in Literature, Art, Religion, Philosophy, Science, Politics and Industry Part Two", trang 639
  61. ^ Allen Horstman, William H. Burnside, "The Essentials of European History: 1648 to 1789, Bourbon, Baroque, and Enlightenment", trang 8, trang 54.
  62. ^ a ă â Erich Meissner, Germany in Peril, trang 16, trang 22
  63. ^ Richard L. Gawthrop, Pietism and the making of eighteenth-century Prussia, trang 1
  64. ^ a ă Frederick II (the Great) (1712-1786), king of Prussia (1740-1786)
  65. ^ H. W. Koch, A History of Prussia, các trang 100-102. Trang 161
  66. ^ Tuy nhiên, theo ghi nhận của Paul Kuritz, người ta gọi ông là Friedrich Đại đế do ông đã phản đối chủ nghĩa quân phiệt của vua cha, tập trung năng lực của mình vào nền văn hoá và nghệ thuật. Xem "The making of theatre history", trang 245
  67. ^ Robert S. Albert, Genius and eminence, trang 84
  68. ^ William Theodore De Bary, Sources of East Asian Tradition: The modern period, Columbia University Press, 2008, trang 482. ISBN 0-231-14323-0.
  69. ^ A. W. Holland, Germany, trang 221
  70. ^ The Merchants' Magazine and Commercial Review, Tập 1, trang 103
  71. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 214
  72. ^ a ă Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, trang 204
  73. ^ a ă â Frederick the Great
  74. ^ Adrian Gilbert, The encyclopedia of warfare: from earliest time to the present day, trang 110
  75. ^ a ă â J. Ellis Barker, The Foundations of Germany, trang 20, trang 31.
  76. ^ Фридрих II Великий. Жизнеописание (часть 2)
  77. ^ Martin Van Creveld, The rise and decline of the state, trang 12-
  78. ^ Elite military formations in war and peace, A. Hamish Ion, Keith Neilson, Greenwood Publishing Group, 1996, trang 18
  79. ^ a ă â LIFE, 22 tháng 11 năm 1943, trang 94. LIFE, 5 Tháng Mười 1942, trang 110.
  80. ^ New York Magazine, 30 Tháng Mười Một 1992, 190 trang, Tập 25, Số 47, Mã số ISSN 0028-7369, Xuất bản bởi New York Media, LLC, trang 21
  81. ^ Minna Regina Falk, "History of Germany: from the Reformation to the present day", Philosophical Library, 1957, trg. 62
  82. ^ a ă â R. Van Bergen, The Story of Russia, trang 141
  83. ^ a ă â b c d đ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 323-324
  84. ^ H. M. Cottinger, Elements of Universal History for Higher Institutes in Republics and for Self-Intruction, trang 199
  85. ^ a ă Eleanor L. Turk, The history of Germany, trang 57
  86. ^ a ă â b c Heinrich August Winkler, Alexander Sager, Germany: the long road west, Tập 2, Oxford University Press, 2006, các trang 28-29.
  87. ^ A. Hillard Atteridge, The German Army in War, BiblioBazaar, LLC, 2008, trang 36
  88. ^ a ă â b Thomas Hammont Cooper, The military cabinet: being a collection of extracts from the best authors, both ancient and modern, Tập 3, trang 276
  89. ^ Museum of foreign literature, science and art, Tập 42, trang 495
  90. ^ Roger Parkinson, Hussar General: The Life of Blucher, Man of Waterloo, trang 8
  91. ^ Jurgen Brauer, Hubert P. Van Tuyll, Castles, battles, & bombs: how economics explains military history, University of Chicago Press, 2008, trang 146
  92. ^ Robert Michael Citino, Death of the Wehrmacht: the German campaigns of 1942, University Press of Kansas, 2007, trang 49
  93. ^ a ă John Duncan Quackenbos, Illustrated School History of the World: From the Earliest Ages to the Present Time: Accompanied with Numerous Maps and Engravings, trang 230
  94. ^ a ă â W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, trang 238, trang 264: "Augustus William"
  95. ^ a ă â Simon Millar, Adam Hook, Kolin 1757: Frederick the Great's first defeat , trang 31, trang 85.
  96. ^ a ă Walter Yust , Encyclopædia Britannica: a new survey of universal knowledge, Tập 11, Encyclopædia Britannica, 1956, trang 10. Tập 1, 1950, trang 958: "General Prince Moritz"...
  97. ^ Frederick II (King of Prussia), Military instruction from the late King of Prussia to his generals, trang 1
  98. ^ Philip J. Haythornthwaite, Frederick the Great's Army: Cavalry, trang 3
  99. ^ M. Evan Brooks, Military history's most wanted: the top 10 book of improbable victories, unlikely heroes, and other martial oddities, trang 10
  100. ^ a ă â b c d Prussia
  101. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Christopher Duffy, Frederick the Great: a military life, các trang 74-76, các trang 279-281.
  102. ^ Peter Hofschröer, Prussian reserve, militia & irregular troops 1806-15, trang 24
  103. ^ René Chartrand, Napoleon's guns, 1792-1815: Field artillery, Tập 1
  104. ^ a ă Jeremy Back, Cambridge illustrated atlas, warfare: Renaissance to revolution, 1492-1792, trang 132, trang 123: "...Charles XII of Sweden"...
  105. ^ a ă Society of American Military Engineers, The Military engineer, Tập 23, trang 62, trang 66.
  106. ^ a ă â b c d đ e ê g The new American cyclopaedia: a popular dictionary of general knowledge, Tập 7, các trang 727-728.
  107. ^ a ă â b c William Young, German Diplomatic Relations 1871-1945: The Wilhelmstrasse and the Formulation of Foreign Policy], 2006, trang 6
  108. ^ a ă Adrian Gilbert, <The encyclopedia of warfare: from earliest time to the present day, trang 113
  109. ^ The spectator, Tập 170, F.C. Westley, 1943, trang 166
  110. ^ Albert Sidney Britt, Thomas E. Griess, The wars of Napoleon, Square One Publishers, Inc., 2003, trang 59
  111. ^ Robert B. Kane, Peter Loewenberg, Disobedience and Conspiracy in the German Army, 1918-1945, McFarland, 2008, trang 37
  112. ^ a ă â b c Dennis E. Showalter, William J. Astore, The early modern world, các trang XIII-XVIII, trang 88.
  113. ^ Richard Ned Lebow, Why Nations Fight: Past and Future Motives for War, trang 102
  114. ^ Frederick II (King of Prussia), Frederick the Great: Instructions for his generals, trang 25
  115. ^ David P. Barash, Charles Webel, Peace and conflict studies, SAGE, 2002, trang 58
  116. ^ a ă â Gerhard Ritter, Frederick the Great: A Historical Profile, các trang 125-126.
  117. ^ a ă â b George Jellinek, History through the opera glass: from the rise of Caesar to the fall of Napoleon, trang 255
  118. ^ Marshall Dill, Jr., Germany: A Modern History (1970) p. 39.
  119. ^ Imanuel Geiss, "The question of German unification, 1806-1996", Routledge, 1997, trang 83
  120. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pouwels344
  121. ^ Herbert H. Kaplan, Russia and the outbreak of the Seven Years' War, trang 3
  122. ^ a ă Joseph A. Biesinger, Germany: a reference guide from the Renaissance to the present, các trang 386-387, trang 554: "evil mang in Potsdam".
  123. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l James, Barry: 200 Years Later, Frederick the Great Still Makes Trouble[liên kết hỏng], International Herald Tribune, ngày 15 tháng 8 năm 1991
  124. ^ Houghton Mifflin Company, The Houghton Mifflin dictionary of biography, trang 560
  125. ^ Gregory Fremont-Barnes, The French revolutionary wars, trang 12
  126. ^ Augusta Hale Gifford, Germany, her people and their story: a popular history of the beginnings, rise, development, and progress of the German empire from Arminius to William II, Lothrop publishing compay, 1899, trang 348
  127. ^ a ă James A. Richards, The Outline of Knowledge: Essays V14, Volume 14, trang 201
  128. ^ Virginia H. Aksan, sách đã dẫn, các trang 61-69
  129. ^ a ă Stuart Walton, A Natural History of Human Emotions, trang 35
  130. ^ John Scholte Nollen, Prinz Friedrich Von Homburg, trang 1
  131. ^ Strobe Talbott, The great experiment: the story of ancient empires, modern states, and the quest for a global nation, trang 89
  132. ^ a ă â b c Armstrong Starkey, War in the Age of Enlightenment, 1700-1789, các trang 3-4: "...gave him the gout..", trang 47: "The famous oblique order"...
  133. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sir
  134. ^ Koch, A History of Prussia, trang 105.
  135. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k W. F. Reddaway, "Frederick the Great and the Rise of Prussia", các trang 148-153, trang 274, trang 288, trang 336, trang 344.
  136. ^ W. Sanford Ramey, sách đã dẫn, trang 170, trang 234.
  137. ^ a ă C B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, trang 53
  138. ^ a ă Lewis Copeland, Lawrence W. Lamm, Stephen J. McKenna, The world's great speeches, trang 69
  139. ^ a ă â b Thomas Campbell, Frederick the Great and His Times, Tập 2, các trang 80-81. Frederick the Great, his court and times, Tập 1, các trang 240-241. Tập 3, trang 189 về chiến thắng Zorndorf.
  140. ^ a ă â b George Madison Priest, Germany Since 1740, các trang 12-13, các trang 33-34 về những sự kiện cuối đời vua Friedrich II. Trang 99 về hồi kết của 'dualism'...
  141. ^ Bernard Grun, Werner Stein, The timetables of history: a horizontal linkage of people and events, based on Werner Stein's Kulturfahrplan, Simon and Schuster, 1979, trang 340
  142. ^ a ă â b c d Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 90, các trang 122-129, các trang 139-140.
  143. ^ a ă J. Ellis Barker, The Foundations of Germany, các trang 80-81, trang 83.
  144. ^ a ă â Peter N. Stearns, William Leonard Langer, sách đã dẫn, các trang 317-318.
  145. ^ a ă â Samuel Smiles, Life and Labor Or Characteristics of Men of Industry, Culture and Genius, trang 133
  146. ^ a ă â Jeremy Black, Cambridge illustrated atlas, warfare: Renaissance to revolution, 1492-1792, trang 119, trang 126
  147. ^ LIFE, 22 Tháng 4 1940, 22 Tháng 4 1940, Tập 8, Số 17, Mã số ISSN 0024-3019, Xuất bản bởi Time Inc, trang 24
  148. ^ a ă â Frederick II (King of Prussia), Frederick the Great, his court and times, Tập 1, trang VI, các trang 200, 275-276, 327-400.
  149. ^ a ă Amazons and apprentices: women and the German Parnassus in the early Enlightenment của Katherine Goodman, Camden House, 1999, trang 280
  150. ^ John Jacob Anderson, A Complete Course in History - New Manual of General History, with Particular Attention to Ancient and Modern Civilization. with Numerous Engravings and Maps - For the Use of Colleges, High Schools, Academies, Etc. Part II., trang 322
  151. ^ Edw Smedley, Encyclopaedia Metropolitana; or, universal dictionary of knowledge, on an original plan: comprising the twofold advantage of a philosophical and an alphabetical arrangement, with appropriate engravings: Edited by Edw. Smedley, Hugh Jam. Rose, and H. John Rose. (Text: voll. XXVI. Plates: voll. III. Index, Tập 1, B. Fellowes, Rivington, Ducan, Malcolm, Suttaby, Hodgson, 1845, trang 274
  152. ^ a ă â Elizabeth Harriot Hudson, The Life and Times of Louisa, Queen of Prussia, Volume I, trang 110
  153. ^ John Henry Wright, A history of all nations from the earliest times: being a vniversal historical library, trang 256
  154. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên pollocke
  155. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 315
  156. ^ Archibald Rosebery, Chatham, His Early Life and Connections, BiblioBazaar, LLC, 2009, trang 206
  157. ^ a ă Arthur Hassall, The Making of the British Empire (A.D. 1714-1832), trang 18
  158. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 250
  159. ^ a ă â b c d đ e ê John Keegan, Andrew Wheatcroft, Who's who in military history: from 1453 to the present day, trang 95, trang 102.
  160. ^ W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, trang 127
  161. ^ Charles Dickens, William Harrison Ainsworth, Albert Smith, Bentley's miscellany, Tập 46, trang 308
  162. ^ a ă â Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 251
  163. ^ a ă Eleanor L. Turk, The history of Germany, các trang 58-59.
  164. ^ William Young, German Diplomatic Relations 1871-1945: The Wilhelmstrasse and the Formulation of Foreign Policy, các trang 4-5.
  165. ^ Neil Grant, Oxford Children's History of the World, Tập 2, trang 108
  166. ^ a ă A. H. Trapman, The Dog: Man's Best Friend. a Book for All Dog Lovers, READ BOOKS, 2002, trang 70
  167. ^ a ă â b c d đ e ê John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, các trang 532-540, trang 568, trang 572: "After having restored peace to my kingdom..."
  168. ^ Frederick William Longman, Frederick the Great and the Seven Years' War, các trang 60-61.
  169. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 132-136.
  170. ^ a ă â Gerhard Ritter, Frederick the Great: A Historical Profile, các trang 91-92, trang 95: "...Empress Elizabeth"...
  171. ^ All statistics taken from Chandler, The Art of Warfare in the Age of Marlborough, p.306.
  172. ^ Thomas Benfield Harbottle, Dictionary of Battles from the Earliest Date to the Present Time, BiblioBazaar, LLC, 2009, trang 109
  173. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sandler295
  174. ^ a ă â b c Heinrich Von Treitschke, George Haven Putna, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, các trang 19-22. Trang 202: "...Moses..."
  175. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên thodieek
  176. ^ Ernest F. Henderson, Side Lights on English History: Extracts from Letters, Papers, and Diaries of the Past Three Centuries, The Minerva Group, Inc., 2004, trang 254
  177. ^ a ă â b c John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, các trang 371-373.
  178. ^ a ă â Philip Van Ness Myers, General History for Colleges and High Schools, các trang 399-403.
  179. ^ a ă Derek Edward Dawson Beales, Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780, các trang 104-105.
  180. ^ Derek Edward Dawson Beales, Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780, trang 117, trang 467: "Further, the newly discovered Moravian Protestants lived in a district near the Prussian border, and doubtless admired Frederick the Great..."
  181. ^ Walter Alfred Peter Phillips, The tragedy of Nazi Germany, trang 17
  182. ^ Thẩm Kiên, "10 đại hoàng đế thế giới", trang 258
  183. ^ a ă â b c d Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 325
  184. ^ Tony. Jaques, Dictionary of Battles and Sieges, Greenwood Publishing Group, trang 800
  185. ^ Sir Richard Lodge, A History of Modern Europe from the Capture of Constantinople, 1453, to the Treaty of Berlin, 1878, các trang 352-353
  186. ^ Gordon Tullock, Autocracy, Springer Science & Business, 1987, trang 50. ISBN 90-247-3398-7
  187. ^ Simon Millar, Adam Hook, Zorndorf 1758: Frederick Faces Holy Mother Russia, trang 11
  188. ^ Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 10
  189. ^ Voltaire, Gita May, Henry Morley, Lauren Walsh, Candide, or, Optimism, Spark Educational Publishing, 2003, trang 114
  190. ^ Szabo, sách đã dẫn, trang 45-46, trang 284. Trang 168: "...great victory as that on the 25th, where over 30000 Russians perished..."
  191. ^ Charles Knight, The popular history of England: an illustrated history of society and government from the earliest period to our own times, Tập 6, Bradbury and Evans, 1865, trang 216
  192. ^ Monro MacCloskey, The infamous wall of Berlin, trang 19
  193. ^ William Leist Redwin Cates, A dictionary of general biography: with a classified and chronological index of the principal names..., các trang 391-392.
  194. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 13
  195. ^ a ă Pierre Gaxotte, Philip Hamilton McMillan Memorial Publication Fund, Frederick the Great, "This was the oblique approach...."
  196. ^ Perrett, Bryan (1992). The Battle Book. London, England: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-328-2.  p. 240.
  197. ^ a ă â b c d đ e Chambers's encyclopaedia: a dictionary of universal knowledge for the..., Tập 8, các trang 636-637.
  198. ^ a ă George Long, Society for the Diffusion of Useful Knowledge (Great Britain), The Penny cyclopædia of the Society for the Diffusion of Useful Knowledge: v. 1-27, Volume 19, C. Knight, 1841, trang 366. Tập 25, trang 45. Tập 10, trang 463: great victory at Prague...
  199. ^ Horace Walpole, Letters of Horace Walpole -, Volume 1, trang 119
  200. ^ Charles H L Johnston, Famous Cavalry Leaders, READ BOOKS, 2008, trang 182
  201. ^ Christon I. Archer, World history of warfare, trang 337
  202. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hitlertuyen
  203. ^ Nam tước Macaulay, Selections from the Prose of Macaulay, trang 272
  204. ^ a ă Hajo Holborn, A History of Modern Germany: 1648-1840, các trang 245-246, trang 248
  205. ^ a ă â b c d Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, các trang 326-330.
  206. ^ George Lillie Craik, Charles MacFarlane, Charles Knight, Harriet Martineau, The pictorial history of England: being a history of the people as well as a history of the kingdom, Tập 4, trang 570
  207. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên victiare
  208. ^ John Frederick Smith, William Howitt, John Cassell, John Cassell's Illustrated history of England, Tập 4, trang 563
  209. ^ a ă â b Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, các trang 142-145, trang 154.
  210. ^ Reader's Digest Association, How was it done?: the story of human ingenuity through the ages, Reader's Digest, 1995, trang 348
  211. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tranthangzorndorf
  212. ^ a ă Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 244-246.
  213. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên dinom
  214. ^ a ă Bradley Allen Fiske, The Art of Fighting; Its Evolution and Progress, with Illustrations from Campaigns of Great Commanders, trang 111
  215. ^ John Morley, Oliver Cromwell, READ BOOKS, 2010, trang 141
  216. ^ a ă â b c d J. O. Lindsay, New Cambridge Modern History: The Old Regime, 1713-1763, Cambridge University Press, 1957, các trang 482-484. Trang 472: "Kunersdorf..."
  217. ^ John Childs, Armies and warfare in Europe, 1648-1789, Nhà xuất bản Đại học Manchester ND, 1982, trang 130
  218. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gerhard121
  219. ^ a ă Philip Alexander Prince, Parallel history: being an outline of the history and biography of the world, contemporaneously arranged, Tập 2, trang 512
  220. ^ a ă C B Brackenbury,C. B. Brackenbury, Frederick the Great, các trang 218-223.
  221. ^ Philip Henry Stanhope, History of England from the peace of Utrecht to the peace of Versailles: 1713-1783, Tập 4, trang 209
  222. ^ George Richard Potter, The New Cambridge modern history: The Renaissance, 1493-1520, trang 477
  223. ^ Stacy Bergstrom Haldi, Why wars widen: a theory of predation and balancing, các trang 31-32: "...cuộc chiến tranh kết thúc vì, dù vua Friedrich có thể đã lâm vào tình thế khó khăn năm 1762, tất cả các nước chống Phổ đều kiệt quệ như nhau. Rõ ràng là nước Phổ không thể bị đánh bại.", trang 41.
  224. ^ Thomas Henry Dyer, The history of modern Europe from the fall of Constantinople: in 1453..., Tập 3, trang 431
  225. ^ a ă â André Corvisier, John Childs, A dictionary of military history and the art of war, trang 107, trang 287.
  226. ^ a ă Angus Konstam, Russian Army of the Seven Years War (2), Osprey Publishing, 1996, các trang 5-6.
  227. ^ a ă â Edinburgh encyclopaedia, The Edinburgh encyclopaedia, conducted by D. Brewster, 1830, trang 751
  228. ^ a ă â G. A. Henty, With Frederick the Great, trang 375, các trang 13-14: Lời mở đầu
  229. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 527
  230. ^ a ă â b C B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, các trang 241-245. Trang 181: "most perfect illustration of the attack in oblique order"...
  231. ^ a ă S. G. Tallentyre, The Life of Voltaire, Volume 1, READ BOOKS, 2008, các trang 144-160, Volume 2.
  232. ^ a ă William Otto Henderson, "Marx and Engels and the English workers: and other essays", Routledge, 1989, các trang 159-165.
  233. ^ Alexander Fraser Tytler (lord Woodhouselee.), Elements of general history. Ed. by B. Turner, trang 509
  234. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên danhtorgau
  235. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 261
  236. ^ Orville Theodore Murphy, Charles Gravier, Comte de Vergennes: French diplomacy in the age of revolution, 1719-1787, SUNY Press, 1982, trang 136
  237. ^ Frank Ronald Charles Bagley, Hans Joachim Kissling, "The last great Muslim empires: history of the Muslim world", Markus Wiener Publishers, 1996, trang 44
  238. ^ S. Fischer-Fabian, Prussia's glory: the rise of a military state, trang 255
  239. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich the Second called Frederick the Great, Tập 6, trang 192
  240. ^ Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 7
  241. ^ Russell Frank Weigley, The Age of Battles: The Quest for Decisive Warfare from Breitenfeld to Waterloo, 2004, trang 192
  242. ^ a ă Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, Taylor & Francis, 1978, trang 210-211.
  243. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 228
  244. ^ W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, trang 298
  245. ^ a ă Martin Windrow, Francis K. Mason, The World's Greatest Military Leaders: 200 Of the Most Significant Names in Land Warfare, from the 10th to 20th Century, trang 81
  246. ^ a ă Jeremy Back, European warfare in a global context, 1660-1815, trang 36
  247. ^ Những trận đánh thời Friedrich II
  248. ^ a ă G. W. Prothero, Stanley Leathes, Sir Adolphus William Ward, the cambridge modern history, các trang 299-301.
  249. ^ Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: F-O, trang 373, trang 451: "Hochkirch".
  250. ^ a ă â b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cori
  251. ^ Carl Eduard Vehse, Franz K. F. Demmler, Memoirs of the court of Prussia, các trang 185-186.
  252. ^ a ă John Frost, Pictorial modern history: from the discovery of America by Columbus to the present time, trang 248
  253. ^ a ă Robert B. Asprey, "Frederick the Great: the magnificent enigma", trang 349, trang 558.
  254. ^ William Fiddian Reddaway, sách đã dẫn, tr. 299
  255. ^ Joseph Towers, Memoirs of the life and reign of Frederick the Third, King of Prussia, Tập 2, Printed for C. Dilly, 1795, trang 260
  256. ^ a ă Seven Years War (1756-1763)
  257. ^ Hermann Kinder & Werner Hilgermann, The Anchor Atlas of World History: Volume 1 (1974) trang 282-283.
  258. ^ Abha Trivedi, "Glimpses Of European History (1450-1945)", Sarup & Sons, 2007, trang 126
  259. ^ a ă â b Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 346-347.
  260. ^ H. L. Mencken, American Mercury Magazine January to tháng 4 năm 1924, Kessinger Publishing, 2003, trang 383
  261. ^ a ă Charles Knight, The English Cyclopaedia: Geography, trang 236
  262. ^ Robert A. Kann, "A history of the Habsburg Empire, 1526-1918", University of California Press, 1980, trang 162
  263. ^ Charles W. Ingrao, sách đã dẫn, trang 177
  264. ^ Ragnhild Marie Hatton, Robert Oresko, G. C. Gibbs, Hamish M. Scott, "Royal and republican sovereignty in early modern Europe: essays in memory of Ragnhild Hatton", trang 527
  265. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 242
  266. ^ Baedeker's Berlin, 1992, trang 45
  267. ^ a ă â b Geoffrey Russell Richards Treasure, The making of modern Europe, 1648-1780, trang 449-451
  268. ^ a ă John Holmes Agnew, Walter Hilliard Bidwell, The Eclectic magazine: foreign literature, Tập 38, các trang 551-552.
  269. ^ Mario Morselli, Amedeo Avogadro, a scientific biography, Springer, 1984, trang 6. ISBN 90-277-1624-2.
  270. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên denio
  271. ^ a ă John McCannon, Barron's how to prepare for the AP world history examination, trang 191
  272. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 219
  273. ^ a ă Harper's magazine, Tập 32, Harper's Magazine Co., 1866, trang 25
  274. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 380
  275. ^ Lê Vinh Quốc, Lê Phụng Hoàng, Nguyễn Thị Thư, trang 89
  276. ^ MacDonogh, p. 78
  277. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cambwllpe
  278. ^ Poland, Partitions of. (2008). In Encyclopædia Britannica. Truy cập 28 tháng 4 năm 2008, from Encyclopædia Britannica Online: http://www.britannica.com/eb/article-9060581
  279. ^ a ă Frederick the Great: A Historical Profile Gerhard Ritter trang 180, trang 191. University of California Press, 1975
  280. ^ a ă Jerzy Jan Lerski, Piotr Wróbel, Richard J. Kozicki, Historical dictionary of Poland, 966-1945, Greenwood Publishing Group, 1996, trang 514
  281. ^ Reiners, p.250
  282. ^ a ă â Ritter, p. 192
  283. ^ a ă Charles Arnold-Baker, The companion to British history, Routledge, 2001, trang 1037
  284. ^ a ă â Koch, p. 136
  285. ^ a ă David Blackbourn. "Conquests from Barbarism": Interpreting Land Reclamation in 18th Century Prussia. Harvard University. Truy cập 24 tháng 5 năm 2006.
  286. ^ Vejas G. Liulevicius, "The German myth of the East: 1800 to the present", Oxford University Press, 2009, trang 37
  287. ^ MacDonogh, p. 363
  288. ^ Norbert Finszch and Dietmar Schirmer. Identity and Intolerance: Nationalism, Racism, and Xenophobia in Germany and the United States. Cambridge University Press, 2006. ISBN 0-521-59158-9
  289. ^ Jack Babuscio, Richard Minta Dunn, "European political facts, 1648-1789", Macmillan, 1984 - Business & Economics, trang 125
  290. ^ Karin Friedrich, The Other Prussia: Royal Prussia, Poland and Liberty, 1569-1772, trang 3
  291. ^ a ă â b Rosengarten J. G. (Joseph George), J. G., Frederick the Great and the United States: A Paper Read Before the Pennsylania-German Society at Th, trang 4-5
  292. ^ a ă Henry Cabot Lodge, The history of nations, Volume 18, P. F. Collier & son, 1928, trang 345
  293. ^ Miecislaus Haiman, Poland and the American revolutionary war, Printed by the Polish Union Daily, 1932, trang 2
  294. ^ Bolton Herbert Eugene, The Colonization of North America, 1492-1783, trang 519
  295. ^ Paul W. Schroeder, "The Transformation of European Politics 1763-1848", Oxford University Press, 1996, trang 25
  296. ^ David H. Olivier, "German naval strategy, 1856-1888: forerunners to Tirpitz", Routledge, 2004, trang 42
  297. ^ a ă â b Rosengarten J. G. (Joseph George),J. G., Frederick the Great and the United States: A Paper Read Before the..., trang 7, trang 26: "There is no name so highly...", trang 27: "The King of Prussia has formally engaged by a letter from his Minister, who writes in the King s name, that the merchants of North America, who should come with their merchant vessels into the ports of his Majesty to trade there, in merchandise that is not prohibited, should have full liberty".
  298. ^ W. O. Henderson, Studies in the Economic Policy of Frederick the Great, trang 159
  299. ^ Robert L. Beisner, "American foreign relations since 1600: a guide to the literature", Tập 1, ABC-CLIO, 2003, trang 245
  300. ^ a ă Rosengarten J. G. (Joseph George), J. G., Frederick the Great and the United States: A Paper Read Before the Pennsylania-German Society at Th, trang 5
  301. ^ Don Higginbotham, George Washington: Uniting a Nation, trang 11
  302. ^ Boys' Life, Tháng Bảy 1938, Boy Scouts of America, Inc., trang 36
  303. ^ Sarah Knowles Bolton, Famous American Statesmen, READ BOOKS, 2008, trang 1
  304. ^ The Independent, Volume 61, Published for the proprietors by S.W. Benedict, 1906, trang 33
  305. ^ Rosengarten J. G. (Joseph George), J. G., Frederick the Great and the United States: A Paper Read Before the Pennsylania-German Society at Th, trang 28
  306. ^ Vincent Cronin, Louis and Antoinette, trang 153
  307. ^ David Ewen, Frederic Ewen , Musical Vienna, trang 35, trang 10: "...star..."
  308. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich II of Prussia, BiblioBazaar, LLC, 2008, trang 132
  309. ^ Merriam-Webster, Inc, Merriam-Webster's collegiate encyclopedia, trang 607
  310. ^ Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, trang 171
  311. ^ a ă From Utrecht to Waterloo, trang 153
  312. ^ a ă â b Wilhelm Zimmermann, A Popular History of Germany - From the Earliest Period to the Present Day, các trang 1617-1618.
  313. ^ a ă Thẩm Kiên, trang 269
  314. ^ Theodore Dwight Woolsey, Introduction of the study of international law: designed as an aid in teaching, and in historical studies, C. Scribner, 1864, trang 392
  315. ^ Baron Max Beloff Beloff, "The age of absolutism, 1660-1815", Harper, 1966, trang 42
  316. ^ Henry Wheaton, "History of the law of nations in Europe and America: from the earliest times to the Treaty of Washington, 1842", Gould, Banks, 1845, trang 281-282. Theo sách này thì Chiến tranh Kế vị Bayern là một bloodless war
  317. ^ Fürstenbund - Britannica Online Encyclopaedia
  318. ^ Peter Hamish Wilson, German armies: war and German politics, 1648-1806, trang 289
  319. ^ Thomas Laurence Kington-Oliphant, Rome and reform, Tập 2, trang 226
  320. ^ a ă Thomas Carlyle, History of Friedrich the Second called Frederick the Great, Tập 6, trang 189, trang 294: "Catin du Nord", trang 495: this is the victory summit of Friedrich's Public History... Friedrich's last feat in the world.....
  321. ^ Arthur B. Gunlicks, "The Länder and German federalism", Manchester University Press, 2003, trang 16
  322. ^ Antti P. Balk, Saints & Sinners: An Account of Western Civilization, Thelema Publications, 2008, trang 661
  323. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 180
  324. ^ American Heritage Dictionary, The Riverside dictionary of biography, trang 293
  325. ^ Orissa (India). Public Relations Dept, Orissa (India). Home Dept, Orissa review, Tập 25, Home Department, Government of Orissa, 1968, trang 14
  326. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: A Historical Profile, trang 172
  327. ^ David Blackbourn. "Conquests from Barbarism": Interpreting Land Reclamation in 18th Century Prussia. Harvard University. Truy cập 24 tháng 5 năm 2006.
  328. ^ William Harrison De Puy, "Encyclopaedia Britannica: a dictionary of arts, sciences, and general literature", Volume 9, R.S. Peale, 1891, trang 788
  329. ^ Henderson, W.O. (1962) The Berlin Commercial Crisis of 1763. In: The Economic History Review, New Series, Vol. 15, No. 1, pp. 89-102.
  330. ^ Johann Ernst Gotzkowsky (German potter)
  331. ^ Daniel Marston, The Seven Years' War, trang 84
  332. ^ W. O. Henderson. Studies in the economic policy of Frederick the Great. Cass. London, 1963.
  333. ^ Charles Knight (biên tập), The English cyclopædia: a new dictionary of universal knowledge, Tập 2, trang 1018
  334. ^ a ă Jonathan Randall White, The Prussian Army, 1640-1871, trang 168
  335. ^ a ă Jackson J. Spielvogel, "Western Civilization: Volume B: 1300 to 1815", Tập 1.
  336. ^ Albert Maximilian Selss, A critical outline of the literature of Germany, trang 84
  337. ^ a ă â William Young, sách đã dẫn, trang 27
  338. ^ Brendan Simms, sách đã dẫn, trang 49
  339. ^ Brendan Simms, "The Impact of Napoleon: Prussian High Politics, Foreign Policy and the Crisis of the Executive, 1797-1806", Cambridge University Press, 2002, tr. 149
  340. ^ Karl W. Schweizer, "England, Prussia, and the Seven Years War: studies in alliance policies and diplomacy", Edwin Mellen Press, 1989, trang 119. Sách này cho rằng Giáo sư R. Lodge đã không đọc được thư từ giữa Quốc vương và Thủ tướng nước Phổ.
  341. ^ a ă â b Paul Hyland, Olga Gomez, Francesca Greensides, The Enlightenment: a sourcebook and reader, Routledge, 2003, trang 63, trang 112
  342. ^ a ă â Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 253
  343. ^ Edward Peters, "Torture", University of Pennsylvania Press, 1996, trang 90
  344. ^ a ă Frederic M. Scherer, Quarter notes and bank notes: the economics of music composition in the eighteenth and nineteenth centuries, trang 24
  345. ^ The Cabinet: or, Monthly report of polite literature, Tập 3, Mathews and Leigh., 1808, trang 224
  346. ^ Marcus G. Raskin, Liberalism: the genius of American ideals, trang 103
  347. ^ Ellwood P. Cubberley, The History Of Education, Kessinger Publishing, 2004, trang 297
  348. ^ Trường Đại Học Kỹ thuật BERLIN
  349. ^ a ă Clark, Iron Kingdom ch 7
  350. ^ a ă Cracking the AP European History Exam, 2004-2005 Edition, trang 103
  351. ^ a ă Marvin Perry, Myrna Chase, Margaret C. Jacob, James R. Jacob, Western Civilization: Ideas, Politics, and Society, trang 443
  352. ^ a ă â b George Peabody Gooch, Germany and the French Revolution, Tập 1, trang 6
  353. ^ Helen Watanabe-O'Kelly, Anne Simon, "Festivals and ceremonies: a bibliography of works relating to court, civic, and religious festivals in Europe 1500-1800", Mansell, 2000, trang 37
  354. ^ Marshall Cavendish Corporation, World and Its Peoples, trang 328
  355. ^ Popular encyclopedia, The popular encyclopedia; or, 'Conversations Lexicon': [ed. by A. Whitelaw from the Encyclopedia Americana]., trang 318
  356. ^ Werner J. Feld, Reunification and West German-Soviet relations: the role of the reunification issue in the foreign policy of the Federal Republic of Germany, 1949-1957, with special attention to policy toward the Soviet Union, trang 3
  357. ^ Catherine II (Empress of Russia), Voltaire, William Fiddian Reddaway, Documents of Catherine the Great: the Correspondence with Voltaire and the Instruction of 1767, in the English text of 1768, trang XI
  358. ^ Quotes about Government, QuotationsBook.com, trang 7
  359. ^ Graham Bird, A Companion to Kant, John Wiley and Sons, 2009, trang 244
  360. ^ Sarolea Charles, German Problems and Personalities, trang 208
  361. ^ a ă Albert Henry Newman, A Manual of Church History, trang 534
  362. ^ Brian Nogay, "God Doesn't Have a Trophy Case", Xulon Press, 2006, trang 57
  363. ^ Positive Atheism's Big List of Quotations
  364. ^ Nadia Valman, Tony Kushner, Philosemitism, antisemitism and 'the Jews': perspectives from the middle ages to the twentieth century, trang 195
  365. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 259
  366. ^ MacDonogh, p. 347
  367. ^ a ă â Michael A. Meyer , The origins of the modern Jew: Jewish identity and European culture in Germany, 1749-1824, trang 23
  368. ^ Stern, p. 19
  369. ^ Peter Levine, Nietzsche and the modern crisis of the humanities, SUNY Press, 1995, trang 5
  370. ^ George Peabody Gooch, "Frederick the Great: the ruler, the writer, the man", Marboro Books, 1990, trang 31. Nguyên văn: "In the words of Voltaire, it was Sparta in the morning, Athena in the afternoon".
  371. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich II. of Prussia, called Frederick the Great, Tập 9, trang 69
  372. ^ Nancy Bachus, Daniel Glover, The Classical Piano: The Influence of Society, Style and Musical Trends on the Great Piano Composers, Book & 2 CDs, Alfred Music Publishing, 2006, trang 22
  373. ^ Michael O'Loghlin , Frederick the Great and his musicians: the viola da gamba music of the Berlin school, trang 32
  374. ^ a ă Christopher Duffy, The army of Frederick the Great, trang 141
  375. ^ Chappell White, From Vivaldi to Viotti: a history of the early classical violin concerto, trang 151
  376. ^ George Jellinek, History through the opera glass: from the rise of Caesar to the fall of Napoleon, trang 257
  377. ^ Anthony Newman, Bach and the baroque: European source materials from the baroque and early classical periods with special emphasis on the music of J.S. Bach, Pendragon Press, 1995, trang 244
  378. ^ Deborah Sadie Hertz, Jewish high society in Old Regime Berlin, trang 79
  379. ^ a ă Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 255
  380. ^ Gregory Hays. Introduction to Marcus Aurelius Meditations Weidenfeld and Nicholson London2003 pxlix
  381. ^ a ă Bisbee, Look Homeward, Demon: A 1986 Prediction of Sars and Other Events., trang 38
  382. ^ a ă The American Freemason's new monthly magazine, Tập 9, J.F. Brennan, 1859, tr. 474
  383. ^ Richard S. Zera, Business Wit & Wisdom, Beard Books, 2005.
  384. ^ Daniel N. Robinson, An intellectual history of psychology, Univ of Wisconsin Press, 1995 - Psychology, trang 261
  385. ^ Werner Hegemann, Napoleon: or, "Prostration before the hero", A.A. Knopf, 1931, trang 85
  386. ^ Georg Morris Cohen Brandes, "Voltaire", Ungar Pub. Co., 1964, trang 135
  387. ^ Louis Crompton, sách đã dẫn, trang 516
  388. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên vonte
  389. ^ a ă â b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên postdam52
  390. ^ a ă â b Emil Ludwig, The Germans: Double History of a Nation, trang 203
  391. ^ M.H. Syed, Encyclopaedia of Modern Journalism and Mass Media, Anmol Publications PVT. LTD., 2005, trang 223
  392. ^ Leonhard Euler - Tạp chí hoạt động khoa học
  393. ^ Leonhard Euler - nhà toán học kiệt xuất. Bản in Đại học Quốc gia Hà Nội]
  394. ^ Columbia Encyclopedia, 6th ed., 2005, "Lagrange, Joseph Louis."
  395. ^ Thomas Koshy, "Discrete mathematics with applications", Academic Press, 2004, trang 159
  396. ^ a ă â b Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 369-370, trang 411.
  397. ^ Carl Brinitzer, German Versus Hun, READ BOOKS, 2006, trang 84
  398. ^ Charles Dudley Warner, Library of the World's Best Literature, Ancient and Modern, Tập 11, BiblioBazaar, LLC, 2009.
  399. ^ Watchmakers and Clockmakers of the World by G.H. Baillie, publisher: READ BOOKS, edition: 2008, mentioned as "watchmaker to the King" on page 121
  400. ^ Le Grand Frédéric et ses horlogers: une émigration d'horlogers suisses au XVIIIme siècle; un demi-siècle d'horlogerie berlinoise (1760–1810), by Alfred Chapuis, publisher: Journal suisse d'horlogerie et de bijouterie, 1938, page 64 and 65, illustration of a Louis George pocket watch
  401. ^ Claude-Adrien Helvétius, Anne-Catherine Helvétius, Alan Dainard, Jean Orsoni, David Smith, Correspondance générale d'Helvétius, Springer Science & Business, 1991, Bìa sau
  402. ^ Johann Gottfried Herder, Ioannis D. Evrigenis, Daniel Pellerin, Johann Gottfried Herder: another philosophy of history and selected political writings, Hackett Publishing, 2004, trang 149
  403. ^ Bisbee, Look Homeward, Demon: A 1986 Prediction of Sars and Other Events., trang 37
  404. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 254
  405. ^ Karin Finell, Good-bye to the mermaids: a childhood lost in Hitler's Berlin, University of Missouri Press, 2006, trang 261
  406. ^ Daniel R. Melamed, Bach Studies 2, Cambridge University Press, 2006, trang 89
  407. ^ a ă Ellen Judy Wilson, Peter Hanns Reill, Encyclopedia of the Enlightenment, trang 52
  408. ^ MacDonogh, p. 370
  409. ^ James Schmidt, "What is enlightenment?: eighteenth-century answers and twentieth-century questions", trang 51
  410. ^ Johann Wolfgang von Goethe, Jeffrey L. Sammons, Thomas P. Saine, Robert R. Heitner, From my life, Poetry and truth part four: Campaign in France 1792, Siege of Mainz, Suhrkamp Publishers New York, 1987, trang 500
  411. ^ Saïd Amir Arjomand, Edward A. Tiryakian, Rethinking civilizational analysis, SAGE, 2004, trang 76
  412. ^ a ă Friedrich Meinecke, "The Age of German Liberation, 1795-1815", tr. 5
  413. ^ George E. Berkley, Jews, Branden Books, 1997, trang 150
  414. ^ a ă Price Collier, "Germany and the Germans from an American Point of Viewz", 2007, trang 24
  415. ^ Paul G. Partington, Who's who on the postage stamps of Eastern Europe, Scarecrow Press, 1979, trang 393
  416. ^ Leonard A. Montefiore, Essays and Letters, BiblioBazaar, LLC, 2008, trang 230. ISBN 0-559-45964-5.
  417. ^ Koch, p. 138
  418. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 235
  419. ^ Patty C. Rice, Amber: Golden Gem of the Ages, Patty Rice, 2006, trang 77. ISBN 1-4259-3849-3
  420. ^ Nguyễn Thanh Hải (theo UNESCO)// Báo Công an nhân dân Online). “Bí mật căn phòng Hổ phách thời Sa hoàng”. Xa Lộ Tin Tức. Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập 21 tháng 10 năm 2010. "Từ Berlin, Frederick II Đại đế đã chuyển loại hổ phách vùng Baltic..." 
  421. ^ Sanssouci Park, Potsdam
  422. ^ Tom Turner, Garden history: philosophy and design, 2000 TCN--2000 CN, trang 208
  423. ^ David Watkin, Tilman Mellinghoff, German architecture and the classical ideal, MIT Press, 1987, trang 19
  424. ^ Berlinische Monatsschrift, Heft 2/99. Edition Luisenstadt, 1999
  425. ^ Encyclopaedia Britanica, Inc, William Benton, "The New Encyclopaedia Britannica", Tập 1, 1974, trang 897
  426. ^ Park Sanssouci Things To Do
  427. ^ Postdam, June 2007
  428. ^ a ă W. F. Reddaway, sách đã dẫn, trang 308, tr. 347
  429. ^ Peter Hamish Wilson, "Absolutism in central Europe", trang 179
  430. ^ Jay Brunhouse, Maverick Guide to Berlin, trang 406
  431. ^ Munsey's magazine, Tập 44, Frank A. Munsey & Co., 1910, trang 484
  432. ^ Chinesisches Haus (Chinese House) - Oekonomieweg / Park Sanssouci
  433. ^ George Steinmetz, "The devil's handwriting: precoloniality and the German colonial state in Qingdao, Samoa, and Southwest Africa", University of Chicago Press, 2007, trang 383
  434. ^ a ă Michael Camille, Adrian Rifkin, "Other objects of desire: collectors and collecting queerly", Wiley-Blackwell, 2001, trang 81
  435. ^ W D Howells, "Their Silver Wedding Journey", BiblioBazaar, LLC, 2009, trang 311
  436. ^ a ă Jean-Charles Laveaux, Frederick II (King of Prussia), The life of Frederick the Second, King of Prussia, Tập 2, trang 521
  437. ^ QuotationsBook.com, Quotes about Talent, Quotations Book, trang 4
  438. ^ Alan R. Rushton, Royal Maladies: Inherited Diseases in the Royal Houses of Europe, các trang 134-136.
  439. ^ Mitford, Reiners, Steakley, Henderson
  440. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên haivitac
  441. ^ Ethan M. Fishman, The prudential presidency: an Aristotelian approach to presidential leadership, Greenwood Publishing Group, 2001, trang 103
  442. ^ Louis Crompton, Homosexuality & Civilization, trang 507
  443. ^ L. Reiners, Frederick the Great, New York, 1960
  444. ^ a ă James J. Sheehan, "German history, 1770-1866", Oxford University Press US, 1993, tr. 292
  445. ^ a ă Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 252
  446. ^ Thẩm Kiên, trang 253
  447. ^ J.D. Steakley, Sodomy in Enlightenment Prussia, Journal of Homosexuality, 16, 1/2 (1988): 163-175
  448. ^ a ă â b Press Company Frontier Press Company, Masters of Achievement: The World's Greatest Leaders in Literature, Art, Religion, Philosophy, Science, Politics and Industry Part One, các trang 64-65.
  449. ^ Louis Crompton, sách đã dẫn, trang 155
  450. ^ Julius Caesar, Carolyn Hammond, Aulus Hirtius, "Seven commentaries on the Gallic war", Oxford University Press, 1999, trang XII
  451. ^ a ă Pierre Gaxotte, Frederick the Great, trang 134
  452. ^ Candide: Francois Voltaire Biography
  453. ^ a ă Voltaire, Candide, Wildside Press LLC, 2007, trang 13
  454. ^ Garry J. Moes, Streams Of Civilization: Cultures In Conflict Since The Reformation Until The Third Millennium After Christ, Christian Liberty Press, 2003, trang 61
  455. ^ Elbert Hubbard, Little Journeys to the Homes of the Great Philosophers, Tập 8, trang 200
  456. ^ Xem toàn bộ tác phẩm Chỉ trích ông Tiến sĩ Akakia (tiếng Pháp)
  457. ^ S.W. Henderson, Frederick the Great of Prussia: A Homophile Perspective, Gai Saber,1,1 (1977): 46-54.
  458. ^ Martha Moore, Kaplan AP European History 2009, trang 98
  459. ^ Louis Crompton, sách đã dẫn, nguyên văn trang 516: "...when His Majesty was dressed and booted, the Stoic gave some moments to the sect of Epicurus; he had two or three favorites come, either lieutenants of his regiment, or pages, or haidouks, or young cadets. They took coffee. He to whom the handkerchief was thrown stayed another quarter of an hour in privacy."
  460. ^ Isaac Kimber, Edward Kimber, The London magazine, or, Gentleman's monthly intelligencer, Tập 2-3, Printed for R. Baldwin, 1784, tr. 30
  461. ^ Snyder, trang 132-136
  462. ^ Clark, p. 188
  463. ^ J W Fortescue, Sir, A History of the British Army - Volume II, READ BOOKS, 2008, trang 57
  464. ^ Albert Goodwin, The European nobility in the eighteenth century: studies of the nobilities of the major European states in the pre-Reform era, Black, 1967, trang 91
  465. ^ Hugh Chisholm, The Encyclopedia Britannica: a dictionary of arts, sciences, literature and general information, Tập 10, The Encyclopedia Britannica Co., 1910, trang 269
  466. ^ Ernest Henry Clark Oliphant, Germany and Good Faith: A Study of the History of the Prussian Royal Family, trang 238
  467. ^ Ritter, sách đã dẫn, trang 200
  468. ^ MacDonogh, sách đã dẫn, trang 366
  469. ^ Hendrik Willem van Loon, "The Story of Mankind", trang 269
  470. ^ Roy Porter, Mikuláš Teich, "Romanticism in national context", Cambridge University Press, 1988, trang 142
  471. ^ Albert Bernhardt Faust, "Oberon: a poetical romance in twelve books", F.S. Crofts & co., 1940, trang IVIII
  472. ^ The family Jo: Miller; a drawing-room jest book, 1848, trang 62
  473. ^ The United States magazine and Democratic review, Tập 22, Langtree and O'Sullivan, 1848, trang 419
  474. ^ Samuel Colhoun, "The Medical recorder: of original papers and intelligence in medicine and surgery", Tập 12, J. Webster, 1827, tr. 8
  475. ^ Herbert Lockyer, Last Words of Saints and Sinners: 700 Final Quotes from the Famous, the Infamous, and the Inspiring Figures of History, Kregel Publications, 2000, trang 79
  476. ^ JameĘs J. Sheehan, German history, 1770-1866, trang 291
  477. ^ Hungary and the Habsburgs, 1765-1800: an experiment in enlightened absolutism của Éva H. Balázs, Central European University Press, 1997, trang 249
  478. ^ Robert Aldrich, Garry Wotherspoon, Who's who in gay and lesbian history: from antiquity to World War II, trang 199
  479. ^ Charles Knight (biên tập), The English cyclopædia: a new dictionary of universal knowledge, Tập 2, trang 1022
  480. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 718
  481. ^ George Hooker Colton, James Davenport Whelpley, The American review: a Whig journal of politics, literature, art, and science, Tập 7, trang 81
  482. ^ Otto Prince Von Bismarck , Bismarck, the Man and the Statesman; Being the Reflections and Reminiscences of Otto, Prince Von Bis, trang 316
  483. ^ a ă American Historical Association, National Board for Historical Service, National Council for the Social Studies, "Historical outlook: a journal for readers, students and teachers of history", Volume 9, McKinley Publishing Company, 1918 - Social Science, trang 457. Năm 1924, Tập 15-16, trang 102 về nước Phổ sau chiến thắng Waterloo.
  484. ^ Virginia Lightell Guttendorf, "Our Allegheny ancestors: Goehring, Aeberli, Ruttkamp, 1865-1976", Guttendorf Press, 1976, trang ix
  485. ^ Janet Coleman, European Science Foundation, The individual in political theory and practice, Oxford University Press, 1996, trang 121
  486. ^ Wolfgang Menzel, The history of Germany: from the earliest period to the present time, Tập 3, trang 367
  487. ^ C. Joyneville, Life and Times of Alexander I, Emperor of All the Russias Part One, trang 310
  488. ^ The Case of the Distinguised Corpses, Will Lang, Life Magazine, Mar 6, 1950
  489. ^ Nazi Plunder: Great Treasure Stories of World War II, Kenneth D. Alford, 2000, De Capo Press, page 101
  490. ^ Người Đức kỷ niệm ngày bức tường Berlin sụp đổ
  491. ^ Kunst- und Ausstellungshalle der Bundesrepublik Deutschland: Filmreihe: Schätze der Welt – Erbe der Menschheit, p. 11 (German, PDF)
  492. ^ Barbara Fuller, Germany, trang 25
  493. ^ Ethelbert Ma1/4ller, "Donaustauf and Walhalla", BiblioBazaar, LLC, 2008, tr. 64
  494. ^ W. O. Henderson, Studies in the Economic Policy of Frederick the Great, trang ix
  495. ^ George Peabody Gooch, History and Historians in the Nineteenth Century, General Books LLC, 2009, trang 111
  496. ^ Hans Joachim Hahn, German thought and culture: from the Holy Roman Empire to the present day, Manchester University Press, 1995, tr. 74
  497. ^ Ephraim Lipson, "Europe in the XIXth & XXth centuries, 1815-1939", Allied Publishers, 1960, trang 61
  498. ^ Edward F. Haas, "The age of the Longs: Louisiana, 1928-1960", Center for Louisiana Studies, University of Louisiana at Lafayette, 2001, tr. 332
  499. ^ Various Various, Handbook of the European War, trang 76
  500. ^ LIFE, 15 tháng 9 năm 1947, Published by Time Inc, trang 75
  501. ^ Barbara Jelavich, History of the Balkans: Eighteenth and nineteenth centuries, Tập 1, trang 68
  502. ^ Samuel Dickinson Stirk, "The Prussian spirit: a survey of German literature and politics, 1914-1940", Faber and Faber, 1941, tr. 138
  503. ^ Gilmer W. Blackburn, Education in the Third Reich: a study of race and history in Nazi textbooks, SUNY Press, 1985, trang 131
  504. ^ Walter G. Moss, To 1917, Anthem Press, 2002, trang 261. ISBN 1-84331-023-6.
  505. ^ Israel Smith Clare, Hubert Howe Bancroft, George Edwin Rines, Library of universal history and popular science: containing a record of the human race from the earliest historical period to the present time; embracing a general survey of the progress of mankind in national and social life, civil government, religion, literature, science and art..., trang 3136
  506. ^ Geraldine Norman, The Hermitage: the biography of a great museum, Fromm International, 1998, trang 25. ISBN 0-88064-190-8.
  507. ^ a ă Floyd Martin Clay, Coozan Dudley LeBlanc: from Huey Long to Hadacol, trang 76
  508. ^ a ă John Lowe, Louisiana culture from the colonial era to Katrina, trang 236
  509. ^ Arthur Meier Schlesinger, The Politics of Upheaval, 1935-1936: The Age of Roosevelt, trang 68
  510. ^ Forrest Davis, Huey Long: a candid biography, trang 217
  511. ^ Robert Southard, Droysen and the Prussian school of history, trang 108
  512. ^ Gerrit Parmele Judd, A history of civilization, Macmillan, 1966, trang 449
  513. ^ Derek Beale, Joseph 11: Against the World, 1780-1790, Cambridge University Press, 2009
  514. ^ Charles C. Savage, Illustrated biography; or, Memoirs of the great and the good of all nations and all times: comprising sketches of eminent statesmen, philosophers, heroes, artists, reformers, philanthropists, mechanics, navigators, authors, poets, divines, soldiers, savans, etc, trang 272
  515. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên kha320
  516. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tblann
  517. ^ British Council, National Book Council (Great Britain), National Book League (Great Britain), British book news, Issues 44-76, British Council, 1992, trang 423
  518. ^ Alice Birkhead, Heroes of Modern Europe, trang 134
  519. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Jayluvva
  520. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên oggw
  521. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên russel437
  522. ^ Christopher Duffy. The Military Life of Frederick the Great. New York: Atheneum Books, 1986, p. 309
  523. ^ National Association of Public School Business Officials, Proceedings of the... annual meeting, The Association, 1942, trang 105
  524. ^ Carl Von Clausewitz, "Principles Of War", READ BOOKS, 2008, trang 73
  525. ^ Donald A. Davis, Stonewall Jackson
  526. ^ Richard Jackson, Neil Howe, The graying of the great powers: demography and geopolitics in the 21st century, trang 81
  527. ^ Reiners, trang 247-248
  528. ^ Robin Cross, Warfare: A Chronological History, Wellfleet Press, 1991, trang 144: FREDERICK II OF PRUSSIA (Frederick the Great) was undisputedly the greatest commander of his generation...
  529. ^ Adrian Gilbert, sách đã dẫn, tr. 110, nguyên văn: Frederick the Great of Prussia was the greatest commander of his age.....
  530. ^ Hochedlinger, các trang 367-368.
  531. ^ Clarissa Campbell Orr, "Queenship in Britain, 1660-1837: royal patronage, court culture, and dynastic politics", Manchester University Press, 2002, tr. 14
  532. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 174: "Nadir Shah", trang 45: "...Eugène, on the Rhine"...
  533. ^ Elihu Rich, Francis Lister Hawks, Appletons' cyclopædia of biography: embracing a series of original memoirs of the most distinguished persons of all times..., trang 305
  534. ^ Koch, p. 126
  535. ^ Christopher M. Clark, "Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947", tr. 307
  536. ^ a ă Owen Connelly, On War and Leadership: The Words of Combat Commanders from Frederick the Great to Norman Schwarzkopf, trang 11
  537. ^ Koch, p. 160
  538. ^ Voltaire, "Memoirs of the life of Voltaire", trang 190. Nguyên văn: "Gustavus Adolphus never performed such acts"...
  539. ^ Kelly Boyd, "Encyclopedia of historians and historical writing", Tập 1, Taylor & Francis, 1999, tr. 295
  540. ^ William C. Martel, "Victory in war: foundations of modern military policy", Cambridge University Press, 2007, trang 48
  541. ^ Our Marching Civilization, Allen, trang 17
  542. ^ William Weir, 50 Military Leaders Who Changed the World, trang 253
  543. ^ QuotationsBook.com, Quotes about Destiny, Quotations Book, trang 4, Nguyên văn: "I must in the face of a storm, think, live and die as a king."
  544. ^ Charles Dudley Warner, A Library of the World's Best Literature - Ancient and Modern - Vol.XLII (Forty-Five Volumes); Dictionary of Authors (A-J), Cosimo, Inc., 2008, trang 2
  545. ^ New York Times: Two Temples To the Greats Of Germany, 1988
  546. ^ Walhalla
  547. ^ Wilhelm Dilthey, Rudolf A. Makkreel, Frithjof Rodi, Poetry and experience, Princeton University Press, 1996, trang 31
  548. ^ Simon Garner, Berlin, trang 12
  549. ^ Прусский дух Унтер-ден-Линден
  550. ^ a ă Jeffrey Richards, Visions of yesterday, Routledge, 1973, các trang 312-313.
  551. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 660
  552. ^ The army and navy magazine, Tập 5, trang 192, trang 488
  553. ^ "Historic Reeseville, Early King of Prussia, Pennsylvania". Truy cập 24 tháng 5 năm 2006.
  554. ^ Irish-architecture.com[liên kết hỏng]
  555. ^ George Henry Hubert Lascelles Harewood (Earl of), Opera, Tập 52, Số phát hành 7-12, Rolls House Pub. Co., 2001, trang 1507

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

, Musical Vienna, Whittlesey House, McGraw-Hill, 1939.

Dean Keith Simonton, Genius one hundred one, Springer Publishing Company, 2009, ISBN 0-8261-0627-7.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]