Friedrich II của Phổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Friedrich II
Vua Phổ; Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
Frederic II de prusse.jpg
Friedrich II qua nét vẽ của họa sĩ cung đình Phổ Antoine Pesne (1683 - 1757), khoảng năm 1750.
Trị vì 31/5/174017/8/1786
(46 năm, 18 ngày)
Tiền nhiệm Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Friedrich Wilhelm II Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Vương hậu
Triều đại Nhà Hohenzollern
Thân phụ Friedrich Wilhelm I Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Sophia Dorothea xứ Hannover
Sinh 24 tháng 1, 1712(1712-01-24)
Berlin, Phổ
Mất 17 tháng 8, 1786 (74 tuổi)
Potsdam, Phổ
An táng 17 tháng 8 năm 1991 (lần cuối)Sanssouci, Potsdam, Đức
Tôn giáo Kháng Cách
Hoàng gia Phổ
Nhà Hohenzollern
Wappen Deutsches Reich - Königreich Preussen (Grosses).png

Friedrich I (1701-1713)
Con cái
   Công chúa Louise Dorothea
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
Friedrich Wilhelm I (1713-1740)
Con cái
   Công chúa Wilhelmine
   Hoàng tử Friedrich
   Công chúa Friederike Luise
   Công chúa Philippine Charlotte
   Công chúa Sophia Dorothea
   Công chúa Louisa Ulrika
   Hoàng tử August Wilhelm
   Công chúa Anna Amalia
   Hoàng tử Heinrich
   Hoàng tử Ferdinand
Friedrich II (Đại đế, 1740-1786)
Friedrich Wilhelm II (1786-1797)
Con cái
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Ludwig
   Công chúa Wilhelmine
   Công chúa Augusta
   Hoàng tử Karl
   Hoàng tử Wilhelm
Friedrich Wilhelm III (1797-1840)
   Hoàng tử Friedrich Wilhelm
   Hoàng tử Wilhelm
   Công chúa Charlotte
   Công chúa Alexandrine
   Hoàng tử Karl
   Công chúa Louise
   Hoàng tử Albrecht
Friedrich Wilhelm IV (1840-1861)

Friedrich II (24 tháng 1 năm 171217 tháng 8 năm 1786) là vua nước Phổ, trị vì từ ngày 31 tháng 5 năm 1740 đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1786.[1] Trên cương vị Tuyển hầu tước (tiếng Đức: Kurfüst) của đế quốc La Mã Thần thánh, ông có tên gọi là Friedrich IV xứ Brandenburg. Ông cũng kiêm luôn chức Vương công xứ Neuchâtel trong liên minh cá nhân. Ông được mệnh danh là Friedrich Đại Đế (tiếng Đức: Friedrich der Große).

Friedrich đã châm ngòi những cuộc chiến tranh Silesia (một phần của Chiến tranh Kế vị Áo), tiến công nước Áo Habsburg và chiếm tỉnh Silesia về tay Phổ. Sau đó, Friedrich phải chống chọi với liên minh Nga, Áo, Pháp, Thụy Điển trong cuộc chiến tranh Bảy năm, ông suýt thua nhưng cuối cùng đã giữ được vương quốc. Đến lúc cuối đời, Friedrich đã xây dựng quân đội mạnh và thống nhất các vùng lãnh thổ rời rác của đất nước, vào năm 1772 cùng với các Nữ hoàng Áo và Nga tiến hành xâm chiếm và chia cắt lãnh thổ Liên bang Ba Lan–Litva. Friedrich cũng là một nghệ sĩ, một trong những vị vua theo chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế tại lục địa châu Âu vào thế kỷ XVIII.[2] Friedrich ủng hộ và áp dụng một số luận điểm của đường lối triết học đó vào công cuộc trị quốc. Ông còn tiến hành canh tân bộ máy triều đình Phổ, thực hiện nhiều cải cách hiệu quả về dân sự, xã hội và kinh tế, nâng cao dân trí, bãi bỏ hình phạt tra tấn, và ủng hộ việc dỡ bỏ rào cản tôn giáo trong toàn bộ vương quốc mình.

Sau khi qua đời, Friedrich được an nghỉ ở Sanssouci, thành phố Potsdam, chỗ ngự mà ông đặc biệt ưa thích. Sinh thời, ông đã cho xây dựng nhiều công trình công viên Sanssouci (tiếng Pháp là thoát khỏi sự phiền muộn), trong số đó điện Sanssouci (Điện Vô Ưu) ở Potsdam là nổi bật hơn cả. Do không có con nối dõi, Friedrich truyền ngôi Quốc vương cho người cháu Friedrich Wilhelm II - con trai thứ hai của thái đệ August Wilhelm em ruột ông.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 1 năm 1712, Friedrich chào đời tại kinh thành Berlin, được đặt tên thánh là Karl Friedrich.[3] Ông là con của vua Phổ Friedrich Wilhelm I (1668 – 1740) và Hoàng hậu Sophia Dorothea xứ Hanover (1687 – 1757) - con gái vua Anh-Tuyển hầu tước xứ Hanover George I. Friedrich có tổng cộng là 14 anh chị em, nhưng trong số đó chỉ 10 người sống đến tuổi trưởng thành.[4]

Lúc ông ra đời, nước Phổ nằm dưới quyền thống trị của ông nội ông - Quốc vương Friedrich I. Trước kia, Friedrich I có hai người cháu chết yểu, vì vậy, nhà vua đặt nhiều hy vọng vào Friedrich. Chính vị vua này dùng cái tên của chính mình để đặt cho cháu nội, cũng hàm ý muốn đứa cháu này kế thừa Vương quốc Phổ - Brandenburg.[5] Bản thân Friedrich cũng là một đứa bé khỏe mạnh.[6] Vào ngày 31 tháng 1 năm 1712, khi ông được một tháng tuổi, vị Hoàng tôn được làm lễ rửa tội, cái tên "Karl" không được đặt và Friedrich trở thành tên chính thức của ông.[7]

Sự giáo dục và những bất hòa với vua cha[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Friedrich Wilhelm I, Hoàng hậu Sophia cùng Thái tử Friedrich và Hoàng tử August Wilhelm.

Vua Friedrich Wilhelm I mong muốn các con của mình sẽ được dạy dỗ khác với những Vương gia quyền quý trong Hoàng gia Phổ, nhưng giống như những người bình dân. Trước đây, Friedrich Wilhelm từng được dạy dỗ bởi một phụ nữ Huguenot chỉ nói tiếng Pháp tên là Madame de Montbail, tức Madame de Rocoulle sau này, và Friedrich Wilhelm I mong muốn bà sẽ tiếp tục giáo dục các con của nhà vua. Hoàng tử Friedrich được các gia sư Huguenot giáo dục, và ông vừa học tiếng Pháp vừa học tiếng Đức. Nhà vua cho các thầy cô dạy Hoàng tử từ 6h sáng đến 22h30 tối.[8] Mặc dù Friedrich Wilhelm I có khẩu dụ rằng giáo dục chỉ hoàn toàn mang màu sắc tôn giáo và thực dụng song với sự giúp đỡ của thầy Jacques Duhan Friedrich đã có được ba nghìn cuốn sách nói về thơ phú, văn học cổ điển Hy Lạp - La Mã, và triết học Pháp để bổ sung kiến thức sau những khóa học chính của ông.[9] Friedrich từ nhỏ đã sống gần mẹ nên chịu ảnh hưởng nhiều từ bà về văn học và nghệ thuật.

Friedrich rất ham đọc sách và thường lén vua cha tìm mua các loại sách vở đến mức phải bị mắc nợ. Về phía mình, vua Friedrich Wilhem I không muốn con trai của mình học văn chương vì sợ ông tiêm nhiễm phải sự nhu nhược. Nhà vua từng cầm gậy đánh của vị thầy dạy tiếng La Tinh cho Friedrich và sau đó đánh cả con trai mình vì tội dám học "tiếng nói của loài chim". Điều này đã khiến mối quan hệ giữa Friedrich và vua cha bị rạn nứt trong một thời gian dài.[10][11] Dù Friedrich Wilhelm I được nuôi dạy thành một tín đồ sùng đạo của thần học Calvin, nhà vua lo sợ rằng mình sẽ không được Thiên Chúa chọn lên Thiên đường. Để Friedrich khỏi phải suy nghĩ như vậy, nhà vua ra lệnh cho các thầy không dạy thuyết thiên định cho Thái tử. Bất chấp lệnh này, Friedrich đã thừa nhận thuyết thiên định, dù là một người không trọng tín ngưỡng. Một số học giả cho rằng, Friedrich tử đã cố tình làm trái ý với vua cha.[12]

Không những thân thiết với mẹ, Friedrich còn trở nên thân thiết với người chị ruột là Friederike Sophie Wilhelmine - người bạn thân của ông trong suốt đời. Năm 16 tuổi, Friedrich lại kết bạn với người lính hầu 13 tuổi của vua cha là Peter Karl Christoph Keith. Theo lời kể của Công chúa Wilhelmina, tình bạn giữa Friedrich và Peter Keith sớm trở nên gắn bó:[13]

Hai cuộc hôn nhân bất thành[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Friedrich lúc ba tuổi cùng chị gái 6 tuổi là Wilhelmina, tranh của Antoine Pesne.

Đầu năm 1730, Hoàng hậu Sophia Dorothea - vốn là người có quan hệ huyết thống với Hoàng gia Anh Quốc[14] - cố gắng dàn xếp cuộc hôn nhân kép giữa Thái tử Friedrich và Công chúa Wilhelmina với các con của vua Anh Quốc George II: Công chúa Amelia và anh trai là Thái tử Frederick. Sophia Dorothea xem hai cuộc hôn nhân này là "toàn thiện toàn mỹ".[14]

Tuy nhiên, lo sợ về một liên minh giữa hai nước Phổ và Anh, Thống chế von Seckendorff - đại sứ Áo ở kinh thành Berlin, đã lần lượt đút lót Thống chế von Grumbkow và Benjamin Reichenbach - Bộ trưởng Chiến tranh Phổ và viên Đại sứ Phổ ở Luân Đôn. Cặp đôi này đã thận trọng phỉ báng Triều đình Anh với vua Phổ cũng như phỉ báng Triều đình Phổ với vua Anh. Đồng thời, vua Friedrich Wilhelm I cũng lo sợ thế lực của Đế quốc Anh sẽ vươn tới nội địa nước Phổ - Bradendenburg, nhất là sau khi Tuyển hầu tước George Louis của xứ Hanover lên nối ngôi vua Anh.[14]

Tức giận vì ý tưởng của Thái tử Friedrich bất lực được người Anh rất đề cao, vua Friedrich Wilhelm I đã yêu cầu người Anh những điều mà họ không thể làm được, chẳng hạn như nhượng cho vua Phổ các xứ JülichBerg - đòi hỏi đã dẫn tới sự tan vỡ của dự định hôn nhân.[15]

Âm mưu trốn chạy bất thành[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Friedrich Wilhem I lại có ý định khác về vấn đề hôn nhân của con trai mình. Nhà vua có ý định gả Friedrich cho Elisabeth xứ Mecklenburg-Schwerin (cháu gái của Nữ hoàng Nga là Anna). Tuy nhiên, Vương công Eugène xứ Savoie (François-Eugène de Savoie-Carignan) phản đối kịch liệt ý đồ này. Bản thân Friedrich muốn cưới Maria Theresia (con gái của Hoàng đế La Mã Thần thánh), đổi lại ông mất quyền kế vị. Tuy nhiên, Vương công Eugène thuyết phục nhà vua gả Friedrich cho Quận chúa Elisabeth Christine xứ Brunswick-Bevern (1715 – 1797) - một tín đồ Tin Lành,[16] cháu gái của Maria Theresia.[17]

Friedrich đã kịch liệt phản đối dự định gả ông cho Elisabeth Christine. Ông nói: "Tôi sẽ không bao giờ lấy con ngỗng ngốc nghếch đó." Dù vua cha Friedrich Wilhelm I đã công khai răn đe Friedrich II tại nơi công cộng,[18] có lần nhà vua đã dùng roi quất Friedrich và cô bé đánh đàn dương cầm khi ông thổi sáo rất dữ dội trên đường phố Potsdam,[19] nhà vua vẫn không thể khuất phục được ông. Với sự giúp đỡ của mẫu hậu và Công chúa Wilhelmina, Friedrich đã lập mưu bỏ trốn sang Vương quốc Anh để tìm ý trung nhân của mình.[14] Đó là năm vị Thái tử mới 18 tuổi;[20] Friedrich lập mưu bỏ trốn sang Vương quốc Anh cùng với bạn mình là Trung uý Hans Hermann von Katte và một số sĩ quan cấp thấp trong Quân đội Phổ. Vào tháng 8 năm 1730, Friedrich Wilhelm I có một chuyến thị sát ở miền Tây Nam Đức và nhà vua đã cho con trai mình đi theo.[21] Vào ngày 5 tháng 8 năm 1730, khi đoàn của họ gần đến Mannheim ở Lãnh địa Tuyển hầu tước vùng Rhine thì Robert Keith, anh của Peter Karl Christoph Keith, đem kế hoạch của họ khai báo với vua Friedrich Wilhelm I và cầu xin được khoan hồng.

Trung úy Hans Hermann von Katte bị hành hình.

Đôi bạn Friedrich von Hohenzollern và Hans Hermann von Katte cùng bị bắt giam ở Küstrin. Vì cả hai người đều là Sĩ quan trong Quân đội Phổ, toan tính bỏ trốn sang nước Anh, nhà vua kết tội phản quốc cho cả hai. Nhà vua dọa sẽ xử tử hình Friedrich, sau đó đổi ý buộc ông phải nhường tước vị thái tử lại cho em mình là August Wilhelm (1722 -1758), mặc dù cả hai hướng đều hoàn toàn không khả thi. Tuy Tòa án Quân sự đã không hề gây tổn hại đến Hoàng tử và chỉ tuyên án tù chung thân đối với Katte, vua cha Friedrich Wilhelm lại truyền lệnh:[18] Vào ngày 6 tháng 11 năm 1730, ông buộc phải chứng kiến Katte bị xử trảm tại Küstrin (Kostrzyn), một pháo đài trên sông Oder. Dù vậy, khi sống trong nhà ngục, Friedrich vẫn được đối xử tử tế đúng theo quy cách dành cho một Hoàng tử. Ông được chăm sóc chu đáo và thậm chí, vua cha còn cử một triều thần có kiến thức uyên thâm về thuật trị quốc đến sống chung và đàm đạo với con trai. Dưới sự gợi mở của người này, Friedrich đã phác thảo cho riêng mình một kế hoạch phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành dệt nói riêng cho Vương quốc Phổ. Theo thời gian, sự rạn nứt trong quan hệ cha con nhà vua dần dần được hàn gắn. Hoàng thân Friedrich đã bình tâm hơn và ông không muốn mất ngôi Thái tử vì việc mãi chống đối với vua cha. Còn Friedrich Wilhelm I thì càng lúc càng nhớ thương con trai. Cuối cùng, Friedrich von Hohenzollern đã xuống nước viết một lá thư xin lỗi gửi cho vua cha Friedrich Wilhelm I. Friedrich Wilhelm I cảm thấy rất vui mừng, nhà vua vội đến ngục thăm con và sau đó dĩ nhiên đã ân xá cho Thái tử Friedrich.[14][22]

Tranh vẽ Friedrich II, được treo ở Lâu đài Friedrichsfelde tại Berlin-Lichtenberg. Chưa rõ là họa phẩm của ai.

Như vậy, Friedrich được Hoàng gia Phổ ân xá và rời khỏi xà lim vào ngày 18 tháng 11 năm 1730, nhưng vẫn không nhận lại được cấp bậc trong Quân đội mà ông bị tước trước đó.[23] Hơn nữa, ông không được về kinh đô Berlin, mà phải chịu sự giáo dục chặt chẽ về phương pháp trị quốc của Bộ Chiến tranh và Bộ Quản lý đất đai, kể từ ngày 20 tháng 11 năm 1730.[24] Tình hình trở nên dịu hơn vào ngày 15 tháng 8 năm 1731, khi Friedrich tiếp kiến vua cha nhân lễ mừng thọ 43 tuổi của Friedrich Wilhelm I.[25] Vài tháng sau, Friedrich Wilhelm I lại triệu hồi ông về thành Berlin để dự lễ cưới của chị ông là Wihelmina với Bá tước Friedrich xứ Bayreuth vào ngày 20 tháng 11 năm 1731. Cuối cùng, ông kết thúc khoá học tại Küstrin và trở về kinh đô Berlin vào ngày 26 tháng 1 năm 1732. Từ đó ông sống xa cách với Công chúa Wilhelmina.[26]

Hòa thuận với vua cha[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Friedrich đã tính đến chuyện tự tử thay vì lấy Elisabeth Christine, lễ cưới giữa hai người được thực hiện vào ngày 12 tháng 6 năm 1733. Friedrich bực bội cho rằng cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị này như một trong những hành động của Áo nhằm quấy rối Phổ[17][18]. Sau khi lên nối ngôi năm 1740, ông không cho phép Elisabeth đến cung vua tại thành phố Potsdam, bà chỉ được phép sống ở cung điện Schönhausen và những căn phòng tại Berliner Stadtschloss. Friedrich II và Elisabeth cũng không có con, vì thế ông phong cho người em August Wilhelm làm "Thái đệ nước Phổ"; tuy nhiên, những điều này không dẫn đến việc Friedrich và Elisabeth ly hôn.[27]

Ngày 27 tháng 11 năm 1731, Friedrich Wilhelm I hồi phục gươm và quân phục cho thái tử đồng thời cử ông chỉ huy Trung đoàn von der Goltz, đóng tại đồn gần NauenNeuruppin.[24] Trong Chiến tranh Kế vị Ba Lan, Friedrich Wilhelm I gửi một đạo quân Phổ đến giúp Quân đội Áo. Trong chiến dịch đánh Pháp trên sông Rhine, Friedrich được vị Thống chế Áo kiệt xuất là Vương công Eugène xứ Savoie dạy về sách lược quân sự.[28] Vương công Eugène đã tiên đoán rằng các quốc gia châu Âu sẽ phải bất ngờ trước những chính sách hiếu chiến của Friedrich von Hohenzollern, một khi ông lên kế vị ngai vàng Phổ.[29] Theo lệnh của Friedrich Wilhelm I - vua cha đã yếu đi vì mắc phải căn bệnh gút trong chiến dịch chống Pháp, ông tới Schloss Rheinsberg tại Rheinsberg, nằm ở phía bắc Neuruppin.

Chân dung thái tử Friedrich, thực hiện bởi Antoine Pesne.

Từ đó vị Thái tử trẻ đã sống ở Rheinsberg suốt bốn năm. Ông đã có thể tự ý xem đủ mọi loại sách vở, đồng thời cũng thường mời một số bạn hữu cùng chí hướng đến bàn chuyện thế sự hay ngâm thơ, viết văn. Tại Rheinsberg, Friedrich tụ tập một nhóm nhỏ các nghệ sĩ, gồm những diễn viên, nhạc sĩ, v.v… Ông đọc tiểu sử các danh tướng, xem kịch, soạn nhạc và nghe nhạc. Ông xem thời gian này là một trong những giai đoạn an nhàn nhất trong cuộc đời ông. Ngoài ra, ông còn lập ra "Huy chương Bayard" để bàn luận về việc quân sự với các bạn của mình. Trong các cuộc tranh luận việc quân, nhóm bạn của Friedrich tôn Heinrich August de la Motte Fouqué làm "Đại sư". Trong thời gian này, Friedrich đã chủ động viết thư cho nhà triết học lừng danh Voltaire và tạo được duyên bút mực với nhà tư tưởng lớn này.[30] Dĩ nhiên là vua cha Friedrich Wilhelm I không bao giờ quên việc đào luyện cho con trai mình thành một nhà kế vị tương lai. Nhà vua thường phái con trai đi giám sát đôn đốc việc thu thuế với tư cách là Thái tử, đồng thời cho Friedrich đi sâu vào quân đội để hiểu rõ tình hình quân đội Phổ và làm quen với các tướng lĩnh cao cấp của Phổ. Dần dần, Thái tử Friedrich đã trở nên yêu thích, có nhiều hiểu biết sâu sắc về tình hình đất nước và quân đội Phổ, đồng thời đã có nhiều chủ kiến riêng của mình về các vấn đề này.[26][31]

Tác phẩm "Bàn về Quân chủ" (tên tiếng Ý: De Principatibus) hay "Quân Vương" (Il Principe) của nhà triết học Niccolò Machiavelli vẫn được xem như kim chỉ nam cho đạo trị quốc ở các nước phương Tây trong thời đại của Friedrich von Hohenzollern. Tuy nhiên, năm 1739, Thái tử Friedrich hoàn tất bài tiểu luận "Chống chủ nghĩa Quyền thuật" (tên tiếng Đức: Antimachiavellismus), phản bác tư tưởng của Niccolò Machiavelli. Trong tác phẩm này ông đã cực lực bác bỏ quan điểm "khi cần thiết phải dùng đến bạo lực và sự phỉnh gạt" của Machiavelli, cho rằng quan điểm này đã phá hỏng sự tôn nghiêm của một vị vua. Đồng thời Friedrich cũng chủ trương "cai trị quốc gia trên quan điểm công bằng, nhân từ, bác ái" và "nhà vua không phải là một đấng cầm quyền chuyên chế, là công bộc đầu tiên của Quốc gia".[32][33] Friedrich đã đem bản thảo đưa cho Voltaire nhờ triết gia này hiệu đính, và đã được Voltaire đánh giá cao. Qua tác phẩm này, Voltaire cho rằng Friedrich là một vị vua sáng suốt của châu Âu trong tương lai, nhà văn còn nhiệt tình hiệu đính bản thảo cho Friedrich và xuất bản quyển sách này tại Hague.[34] Tác phẩm được xuất bản ẩn danh năm 1740, và được Voltaire quảng bá rộng rãi tại Amsterdam.[35] Tác phẩm đã làm Friedrich nổi tiếng với quan điểm "nhà vua là công bộc đầu tiên của Quốc gia".[34] Sau nhiều năm tập trung hết mình vào nghệ thuật thay vì chính trị, ông được tin vua cha Friedrich Wilhelm I qua đời vào ngày 31 tháng 5 năm 1740 tại Postdam. Friedrich lên ngôi Quốc vương Phổ kiêm Bá tước Brandenburg.

Vua Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự lớn mạnh của Vương triều BrandenburgPhổ (1600 – 1795).

Trước khi Friedrich lên nối ngôi vua, nhà triết học người Pháp là Jean le Rond d'Alembert (1717 – 1783) đã nói với ông: "Thưa Điện hạ, ở mọi nơi, các triết gia và văn sĩ lâu nay đều mong chờ Ngài trở thành một đức vua đồng thời là một tấm gương sáng của họ đấy!" Tuy nhiên, sự quan tâm này trở nên dịu đi vì ông phải đương đầu với những thực tế trong nền chính trị. Khi Friedrich nối ngôi "Vua ở Phổ" vào năm 1740, ông đã thừa hưởng từ vua cha một Nhà nước được tổ chức tốt đẹp và một quân đội hùng mạnh do cha và ông nội là Tuyển hầu tước Friedrich Wilhelm dày công xây cất.[36] Friedrich Wihelm I cũng để lại cho ông một nền kinh tế thịnh vượng, với ngân khố đầy đủ và thu nhập đến 7 triệu thalers.[37] Dù vậy, thời bấy giờ Phổ vẫn còn là một vương quốc nhỏ bao gồm những vùng đất nằm rải rác, chẳng hạn như Cleves, Mark, và Ravensberg ở phía Tây của đế quốc La Mã Thần thánh; Brandenburg, Nội Pomerania, và Ngoại Pomerania ở phía Đông Đế quốc; và cựu Công quốc Phổ nằm bên ngoài Đế quốc và có đường biên giới với Liên bang Ba Lan-Litva. Ông có tước hiệu là Vua ở Phổ vì lãnh thổ của ông chỉ là một phần của vùng đất Phổ thuộc đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức. Mãi đến năm 1772, sau khi chiếm được phần lớn những vùng đất còn lại, ông mới tự phong làm Đức Vua của Phổ.

Xây dựng Quân đội Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những việc đầu tiên Friedrich bắt tay vào sau khi lên ngôi là canh tân Quân đội, huấn luyện binh sĩ, làm cho Quân đội Phổ trở thành một lực lượng có sức chiến đấu tốt nhất trên toàn cõi châu Âu đương thời. Trong xã hội Phổ - Brandenburg thời đó, các địa chủ Phổ luôn có những tư tưởng táo bạo về chiến tranh: làm việc khổ hạnh, chăm chỉ, tự chủ, tàn nhẫn và sẵn sàng hy sinh thay vì ăn chơi hưởng lạc, chính các địa chủ ấy đã đắc lực phò vua trong trận thắng oanh liệt tại Rossbach.[38] Vua Friedrich II đã truyền tinh thần này vào Quân đội Phổ, và nước Phổ đã truyền tinh thần này đến Quân đội Đế chế Đức sau này.[39] Về số lượng quân sĩ, nếu phụ vương Friedrich Wilhelm I đã tăng quân số Phổ từ 3 vạn lên gần 9 vạn binh lính,[40] thì ông lại tiếp tục mở rộng quân số Phổ đến 20 vạn quân sĩ tinh nhuệ.[41] Như vậy, quân số Phổ tương đương với quân số Đế quốc Áo, bất chấp một thực tế là nước Phổ thua xa Áo về số dân (chỉ chiếm 30 phần trăm dân số nước Áo thời bấy giờ),[42] chưa kể là dân số thua xa cả Nga, Anh lẫn Pháp V.[43] Trong các nước châu Âu thời đó, Phổ được quân sự hóa hơn cả; có nhận định của nhà sử học người Đức Georg Heinrich von Behrendost, nhưng thường được cho là của Mirabeau, như sau:[44]

Die Huldigung der schlesischen Stände vor Friedrich II. in Breslau 1741, 1882, hoạ phẩm của Wilhelm Camphausen (1818–1885).

Dưới triều đại Friedrich II, quân đội Phổ trở thành một lực lượng có tinh thần kỷ luật, với những binh sĩ thiện chiến và mẫn tiệp. Song, quân đội Phổ của ông là một trong những cỗ máy cứng nhắc nhất trong lịch sử quân sự Đức, người lính Phổ chỉ là một dụng cụ. Người lính Phổ không hề suy nghĩ, anh ta chỉ răm rắp làm theo lệnh của cấp trên.[45][46] Friedrich cũng đào tào kỹ lưỡng lực lượng Kỵ binh, nên theo triết gia Friedrich Engels, nhà vua còn có trong tay một "lực lượng Kỵ binh không ai sánh kịp", đây sẽ là lực lượng giữ vai trò là cú đấm quyết định trong các trận đánh lớn.[42][47] Không những thế, trong dự toán ngân sách quốc gia hàng năm thì ngân sách quân sự đã chiếm đến 80 phần trăm. Công cuộc cải cách Quân đội Phổ đã tạo cho vị Quốc vương có điều kiện để tiến hành những cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi tại Âu châu lục địa.[42]

Trong giai đoạn thái bình sau cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai, tận dụng khoảng thời gian quý báu này, Friedrich II tăng cường cải cách Quân đội Phổ - Brandenburg. Ông chú trọng đưa những đội pháo binh (do chiến mã kéo) trở thành một binh chủng của Quân đội Vương quốc Phổ, qua đó tăng cường sức cơ động cho pháo binh đồng thời ban bố quy định mỗi năm đều phải thực hiện chế độ duyệt binh và diễn tập với mục đích là hoàn tất cơ chế huấn luyện Quân đội.[42] Để trang bị về mặt lý luận quân sĩ và động viên tinh thần toàn quân, vào năm 1746, nhà vua ngự bút cho ra mắt tác phẩm "Lịch đương đại" và sang năm 1747, ông lại xuất bản một tác phẩm khác - đó là sách "Những lời dạy của vua Friedrich Đại đế đối với Quân đội của mình".[42] Tác phẩm này được xem là một trong những luận thuyết về binh cách xuất sắc trong lịch sử.[48] Nhà vua đích thân dạy cho Quân đội Phổ di chuyển càng nhanh càng tốt, nhanh hơn cả Quân đội Thụy Điển của vua Gustav II Adolf xưa kia.[39] Đến đầu cuộc chiến tranh Bảy năm, ông đã hoàn tất việc tái xây dựng Quân đội tinh nhuệ của tiên vương năm xưa, với 150.000 binh sĩ:[49]

Trong suốt bảy năm chinh chiến, nhà vua nhận thấy nước Phổ cần có một lực lượng dân quân tự vệ, và do đó ông đã xây dựng lực lượng này.[50] Vào năm 1759, ông thiết lập một khẩu đội pháo bao gồm những khẩu hỏa pháo nặng đến sáu pao và mỗi khẩu pháo được một con chiến mã kéo, được đóng yên cương theo từng cặp với ba kỵ sĩ, và được phục vụ bởi bảy thượng sĩ phụ trách khẩu pháo. Dù khẩu đội pháo thường chịu tổn thất trên trận tiền do những kỵ sĩ không đáng tín nhiệm, "cơ cấu biệt đội" này được nhà vua tin tưởng là lợi thế về chiến thuật của lực lượng Quân đội Phổ, và sẽ còn được di truyền về sau..[51][52] Một số cường quốc Âu châu đã xây dựng lực lượng Quân đội theo kiểu nước Phổ dưới triều Friedrich II.[53]

Công cuộc mở mang bờ cõi Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Friedrich II.

Là một vị vua đầy tham vọng[54] Friedrich II Hohenzollern mong muốn đổi mới và thống nhất những vùng đất cát cứ trong Vương quốc của mình. Triều đại lâu dài của ông chứng kiến việc Triều đình Phổ phá vỡ quyền "thiên tử" toàn bộ Đức của Triều đình Áo như trước đây, nói cách khác là sự ra đời của "chủ nghĩa nhị nguyên Đức" (1740 – 1866) của ÁoPhổ - hai nước hùng mạnh nhất trong đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức.[55] Để đòi quyền thống trị những vùng nói tiếng Đức,[56] ông đã phát động không ít cuộc chiến tranh chống lại đế quốc Áo - do Hoàng gia Habsburg trị vì. Hầu hết các Hoàng đế La Mã Thần thánh cầm quyền từ thế kỷ XV cho tới năm 1806 đều là thành viên của triều đại Habsburg này. Những thắng lợi quân sự của Friedrich đã nâng cấp Phổ từ một nước khá yếu lên thành một cường quốc hàng đầu châu Âu khi đó. Có được thành tựu này là nhờ ông đã phát huy tiềm lực về quân sự vốn có của Phổ từ thời Friedrich Wilhelm I và nói theo lối sống thanh đạm của tổ tiên.[57]

Chiến tranh Kế vị Áo (1740 - 1748) và 10 năm thái bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Silesia

Tân Quốc vương Friedrich II luôn mong muốn chiếm được Silesia - một tỉnh giàu có nhất của Đế quốc Áo thời đó.[58] Vì vậy, ông quyết định chống lại "Đạo luật Thừa kế năm 1713" (theo đó Maria Theresia sẽ thừa kế toàn bộ lãnh thổ của Đế quốc Áo - Habsburg). Ngoài ra, ông cũng lo ngại rằng, vua Ba Lan August III, cũng là Tuyển hầu tước Friedrich August II xứ Sachsen, sẽ tìm cách nối lại những vùng đất nằm rời rạc của ông thông qua tỉnh Silesia. Do đó, ông liền mang 28.000 quân Phổ đi đánh vùng đất Silesia[59] vào ngày 16 tháng 12 năm 1740, lấy cớ là làm theo một hiệp ước được Vương triều Hohenzollern và Vương triều Piast xứ Brieg (Brzeg) ký kết vào năm 1537, mà hầu như không ai biết đến. Trước đó, ông đã đề nghị Maria Theresia nhượng cho ông các vùng Glogau và Silesia, đổi lại ông sẽ tôn chồng bà làm Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz I, nhưng bà không hồi âm.[60]

Quân Phổ trong trận Mollwitz (1741)
Cuộc chiến đầu tiên (1740 - 1742)[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Phổ của Friedrich II nhanh chóng đánh bại quân đồn trú Áo và chiếm gọn Hạ Silesia tháng 2 năm 1741.[61] Cuộc chinh phục tỉnh Silesia đã mang lại cho Hoàng gia Phổ 3.600.000 thaler.[62] Khi quân Áo phản kích vào năm 174, Friedrich đã đánh bại họ trong trận Mollwitz vào ngày 10 tháng 4 năm 1741. Tại trận này quân Phổ ban đầu thất thế, Friedrich phải rời bỏ trận địa, nhưng bộ binh Phổ dưới sự chỉ huy của thống chế Schwerin cuối cùng đã đánh bại quân Áo.[63][64] nhà vua vẫn đóng quân tại đây và nạp thêm tân binh vào Quân đội Phổ, cũng như cải thiện chất lượng của Kỵ binh.[65]

Kết quả của trận Molwitz này đã mở đường cho vua Friedrich II thiết lập liên minh với Pháp, Bayern, một số vua chư hầu người Đức, Tây Ban Nha, Sardinia và Thụy Điển, chống Áo, Anh, Hà Lan và Nga, mở ra cuộc chiến tranh Kế vị Áo. Sau đó, Friedrich tiến đánh vùng Morava nhưng bị đẩy lùi. Ngày 5 tháng 2 năm 1742, Friedrich đem quân đánh vào Bohemia vàthắng trận Chotusitz (Czaslau) vào ngày 17 tháng 5. Sau đó Friedrich xé bỏ liên minh với Pháp và ký Hòa ước Breslau với Áo vào ngày 11 tháng 6 năm 1742, theo đó người Phổ nhận được vùng Silesia, đổi lại nước Phổ cũng phải gánh món nợ 1,7 triệu đồng Thalers của Áo.[66] Quyền bá chủ Silesia của Friedrich của ông cũng được chính thức công nhận theo Hiệp định Berlin vào ngày 28 tháng 7.[67] Sau cuộc chiến tranh này, lãnh thổ của Vương quốc Phổ mở rộng thêm 1/3.[68]

Cuộc chiến thứ hai (1744 - 1745)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1744, thấy Áo luôn tìm cách chiếm lại Silesia, Friedrich nhân danh đồng minh của Pháp và Bayern đã nhảy vào cuộc Chiến tranh Kế vị Áo, mở ra cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai (1744 – 1745)[69] Nhà vua dẫn 8 vạn đại quân Phổ đè bẹp xứ Sachsen, sau đó tiến đánh Bohemia nhưng không thành công do chiến thuật tiêu thổ của Áo.[70] Khi quân Áo và đồng minh Sachsen phản kích vào Schlesien, Friedrich đem 65 nghìn quân Phổ bất ngờ tấn công và đè bẹp 7 vạn quân Áo-Sachsen trong trận Hohenfriedberg ngày 4 tháng 6 năm 1745, buộc liên quân phải lùi về đất Áo.[71]

Chiến thắng tại Hohenfriedberg, Cuộc tấn công của Bộ binh Phổ, tranh sơn dầu trên vải bạt của Carl Röchling.

Ngày 26 tháng 8, Friedrich ký hòa ước với Anh, nhưng Áo vẫn kiên quyết theo đuổi cuộc chiến. Vào tháng 9, Friedrich chinh phạt xứ Bohemia nhưng không thành công.[72] Trên đường rút, 22.500 quân Phổ do Friedrich trực tiếp chỉ huy bị 4 vạn quân Áo đột kích trong trận Soor, nhưng quân Phổ nhờ tinh thần kỷ luật cao nên đã chuyển bị thành thắng. Maria Theresia vẫn không nhượng bộ.[73] Cuối năm 1745, liên quân Áo-Sachsen mở một cuộc tấn công vào Brandenburg. Friedrich đem 35 vạn quân rời Schlesien, đột kích và đánh tan quân tiên phong Sachsen của liên quân tại Hennersdorf vào ngày 23 tháng 11.[74] Sau đó, ông lại một lần nữa phục binh đánh tan tác quân Áo và đạo quân chư hầu Sachsen đông đảo tại Görlitz vào ngày 24 tháng 11 cùng năm.[75]

Sau khi phá tan ý đồ xâm lược Brandenburg của Karl, Friedrich II chia quân làm 2 cánh tấn công Sachsen. Cánh quân thứ nhất do Friedrich trực tiếp chỉ huy chiếm được Leipzig; cánh quân thứ hai của Thống chế Leopold von Anhalt-Dessau đánh bại liên quân Áo-Sachsen trong trận Kesselsdorf, và vào ngày 17 tháng 12 năm 1745 ông hội kiến với "Dessauer Già" trước cổng thành Dresden.[76] Nước Áo thất bại, ông buộc triều đình Áo phải tôn trọng triệt để những Hiệp định trước đây..[76] Theo Hiệp định Dresden vào ngày Giáng sinh 25 tháng 12 năm 1745, ông giữ vững quyền bá chủ các xứ Silesia và Glatz,[77] tôn chồng của Maria Theresia là Franz I làm Hoàng đế La Mã Thần thánh và nhận chiến phí gồm 1 triệu thaler từ Tuyển hầu tước xứ Sachsen.[62] Cuộc chiến tranh Kế vị Áo kết thúc với Hòa ước Aachen (1748), kể từ đó nước Phổ vươn lên thành một cường quốc Âu châu.[78] Dân số nước Phổ đã được gia tăng; ngoài ra, ông cuộc chinh phạt xứ Silesia đã mang lại quyền kiểm soát sông Oder cho Vương quốc Phổ.

Vào tháng 12 năm 1745, Friedrich II ca khúc khải hoàn kéo quân về kinh thành Berlin mừng chiến thắng. Dân Phổ đứng chật hai bên đường nghênh đón nhà vua và đây là lần đầu tiên ông đượ gọi là "Friedrich Đại Đế".[79] Sau khi ông hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng Silesia, trong khoảng 10 năm sau đó ở châu Âu không có những hoạt động quân sự nào đe dọa đến nền an ninh quốc gia của Vương triều Phổ - Brandenburg.[42] Sau đó, nhà vua còn viết thêm phần "Rêveries politiques" vào di chúc của ông (1752). Trong "Rêveries politiques", nhà vua trình bày tất cả những cuộc chinh phạt mà nước Phổ có thể hy vọng thắng lợi trong tương lai.[80] Ông cho rằng, các vua nhà Hohenzollern rất cần phải chiếm đóng các xứ Sachsen, Pomerania thuộc Ba Lan và Phổ thuộc Ba Lan. Bên cạnh đó, trong "Di chúc Chính trị" (1752), nhà vua cũng khuyên các vua kế tục không nên tranh ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh với vua Áo.[81]

Mặc dù công tích lẫy lừng, Friedrich II xem chừng là một ông vua biết kiềm chế tham vọng chinh phạt của mình.[82] Ông cho rằng, ở một trường hợp nhất định, Phổ nên phá vỡ các Hiệp định trong hai cuộc chiến tranh Silesia đầu tiên để giành lấy lợi thế cho mình, ông vẫn đặt hòa bình lên hàng đầu trong "Rêveries politiques"..[80] Sau khi lấy được vùng Silesia, ông từng nói:

Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Bảy năm

Vương triều Habsburg của Pháp vốn là kẻ thù truyền kiếp của nhà Bourbon bên Pháp. Trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo trước đây, vua nước Pháp Louis XV đứng về phe Friedrich II. Tuy nhiên, sau khi Liên minh Anh-Áo tan rã, trong cuộc Cách mạng Ngoại giao năm 1756, tình thế đảo ngược: Đế quốc Áo trở thành một đồng minh của Vương quốc Pháp. Việc Friedrich II chiếm được Silesia đã khiến cho nước Phổ cường thịnh hẳn lên và điều này làm cả Áo và Pháp đều lo sợ[79]. Về phía mình, ông nhanh chóng thành lập liên minh với Anh Quốc tại Hiệp định Westminster vào ngày 6 tháng 1 năm 1756. Chính phủ Anh sở dĩ chịu liên minh với Phổ và viện trợ cho Phổ vì Anh muốn dùng Phổ để kiềm chế Pháp: giữa Anh và Pháp đã bùng nổ chiến tranh giành thuộc địaBắc MỹẤn Độ vào năm 1755.[84]

Thấy các nước láng giềng đã thành lập liên minh chống lại nước Phổ, Friedrich quyết định ra tay trước. Vào ngày 29 tháng 8 năm 1756, 10 vạn đại quâm của ông vượt biên giới và bất thình lình tấn công Sachsen, mở đầu cuộc Chiến tranh Bảy năm.[85] Ngày 9 tháng 9 năm ấy, quân Phổ lấy được Dresden là kinh đô Sachsen, đẩy quân Sachsen về giữ Pitna.[86] Tiếp theo đó, ngày 10 tháng 9 Friedrich tổ chứch vây hãm Pirna. Khi triều đình Áo gửi quân tiếp viện giúp Sáchen, Friedrich rời khỏi Pirna, và đánh bại trong trận Lobositz ngày 1 tháng 10.[87][88]. Sau đó, tại Pirna quân Sachsen đầu hàng vào ngày 13 tháng 10. Friedrich II dùng vũ lực để hợp nhất những toán quân Sachsen vào quân đội Phổ. Hành vi này đã bị không ít người chỉ trích, kể cả những người Phổ.[89]

Giai đoạn đầu (1757 - 1758)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Sachsen bị chiếm, Áo, Nga, Pháp, Thụy Điển và các chư hầu Đức lập mưu phối hợp đưa 500 ngàn quân tấn công chính quốc Phổ, khiến Vương quốc này bị vây hãm tứ phía.[85][90][91] Friedrich chỉ có hai đồng minh là Anh và Hanover, nhưng Anh chỉ viện trợ về mặt tài chính.[85] Do đó, nhà vua chủ động tấn công Bohemia vào tháng 4 năm 1757 hòng loại Áo khỏi vòng chiến.[92] Với 67.000 quân tinh nhuệ[93], Friedrich cũng đánh bại quân Áo của Vương công Charles xứ Lorraine tại Praha vào ngày 6 tháng 5 và phong tỏa luôn thành phố này. Tuy nhiên, ông bị một Thống chế khác của Áo là Leopold Joseph von Daun đánh cho thảm bại tại Kolin vào ngày 18 tháng 6, nên phải rút về Sachsen cố thủ.[94][95]

Friedrich II trong trận Zorndorf.

Tháng 11 năm 1757, liên quân Áo-Pháp tấn công Sachsen. Friedrich dẫn 2 vạn quân đến nghênh chiến, nhưng sau đó ông giả vờ rút lui, 45 nghìn liên quân chủ quan truy kích, và vào ngày 5 tháng 11 năm 1757, nhà vua Phổ tiến hành phản công và giành chiến thắng quyết định trước liên quân đông gấp đôi của Charles, Vương công của SoubiseVương công Joseph của Saxe-Hildburghausen trong trận Rossbach. Ông bắt được hàng ngàn quân Áo và quân Pháp, trong số đó có những thống soái, những khẩu pháo và cờ hiệu của họ.[96][97] Cùng lúc đó, quân Áo đã chiếm lại Silesia, Friedrich phải đem 36.000 quân hành quân về đây trong vòng 15 ngày.[98]:[99] Ngày 5 tháng 11, ông truyền lệnh cho một toán Kỵ binh đánh nghi binh vào quân cánh phải của Áo, gây cho quân Áo để ý đến toán quân ít ỏi ấy. Sau đó, ông xua quân chủ lực tấn công quân cánh trái của Áo, rồi cho toàn bộ Kỵ binh và Pháo binh Phổ tấn công dữ dội. Thế là ông phá tan trước 70.000 quân Áo của Thống chế - Bá tước Leopold Joseph von DaunVương công Charles xứ Lorraine trong trận Leuthen (Ba Lan) vào ngày 6 tháng 12.[98] Tiếp theo đó Friedrich vây hãm chiếm lại Breslau.[100]

Bước sang năm sau (1758), quân đội Nga tấn công Brandenburg. Friedrich dự định đánh bọc hậu tiêu diệt đội quân Nga của tướng Viliam V. Fermor, nhưng mục tiêu đó đã không đạt được trong trận Zorndorf ngày 25 tháng 8 năm 1768.[101] Quân Phổ bị thiệt hại lớn, nhưng ít ra cũng ngăn được quân Nga xâm chiếm Brandenburg.[96]

Nguy cơ mất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận Zorndorf, Friedrich thua liên tiếp 2 trận lớn: đầu tiên là trận Hochkirch vào ngày 14 tháng 10 năm 1758, nơi quân đội ông bị quân Áo do thống chế Leopold Joseph von Daun chỉ huy đột kích và đánh tan, thiệt hại đến hơn 9 nghìn binh tướng. Sang năm sau, liên quân Áo-Nga do nguyên soái tài ba Pyotr S. Saltykov và tướng Laudon chỉ huy lại đánh tơi tả quân Phổ do Friedrich trực tiếp chỉ huy trong trận Kunersdorf vào ngày 12 tháng 8 năm 1759. Trong 3 vạn quân Phổ tham gia trận này, có đến khoảng 19 nghìn người chết, tàn phế và bị bắt[102]:[103]. Sau trận đánh Friedrich nhận định với tể tướng von Finckenstein rằng: "Ta không còn bất cứ một tiềm lực nào nữa. Nói thật với ông nhé, ta tin rằng tất cả đã mất. Vĩnh biệt, ta không thể sống đến khi non sông rơi vào tay quân địch."[104]

riedrich II cùng Trung đoàn Anhalt-Bernburg khải hoàn tại Liegnitz.

Tuy nhiên, Saltykov và Laudon đã không chộp cơ hội tấn công Berlin, thay vì đó họ rút quân về Ba Lan tạo điều kiện cho Friedrich một đội quân gồm 28.000 người..[105][106] Tình hình Friedrich một lần nữa được cứu vãn khi ông lần lượt đánh bại quân Áo trong các trận Liegnitz ngày 15 tháng 8Torgau ngày 3 tháng 11 năm 1760.[107] Nhưng sang năm 1761, quân Phổ đã kiệt sức và Friedrich phải giữ thế bị động.[108]> Vào ngày 20 tháng 8 năm 1761, Friedrich lập thành lũy trú đóng vững chắc ở Bunzelwitz. Thống chế Áo Laudon và nguyên soái Nga Aleksandr B. Buturlin không tiến đánh những chiến hào của nhà vua tại Bunzelwitz, do họ không có đủ quân nhu.[109] Luôn mong muốn được trợ cấp để thay đổi tình thế, Friedrich thường bày mưu tính kế, bằng việc sắp xếp đạn dược và bố trí vũ khí, khiến liên quân Nga - Áo phải lo sợ.[110] Cuối cùng, 150.000 liên quân Nga - Áo rút về vùng Hạ Silesia và Ba Lan.[95] Trong khi ấy, Friedrich II truyền lệnh cho tướng Platen tiến hành công kích vào Ba Lan, phá tan nhiều kho đạn dược của quân Nga và bắt được không ít tù binh Nga.[111][112]

Nhưng sau khi quân chủ lực Áo-Nga rút khỏi Silesia, tướng Laudon đã dẫn một toán quân nhỏ tập kích chiếm Schweidnitz, một trong các trung tâm của Silesia. Cùng lúc đó, tân thủ tướng Anh Huân tước Bute tuyên bố ngưng viện trợ cho Phổ. Cùng lúc đó, quân Nga và Thụy Điển hạ được thành Kolberg ở Pomerania. Qua bao năm chiến tranh tàn khốc, tài lực của Phổ kiệt quệ, quân số thiếu hụt đến mức phải tuyển cả trẻ con 13, 14 tuổi vào làm lính, tinh thần binh sĩ sa sút trầm trọng. Còn bản thâ nFriedrich thì tóc bạc trắng, tinh thần suy sụp, hốc hác như một ông già và nhiễm phải chứng phong thấp do phải lăn lộn quá nhiều ngoài sa trường. Ông luôn mang theo người một bình thuốc độc để khi cần thì tự sát.[113][114][115]

Giữ vững vương quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Friedrich II sau chiến thắng Torgau, tranh sơn dầu trên vải bạt của Bernhard Rode.

Đầu năm 1762, trong lúc Phổ đang gần kề thất bại, Friedrich II được tin nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna qua đời vào ngày 5 tháng 1 năm 1762.[116][117] SỰ kiện này được gọi là triều đạiBrandenburg lại có "phép lạ" (Mirakel des Hauses Brandenburg). Do không có con, sinh thời Elizaveta Petrovna đã chỉ định một người cháu gọi nữ hoàng này bằng dì là Đại Công tước Pyotr xứ Schleswig-Holstein làm người thừa kế ngôi vua, tức Nga hoàng Pyotr III.[118] Pyotr III vốn là một người rất ngưỡng mộ Friedrich II, do đó ông ta mới đã thiết lập một liên minh tấn công và phòng thủ với Phổ, rút quân khỏi vùng Đông Phổ đồng thời tuyên bố bảo vệ Phổ trước bất cứ một cuộc tấn công nào,[119] Friedrich cũng không ngần ngại trao trả các tù binh Nga về kinh thành Sankt-Peterburg.[117][120] Theo chân Nga, Thuỵ Điển cũng ký kết Hiệp ước Hamburg với Phổ vào ngày 22 tháng 5 cùng năm đó, đưa Phổ và Thuỵ Điển đến tình trạng status quo ante bellum. Nhưng Friedrich vẫn phải đơn phương độc mã chống chọi với liên quân Áo - Pháp.[121]

Dù Anh Quốc không viện trợ nữa nhưng Friedrich vẫn quyết tâm theo đuổi cuộc chiến. Trên mặt trận phía Tây, Friedrich được Công tước Ferdinand xứ Brunswick phò tá đắc lực với việc quân Phổ thắng quân Pháp trong trận Wilhelmstal vào ngày 24 tháng 6 và đuổi quân Pháp ra khỏi xứ Westphalia, lại đánh tan tác quân Pháp trong Lutterberg vào ngày 23 tháng 7 năm 1762, và dẹp tan đạo quân Pháp rồi chiếm luôn thành Cassel, giữ trọn niềm tự hào của Đế quốc Phổ lừng lẫy.[72][95] Vào ngày 1 tháng 7 năm 1762, Nga hoàng Pyotr III gửi một đạo quân Nga tới giúp Phổ, nhưng ít lâu sau đó liên minh Áo - Nga tan rã, theo lời của tướng Nga Zakhar Grigoryevich Chernyshov là do Pyotr III qua đời, triều đình Nga "chịu ảnh hưởng từ các kẻ thù của Đức Vua" nên hạ lệnh rút quân về Nga. Ông bèn khôn khéo giữ quân Nga lại để "hù dọa" quân Áo, thay vì cùng họ đánh Áo: thế là ông xua quân đột kích quân của Bá tước Áo là Leopold Joseph von Daun,[122] và đánh bại quân Áo trong trận Burkersdorf vào ngày 21 tháng 7 năm 1762. Đây là lần đầu tiên Friedrich tấn công bằng các đội hình dọc thay vì đội hình ngang.[123][124]

Friedrich II cùng Quân đội Phổ.

Sau khi quân Nga rút lui, Friedrich dẫn quân vây hãm thành Schweidnitz, bẻ gãy một đợt phản kích của Daun ở Reichenbach ngày 16 tháng 8 và ép Schweidnitz đầu hàng.[125] Cùng lúc đó, quân Phổ do thân vương Heinrich chỉ huy ở Sachsen đã đánh bại hoàn toàn quân Áo của thống chế Jean-Baptiste Serbelloni trong trận Freiberg, buộc Áo phải tạm đình chiến với Friedrich. Sau đình chiến Friedrich xua quân chinh phạt xứ Bohemia, một quân đoàn Đế quốc Phổ tiến đến cổng thành Praha và phá tan kho đạn dược tại đây.[126] Cuối cùng, Theresia đã chấp nhận thất bại và tiến hành đàm phán với vua Phổ. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1763, chiến tranh kết thúc với Hòa ước Hubertusburg, theo đó, Theresia thừa nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu ("status quo ante bellum"), cũng như quyền cai quản không thể tranh cãi của Phổ đối với Silesia.[127] Tuy nhiên, Friedrich phải trao trả độc lập cho Sachsen.[128] Thành công của Friedrich trong việc giữ vững vương quốc đã khẳng định vai trò của Phổ như một cường quốc châu Âu[53][129], đồng thời làm ông được ca tụng trên khắp các quốc gia Đức[130] Theo một nhà ngoại giao người Pháp, vị thế của Vương quốc Phổ trong đế quốc La Mã Thần thánh giờ đây còn lớn mạnh hơn trước: với tư cách là người chiến thắng, Triều đình Phổ đã trở thành minh chủ của một bộ phận lớn những người Tin Lành có tư tưởng chống Áo hoàng.[131] Bên cạnh đó, ngay sau cuộc chiến tranh Bảy năm, nước Phổ không còn có một đồng minh cường quốc nào; nhà vua bằng mọi giá không đẩy Vương quốc Phổ vào bất kỳ một cuộc chiến tranh nào. Ông biết rằng, Vương quốc này chỉ mới trở thành một trong những liệt cường trên lục địa châu Âu, nhưng có thể mất vị thế này - vốn dựa vào sức mạnh của Quân đội đất nước.[132] }}

Liên minh Nga-Phổ và cuộc chia cắt Liên bang Ba Lan-Litva (1772)[sửa | sửa mã nguồn]

Friedrich II qua nét vẽ của Johann Georg Ziesenis (1716–1776) - họa sĩ người Đức gốc Đan Mạch. (1763)

Một mặt, sau khi cuộc Chiến tranh Bảy năm kết thúc, Friedrich II vẫn tiếp tục công cuộc mở mang bờ cõi của Vương quốc Phổ,[98] và diễn một sự kiện hết sức quan trọng: cuộc chia cắt Ba Lan.[133] Nữ hoàng Ekaterina II lên thống trị Đế quốc Nga sau khi giết hại Nga hoàng Pyotr III. Khác với người chồng Pyotr III, Ekaterina II là người chống Phổ quyết liệt, trong khi Friedrich II là kẻ thù cũ của Nga trong chiến tranh Bảy năm. Dù vậy, Friedrich II đã chủ động đề nghị Ekaterina II liên minh với ông, và hai vị Đại đế đã ký kết Hiệp ước, thành lập một liên minh phòng thủ vào ngày 11 tháng 4 năm 1764.[132][134] Theo Hiệp ước này, Đế quốc Nga công nhận quyền cai quản vùng Silesia của Vương quốc Phổ - Brandenburg, đổi lại Phổ ủng hộ Nga chống lại Đế quốc Áo - Habsburg hoặc là đế quốc Ottoman của người Thổ. Giành được sự ủng hộ của nước Phổ cũng cần thiết trong việc Ekaterina II đưa người tình của bà là Stanisław August Poniatowski lên làm vua Ba Lan hòng giúp Nga khống chế nước này.[135] Vào tháng 9 năm đó, với sự ủng hộ của Ekaterina II, Stanisław August Poniatowski được tôn làm vua nước Ba Lan. Liên minh Nga-Phổ giữa Ekaterina II và Friedrich II kéo dài cho đến năm 1781.[120]

Trong phiên họp Repnin năm 1767, đế quốc Nga tăng thêm ảnh hưởng đáng kể đối với Liên bang Ba Lan-Litva. Việc làm này đe doạ đến Áo và người Thổ Ottoman, nhưng cũng khiến cho Friedrich lo ngại. Năm sau (1768), bất chấp sự hiện hữu của Liên minh Nga-Phổ, đế quốc Ottoman tuyên chiến với Nga.[132] cuộc chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1768–1774) bùng nổ: dù ông không muốn đế quốc Nga trở nên lớn mạnh hơn sau khi chiếm được những vùng đất nằm dưới quyền cai quản của triều đình Ottoman, ông trợ cấp cho Ekaterina II 300.000 rúp. Trước sự trỗi dậy của nước Nga, Friedrich cùng vua Áo Joseph II và tể tướng Áo Wenzel Anton (Vương công xứ Kaunitz-Rietberg) đã lập lại mối quan hệ hữu nghị Áo-Phổ. Ngay từ năm 1731 (khi còn học tập ở tỉnh Küstrin), trong bức thư gửi Thống chế Dubislav Gneomar von Natzmer, ông đã cho rằng việc sáp nhập phần Ba Lan thuộc Phổ sẽ giúp cho các lãnh thổ phía Đông của Vương quốc Phổ được thống nhất.[136] Trong quan hệ Phổ - Ba Lan, ngay từ năm 1759 khi Quốc vương Phổ phá tan tác nguồn tiếp viện của quân Nga, ông chỉ viết bằng tiếng La Tinh trong công văn gửi cho Quốc vương Ba Lan, vậy mà triều đình Ba Lan rất nể sợ ông.[137]

Các vị vua Friedrich II, Ekaterina II và Joseph II chia cắt "chiếc bánh" Liên bang Ba Lan-Litva (1772).

Mùa đông 1770 - 1771, em trai Friedrich là Heinrich đến bệ kiến Nữ hoàng Ekaterina II tại kinh thành Sankt-Peterburg. Thấy nước Áo sáp nhập một số vùng đất vào năm 1769, triều đình Nga gợi ý nước Phổ chiếm đóng một số vùng thuộc Ba Lan, chẳng hạn như Warmia. Nghe vậy, Heinrich trình tấu kế hoạch này lên vua anh, và nhà vua gợi ý tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan giữa ba đế quốc Phổ - Áo - Nga. Thấy vậy, Thủ tướng Áo Kaunitz yêu cầu Phổ, sau khi lấy đất của Ba Lan, phải trả lại tỉnh Silesia cho Áo, nhưng Friedrich II không dại gì làm theo đề xuất này.[138][139]

Sau khi quân Nga chiếm đóng các công quốc vùng Danube, thân vương Heinrich đã thuyết phục vua anh và nữ vương Áo Maria Theresia rằng sự cân bằng quyền lực sẽ không được duy trì bằng những cuộc xâm chiếm lãnh thổ thuộc Ottoman của quân Nga, mà bằng một cuộc phân chia Liên bang Ba Lan-Litva được thực hiện bởi ba cường quốc Phổ - Nga - Áo. Trong cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất vào năm 1772, Friedrich II nhận lấy phần lớn tỉnh Prusy Królewskie (nằm ở vùng hạ sông Vistula) của Liên bang Ba Lan-Litva.[140] Ông sáp nhập 36 nghìn cây số vuông lãnh thổ cùng với 60 vạn dân cư vào Vương quốc Phổ - Brandenburg. Như vậy, Phổ là nước nhận được ít đất đai nhất trong ba liệt cường tham gia cuộc phân chia lãnh thổ của Liên bang Ba Lan-Liva.[141] Tuy nhiên, vùng đất mới Tây Phổ đã hợp nhất với Đông Phổ cùng các vùng Brandenburg, Hinterpommern và khiến cho Triều đình Phổ - Brandenburg nhận được quyền cai quản cửa sông Wisla, một khu vực có giá trị kinh tế quan trọng. Mặc dù Maria Theresia đã chấp thuận việc phân chia này một cách miễn cưỡng, theo Friedrich II, "dù bà ta đã khóc, nhưng bà ta buộc phải đồng ý".[142]

Như vậy, Phổ đã thu được nhiều lợi ích nhất trong cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất (1772), dù không chiếm được vùng Danzig hoặc là vùng Thorn (Torun).[143] Ông nhanh chóng thực hiện cải tổ về mặt hành chính, luật pháp, là cải tiến hệ thống trường học ở Tây Phổ.[144] Tuy nhiên, nhà vua tỏ ra coi thường những thần dân mới của mình. Ông không làm gì ngoài việc xúc phạm szlachta, một nhóm quý tộc người Ba Lan, vì viết rằng Ba Lan "là nước có một chính phủ tồi tệ nhất ở châu Âu, nếu không kể Thổ Nhĩ Kỳ".[142] Ông xem Tây Phổ là nơi chưa có văn minh, giống như vùng đất Canada - một thuộc địa của đế quốc Anh thời bấy giờ,[145] lại còn so sánh người Ba Lan với người Iroquois ở Bắc Mỹ.[142] Nhà vua xem cuộc chia cắt Ba Lan là hậu quả của "sự ngu xuẩn của bọn Potockis, Krasi_skis, Oginskis, và tất cả những tên tiện dân có tên kết thúc với chữ -ki"; trong thư gửi Voltaire vào năm 1772, ông gọi họ là "giống người sắp tuyệt chủng ở châu Âu".[146] Trong lá thư gửi Heinrich, ông cho rằng:


Friedrich bèn cho người Đức đến Tây Phổ để quy hoạch tỉnh này.[144] Ông cũng có hy vọng rằng những người Phổ này sẽ hất cẳng những người Ba Lan ra khỏi Tây Phổ.[148] Nhiều quan đại thần người Phổ cũng tỏ thái độ coi thường người Ba Lan.[145] Tuy nhiên, bên cạnh đó nhà vua đối xử tốt với một số người Ba Lan, chẳng hạn như Tổng Giám mục Ignacy Krasicki, người đã làm lễ khai trương Đại giáo đường Thánh Hedwig vào năm 1773. Ngoài ra, ông còn khuyên các vị vua kế tục nên học tiếng Ba Lan. Họ đã làm theo lời khuyên của ông, mãi cho đến khi Friedrich III quyết định không cho con mình là Wilhelm II học ngôn ngữ này.[144]

Friedrich II và cuộc chiến tranh Cách mạng Mỹ (1775 - 1785)[sửa | sửa mã nguồn]

Friedrich có ác cảm với Chính phủ Huân tước Bute của Anh Quốc vì Bute không duy trì liên minh Anh-Phổ của người tiền nhiệm Pitt[149] Những năm cuối đời cuối đời Friedrich II chứng kiến cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh Quốc tại Bắc Mỹ.[150] Khi Cách mạng Mỹ bùng nổ, Chính phủ Anh tố cáo ông ngăn cản việc họ thuê một toán quân Nga làm lính đàn áp Cách mạng Mỹ, và cho các tướng tá Phổ đứng về phe Cách mạng, nhưng vô căn cứ. Ông không hề ban chiếu chỉ nào cho các tướng tiến đánh quân Anh, và một Nam Tước Phổ là Friedrich Wilhelm Augustin Ludolf Gerhard chỉ tình nguyện giúp cho Cách mạng, không phải là nghe lệnh của nhà vua.[149] Ngay cả các sử gia người Đức cũng cho rằng Friedrich II không phải là một người bạn của phong trào Cách mạng Mỹ.[151]. Friedrich Kapp nhìn nhận:[152]

Friedrich II qua nét vẽ của Adolph von Menzel, 1859.

Bản thân Friedrich II cũng trơ trẽn thừa nhận ông có ý định "đứng về phe nào có lợi thế trong cuộc chiến tranh". Lúc bấy giờ, ông mong muốn tái lập liên minh Nga-Phổ. Vì thế, ông đồng ý với đề xuất trung gian của Nga hoàng Ekaterina II trong cuộc Cách mạng Bắc Mỹ. Khi bà thiết lập "Liên minh các nước trung lập vũ trang" chống lại Đế quốc Thực dân Anh, Friedrich đã tham gia liên minh này.[153] Sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ thắng lợi, ông thừa nhận nền độc lập của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ. Một lý do khác khiến ông tham gia "Liên minh các nước trung lập vũ trang" là do ông muốn phát triển nền thương mại nước nhà,[154] như một lá thư giữa quan Khâm sai Đại thần Phổ và một nhà ngoại giao người Mỹ ghi nhận khi Cách mạng còn tiếp diễn: "Theo văn kiện của một viên đại thần trên danh nghĩa vua, vua Phổ tuyên bố: những thương gia Bắc Mỹ chắc chắn sẽ giành độc lập cho non sông, và họ sẽ mang tàu buôn của họ vào các cảng của Đại vương dưới sự cho phép của Ngài" (1779).[155] Vào năm 1785, Hiệp ước thương mại Phổ - Mỹ được ký kết, biến Friedrich trở thành vua châu Âu đầu tiên thiết lập quan hệ thương mại với nền cộng hòa Mỹ non trẻ.[155][156]

Friedrich được các nhà cách mạng Mỹ George Washington, Benjamin Franklin hay Greene thán phục. Đến Mỹ, Nam tước Friedrich Wilhelm Augustin Ludolf Gerhard von Steuben - nguyên là Sĩ quan Quân đội Phổ - được chào mừng như một trong những chiến binh dưới quyền Friedrich. Sự hiện hữu của nhiều nhà hàng mang tên "Quốc vương nước Phổ" là một biểu hiện của lòng yêu mến của nhân dân Mỹ đối với vua Phổ. Không những các nhà hàng và thị trấn, nhân dân các thuộc địa ở Bắc Mỹ cũng đặt tên những con tàu buôn của họ là "Quốc vương nước Phổ", vì nhận thấy những chiến thắng của ông có ảnh hưởng đến sự rút lui của thực dân Pháp ra khỏi Canada.[157] Là vị minh chủ cuộc đấu tranh của người Tin Lành chống đế quốc Áo, những người Đức tại Pennsylvania và New York và cả các lãnh tụ Cách mạng Mỹ xem ông là vị vua tài giỏi nhất, người chiến binh kiệt xuất nhất của Âu châu, và xem cuộc chiến tranh Bảy năm anh hùng của ông như một tấm gương để người Mỹ noi theo.[149]

Cuộc chiến cuối cùng (1778 - 1785)[sửa | sửa mã nguồn]

"Friedrich Đại đế và anh quân y", tranh sơn dầu trên vải bạt của Bernhard Rode.

Về cuối đời, Friedrich lại phải tham gia một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ hơn - Chiến tranh Kế vị Bayern (1778 – 1779), chống lại âm mưu chiếm đóng xứ Bayern của Joseph II - một chiến thắng về mặt ngoại giao của Friedrich.[158][159] Ông thiết lập liên minh với Tuyển hầu tước xứ Sachsen và Công tước Karl xứ Zweibrüken. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1778, ông cùng ba quân rời kinh đô Berlin. Vào ngày 3 tháng 7 năm 1778, ông cùng đại quân tinh nhuệ vượt từ Silesia, đến nhiều dãy núi qua biên giới Bohemia. Dù Quân đội Phổ hùng mạnh hơn hẳn, nhà vua chỉ phòng thủ và đe dọa đối phương, chứ không đánh một trận đại chiến nào với quân Áo.[74] Chỗ ông đóng quân được ngăn cách với chỗ Joseph II đóng quân bằng công sông Elbe.[160] Quân đội Phổ thường hay cướp phá dữ dội vào lãnh thổ Áo, chở từng xe đầy khoai tây cướp được mang về nước và thế là sinh ra cái tên "cuộc chiến tranh khoai tây".[161] Hoảng sợ,Maria Theresia gửi thư gợi ý Friedrich lập lại hòa bình, và ông cũng hứa: từng bước tiến của ông sẽ không để cho Nữ hoàng lo sợ về tính mạng của Joseph II.[155] Cuối cùng thì ông rút lui khỏi xứ Bohemia,[162] và một lần nữa nước Áo là kẻ thất bại. Friedrich II tuyên bố hào phóng rằng ông sẽ không đòi bất kỳ một khoản chiến phí nào của vua Áo.[163]

Sau nhiều thỏa thuận bí mật giữa Nữ hoàng Maria Theresia và Friedrich, ông ký kết Hiệp định Teschen: chính vua Phổ đã đề xướng các điều khoản của Hiệp định này,[164] theo đó, ông lấy được các xứ Ansbach và Baviere từ tay người Áo, đẩy lui quân Áo khỏi xứ Bayern,[165] và giữ vững sự cần bằng quyền lực giữa Đế chế Áo - Habsburg và Đế chế Phổ - Hohenzollern.[98][160]

Đầu thập niên 1780, vua Áo tái lập liên minh Áo-Nga-Pháp hòng sáp nhập Bayern vào Áo. Friedrich hết sức lo buồn, thường than rằng việc thống trị nước Phổ đã trở thành một nỗi lo đối với tấm thân 70 tuổi của mình.[161] Tuy nhiên, ông lại một lần nữa đánh bại Joseph II bằng việc thiết lập "Liên minh các Vương hầu người Đức" (Fürstenbund) vào ngày 23 tháng 7 năm 1785, cùng với các lãnh chúa xứ Sachsen và Hanover.[166] Nhiều tiểu quốc Đức như Hesse-Cassel, Gotha, Weimar, Brunswick, Ansbach, Baden, Anhalt, v.v... cũng đồng loạt theo về minh chủ Friedrich II.[74] Sự kiện này đã khiến ông được xem là người bảo vệ những đặc quyền của một số tiểu quốc nói tiếng Đức,[167] chứ không còn là vị vua gây chiến với triều đại Habsburg như trước đây nữa. Pháp và Nga chống đối ý tưởng ái quốc này nhưng không thể làm gì được.[168] "Liên minh các Vương hầu" cũng là cống hiến cuối cùng của Friedrich đối với nền chính trị châu Âu, đỉnh cao của những chiến thắng mà ông đạt được trong suốt cuộc đời ông.[74][169]

Xây dựng một nước Phổ giàu mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Friedrich II luôn quan niệm rằng một đất nước có nền kinh tế yếu kém không thể tự vệ được.[170] Vì thế, ông đã thực hiện những cải tổ về nền chính trị và kinh tế của nước Phổ nghèo nàn, đưa nền kinh tế nước Phổ trở nên thịnh vượng.[171] Cuộc chiếm đóng xứ Silesia đã đem lại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp non trẻ của nước Phổ. Nhà vua đã thực hiện chính sách khuyến nông[20] và bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước bằng các biện pháp như: đánh thuế nhập khẩu cao và giảm bớt tối đa các rào cản trong nội thương. Triều đình huy động nhân dân xây các kênh đào (trong số đó có một kênh nằm giữa sông Vistula và sông Oder) cấp nước cho các đầm lầy để canh tác nông nghiệp, và giới thiệu các loại cây trồng mới như khoai tâycủ cải. Friedrich II đã đặt Oderbruch làm một tỉnh của Vương quốc Phổ, ông cho rằng "Ta đã chinh phạt được Orberuch mà không phải tốn một mũi tên": phần lớn đầm lầy ở đây trở thành nơi trồng trọt sau các năm 1746 – 1753.[172] Vào tháng 5 năm 1744, lãnh chúa Charles Edvard của xứ Đông Frisia qua đời, ông bác bỏ quyền thừa kế của triều đại Hanover và chiếm luôn xứ Đông Frisia, mở rộng tầm nhìn ra Biển Bắc. Ông ao ước thành Emden (Đông Frisia) sẽ là một đối thủ của Amsterdarm tại Đế quốc Hà Lan, do đó ông cho phép họ được tự do buôn bán vào năm 1751.[173][174] Với sự giúp đỡ của các chuyên gia người Pháp, ông đã cải tổ hệ thống thuế gián thu. Thuế gián thu đã mang lại thu nhập cao (hơn thuế trực tiếp) cho Nhà nước. Sự hiện hữu của các quan đại thần người Pháp tồn tại trong suốt triều đại Friedrich II, và ông luôn lo sợ nhân dân Phổ chỉ trích ông về việc này.[175]

Tranh vẽ Friedrich II, không rõ là của họa sĩ nào.

Không những tiến hành canh tân hệ thống giao thông, ông còn hạ lệnh cho thiết lập nhà máy và nâng cao toàn bộ thực lực mà Vương quốc Phổ có được sau khi chinh phạt vùng Silesia.[42] Friedrich II đã hạ lệnh cho thương gia Johann Ernst Gotzkowsky (1710 – 1775) khuếch trương thương mại và cạnh tranh với người Pháp bằng việc mở một cơ sở sản xuất tơ lụa, đồng thời cung cấp 1.500 việc làm chỉ tại nhà máy này. Friedrich II tiếp tục khuyến cáo người dân nộp thuế cầu, đường, chợ, v.v... và hạn chế sự nhập khẩu hàng hóa. Vào năm 1763, khi Johann Gotzkowsky bị phá sản do một cuộc khủng hoảng tài chính vốn xuất phát từ Frankfurt và Amsterdam,[176] nhà vua đã giành lấy kiểm quyển soát công ty sản xuất đồ sứ của ông này (KPM), nhưng lại không mua thêm tranh do Gotzkowsky bán. Do đó, công ty sản xuất đồ sứ "KPM" trở thành một công ty thuộc quyền kiểm soát của Hoàng gia Phổ Quốc.[177]

Dưới triều Friedrich II ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh Bảy năm và cuộc chinh phạt xứ Silesia đã dẫn đến sự thay đổi lớn lao của nền kinh tế đất nước. Trong bảy năm chinh chiến, Triều đình Friedrich xuống chiếu khuyến nhân dân đóng thuế đến 43 triệu thaler. Suốt bảy năm ấy, có 3 lần nhà vua giảm giá đồng tiền Phổ. Không những thế, ông cũng thu thập những đồng tiền mà ông chiếm được từ tay liên quân chống Phổ tại các tỉnh Silesia, Pomerania, v.v... Vào năm 1763, sau ngày khải hoàn, ông bắt tay vào việc tái thiết dần dần nước Phổ đang ở trong tình trạng đổ nát.[178] Trong công cuộc tái thiết Vương quốc, sử sách ghi chép rõ: nhà vua không hề nợ của ai bất kỳ một đồng đô la nào.[60] Nhà vua luôn thức dậy lúc 4 giờ sáng và làm việc đến 20 tiếng đồng hồ trong một ngày,[60] do đó sự thịnh vượng của nước Phổ đã quay trở lại.[175] Việc lưu hành tiền bị giảm giá đã giữ cho giá cả các mặt hàng tiêu dùng luôn ở mức cao. Vào tháng 5 năm 1763, Triều đình Friedrich II ban hành Thánh chỉ về việc ước lượng lại đồng tiền Thaler. Với sắc lệnh này, giá trị đồng tiền, vốn trước kia không được chấp nhận trong giao dịch, được ổn định lại và đảm bảo được các khoản thu từ thuế bằng giá trị trước chiến tranh. Ở miền Bắc Đức, người ta dùng đồng Reichsthaler thay cho đồng Thaler, có giá trị bằng một phần tư giá trị đồng Conventionsthaler. Nước Phổ đã dùng đồng Thaler, có giá trị bằng một phần mười bốn đồng bạc Mark Cologne. Ít lâu sau, nhiều vị vua khác đã theo bước Friedrich II trong việc cải cách tiền tệ nước họ - kết quả là sự thiếu hụt tiền mặt, dẫn đến sự giảm giá.[179]

Nhà vua nước Phổ cũng thiết lập Ngân hàng Berlin vào năm 1764, và đặt ngân hàng này làm ngân hàng quốc gia. Ông đã gửi một số tiền tương đương với 8 triệu thalers vào Ngân hàng Berlin.[180] Cũng sau ngày khải hoàn, ông ban hạt giống cho địa chủ của ruộng đất bị bỏ hoang để họ gieo trồng,[175] ban cho thần dân xứ Silesia ba triệu thaler, và thần dân xứ Pomerania hai triệu thalers. Ông còn truyền lệnh cho xây dựng lại những ngôi nhà, cung cấp tiền tự do cho những ngôi nhà được tái xây dựng và ban thưởng cho những Sĩ quan có công trong suốt cuộc chiến tranh tàn khốc. Những góa phụ của liệt sĩ được ông ban cho tiền trợ cấp.[100] Ông xuống chiếu giảm thuế hai năm đối với xứ Pomerania và Neumark, rồi giảm thuế sáu năm đối với xứ Silesia.[175] Chỉ trong vòng vài tháng, giờ đây tất cả mọi nông trang đều có ngựa trên toàn Vương quốc Phổ - Brandenburg.[175] Vào năm 1770, hầu như tất cả những ngôi làng bị hủy hoại đã sinh hoạt trở lại trên khắp Đế chế, nhân dân Phổ tiếp tục trồng trọt và trật tự đã ổn định lại, và tất cả các phủ đường bỏ trống đã được nhà vua lấp đầy người vào.[49] Vào năm 1773, nước Phổ có đến 264 nhà máy mới, đó là những nhà máy tinh chế đường, nhà máy làm đồ bằng da, nhà máy làm thuốc lá hay nhà máy sản xuất đồ sứ, v.v...[8] Tổng cộng, cuối đời Friedrich II, ông dùng 24 triệu thaler để cải thiện nền nông nghiệp và công nghiệp.[60].[181]

"Đức Vua ở khắp mọi nơi", hoạ phẩm của Robert Warthmüller (1886), cho thấy Friedrich thăm một trang trại khoai tây.

Cũng như tiên vương Friedrich Wilhelm I, nhà vua theo dõi chặt chẽ hệ thống hành chính nước Phổ.[182][183] Friedrich đã xây dựng một hệ thống Chính phủ Đế chế Phổ - Brandenburg thời cận đại, hiệu quả nhất trên toàn cõi châu Âu.[170] Khi ông lên nối ngôi, nước Phổ có ba vị Thủ tướng: Heinrich von Podewils, Adrian Bernhard von Borck và Wilhelm Heinrich von Thulemeier. Heinrich von Thulemeier mất vào năm 1740, và không có người thay thế. Von Bock rời khỏi Chính phủ vào năm 1741 và được người cháu thế chức. Còn Von Podewils thì coi sóc việc ngoại giao cho đến khi qua đời năm 1760.[184] Vào năm 1749, Bá tước Karl-Wilhelm Finck von Finckenstein (11 tháng 2 năm 1714 – 3 tháng 1 năm 1800, Berlin) - từng là Sứ thần đến Vương quốc Thuỵ ĐiểnĐan Mạch được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Phổ.[185] Cho đến năm 1760, trụ cột của hệ thống hành chính Đế chế Phổ - Brandenburg là viên Bộ trưởng Chiến tranh (kiêm luôn chức Bộ trưởng Tài chính) Adam Ludwig von Blumenthal. Vào năm 1764, cháu trai của A. L. Blumenthal là Joachim lên nối nghiệp, tiếp tục làm quan qua nhiều đời vua. Có một lần, nhà vua nước Phổ đã căn dặn Thủ tướng Heinrich von Podewils:[186]

Cho đến năm 1786, nhà vua - thực chất là vị Thủ tướng của chính mình[187] - vẫn nghiêm khắc hạn chế những ảnh hưởng từ các vị đại thần trong triều, chẳng hạn như Bá tước Finck von Finckenstein. Khi còn làm Thủ tướng Chính phủ, Heinrich von Podewils có ít ảnh hưởng đến nền thống trị Phổ thời đó, chỉ là kẻ làm theo những mệnh lệnh khe khắc của Quốc vương. Theo Hamish Scott, "Podewils... được tiếp cận với các phái bộ sứ thần tại kinh đô, và được nghe bất cứ những gì các sứ thần nói. Tuy nhiên, ông không được trả lời khi chưa có lệnh bua. Nói cách khác, vị thượng quan này, là người phát ngôn và là lỗ tai của vua. Tuy nhiên, ông không được phát biểu đường lối chính trị và không thể hiểu nổi những ý định thực sự của vua"[184] Theo Giáo sư R. Lodge (Britain and Prussia, trang 72), Thủ tướng Von Finckenstein chỉ là một "kẻ phát ngôn của những ý định khẩn cấp của ông" và "bản thân ông không hề có ảnh hưởng gì đối với chính sách của Friedrich". Tuy nhiên, theo cuốn Liên minh Anh - Phổ và cuộc chiến tranh Bảy năm: nghiên cứu về các chính sách liên minh và ngoại giao, sự dè đặt kín đáo trong những bức thư giữa nhà vua và Thủ tướng cho thấy Von Finckenstein có những quan điểm rõ rệt trong chính sách đối nội và đối ngoại của nhà vua..[188]

Friedrich đã tìm cách thiết lập một số cơ quan cùng làm việc với bộ máy Chính phủ Phổ sẵn có, nhưng lệ thuộc vào nhà vua hơn, và thi hành trách nhiệm mau lẹ hơn. Ông đã cải cách 'Hội đồng Chấp chính', được vua cha Friedrich Wilhelm I thiết lập trước đây. Để tăng hiệu quả của Hội đồng này, Friedrich II tiếp tục cải cách:[189] ông xuống chiếu thành lập một số Bộ mới để chăm lo kinh tế, khuyến khích công - thương nghiệp và cung cấp quân nhu cho Quân đội Phổ. Không may thay, do những trục trặc (chẳng hạn như mâu thuẫn giữa các Bộ), những cải cách 'Hội đồng Chấp chính' không thành công lắm. Vào năm 1763, ông lại đề xướng cải cách khác. Có thể nói, đây là ý tưởng giảm bớt quyền lợi của 'Hội đồng Chấp chính', và nâng cao ảnh hưởng của Quân vương trong mọi việc triều chính.[189] Sau đó, ông xuống chiếu thiết lập một số Bộ, và giao cho họ những trách nhiệm riêng biệt. Dù Bộ trưởng các Bộ này thuộc về 'Hội đồng Chấp chính', trên thực tế họ là những quan chức hoàn toàn riêng lẻ và trực tiếp trao đổi mọi chuyện với nhà vua. Friedrich II không có ý định xóa bỏ các Tổ chức Hành pháp Chiến tranh và Ruộng đất cấp tỉnh do tiên vương lập ra, nhưng ông cố gắng giảm bớt quyền hành của các Tổ chức này, và buộc họ phải thi hành Huấn lệnh của Hoàng gia nhanh chóng hơn. Do đó, khi nhà vua chiến thắng tại Silesia, ông giao xứ này cho các Tổ chức Hành pháp Ruộng đất - họ không lệ thuộc vào 'Hội đồng Chấp chính' nhưng trung thành với Quân vương. Nhà vua cũng làm điều tương tự khi chiếm đóng Tây Phổ sau cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất (1772). Vào năm 1783, ông nói với viên Thống đốc thành Breslau:[189]

Friedrich và người cháu - sau là vua Friedrich Wilhelm III.

Theo nhận định của cựu Thủ tướng Cộng hoà Liên bang Đức Helmut Kohl, tên tuổi của Friedrich II "gắn liền với sự mở đầu của nền thống trị bằng Luật pháp và một Chính phủ hiện đại".[170] Thậy vậy, nhằm xây dựng một Chính phủ Phổ công minh hơn, ông cũng đề xuất cải cách luật pháp,[8] nghe theo lời khuyên của một trong những học giả pháp luật nổi tiếng nhất thế kỷ XVIII - Coccejius. Kể từ thời Friedrich II, Luật pháp Phổ không còn núp dưới cái bóng của Luật pháp Đế quốc La Mã Thần thánh như trước nữa.[49] Cũng như Montesquieu và Beccaria, Nhà vua tin rằng Nhà nước cần có Luật pháp hơn là một Quân vương chuyên quyền, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận với công lý, đều phải tuân thủ pháp luật và việc ân xá cho một kẻ vô tội sẽ hay hơn là gán ghép cho họ tội này tội kia. Trong thư gửi Voltaire vào năm 1766 ông viết: "Một Quốc gia không thể tồn tại nếu không có Luật pháp, nhưng có thể tồn tại nếu không có Tôn giáo".[190] Do đó, Triều đình Phổ đã soạn thảo "Bộ luật Friedrich" (Codex Fridericianus) vào năm 1747. Tuy nhiên, những di sản lớn hơn cả mà nhà vua để lại cho luật pháp Phổ là "Allgemeines preussisches Landrecht", được thực hiện bởi Đại Pháp quan Phổ - Bá tước Johann H. C. von Carmer (1721 - 1801), dựa trên bộ "Project des Corporis Juris Fridericiani", do Samuel von Cocceji (1670 - 1755) thực hiện trong các năm 1740 - 1751. Triều đình Phổ cũng dày công xây dựng một bộ luật mang tên "Landrecht", kết hợp giữa luật pháp nước Đức và luật pháp La Mã, được Phổ áp dụng chính thức vào năm 1794, khi Friedrich II đã qua đời.[175] Quốc vương Phổ rất căm ghét thói lười biếng, và, cũng giống như tiên vương, ông sẵn sàng trừng trị những tên quan lười nhác. Ông nói: "Ta không thiết sống trên đời, nhưng ta cần sống đi đôi với sự siêng năng."[128]

Luật pháp nước Phổ dưới thời Friedrich II là Bộ luật công minh nhất châu Âu thời bấy giờ.[170] Trước thời ông, vào năm 1721, Tuyển hầu tước Friedrich I đã nhấn mạnh rằng hình phạt tra tấn chỉ được áp dụng khi có ưng thuận của Quốc vương. Ngay từ khi lên nối ngôi, ông đã duyệt lại quy định này, và đặt ra những trường hợp tội phạm không thể dùng hình phạt tra tấn. Vào ngày 3 tháng 6 năm 1740 (chỉ ba ngày sau khi vua cha qua đời), ông tuyên bố rằng nước Phổ không thể dùng hình phạt tra tấn nữa, với ngoại lệ rất ít: chẳng hạn như nếu tội phạm đó có mưu đồ chống lại Đức Vua và Vương quốc.[191] Cho đến năm 1754, ông còn ra một lệnh tiến bộ hơn: tất cả những cách tra tấn đều biến khỏi Vương quốc Phổ, đây là lần đầu tiên hình phạt tra tấn bị bãi bỏ tại lục địa Âu châu.[192] Ông cho rằng hình phạt tra tấn không chỉ "tàn bạo" (grausam), mà cũng không phải là một cách tìm công lý; và hạn chế số lượng tội phạm có thể bị tử hình.[191] Hình phạt những cô gái phá thai cũng bị Triều đình ông xóa sổ.[193]

Friedrich cũng đầu tư nhiều công sức vào việc xây dựng một nền giáo dục tốt.[194] Sau khi ông lên ngôi năm 1740, các trường dạy tiếng La Tinh ở Phổ đã được cải tổ. Tiếng Hy Lạp trở thành một trong những bộ môn quan trọng nhất trong các trường dạy tiếng La Tinh.[195] Vào năm 1753, ông hạ lệnh cho mở trường học tại những ngôi làng quê. Nhiều năm sau (1770), ông thiết lập Viện Hàn Lâm Mỏ ở Berlin, mở đầu cho quá trình hình thành của Trường Đại học Kỹ thuật Berlin.[196] Nhiều nước tích cực cạnh tranh với hệ thống giáo dục Phổ, trong số đó có cả Hoa Kỳ[197].

Tuy nhiên, ông không hề đổi mới cấu trúc xã hội khắt khe của Vương quốc Phổ cũng như không giải phóng tầng lớp nông nô.[182] Vì vậy, trong thời kỳ ông cầm quyền, người nông dân vẫn phải chịu khuất phục những gò bó của chế độ phong kiến Phổ. Nhà vua đã ví von số phận của giai cấp nông dân như "những con súc vật thồ trong xã hội loài người", và đánh lên họ đầy đủ thuế má.[170] Friedrich II có thể được xem là vị vua chỉ áp dụng triết học Khai sáng một cách nửa vời, dù truyền lệnh bãi bỏ nông nô ở ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Hoàng gia, ông không hề buộc tầng lớp quý tộc thống trị Phổ phải tuân theo ở ruộng đất riêng của họ, do ông cần sự ủng hộ của họ.[198] Không những thế, chủ nghĩa quân phiệt Phổ vẫn còn tồn tại dưới triều đại ông.[199] Triều đình Friedrich II cho phép những quý tộc Junker tha hồ mua ruộng đất, đổi lại họ phải giúp vua trong chiến tranh.[39] So với nước Nga thời bấy giờ, nước Phổ của Friedrich II mang tính tư sản hơn, nhưng so với nước Pháp - vốn có ảnh hưởng lớn đến nhà vua Phổ - Phổ là một cường quốc gần như không có tầng lớp trung lưu; thậm chí, nước Phổ của Friedrich II là quốc gia ít tính chất tư sản nhất trong các nước thuộc đế quốc La Mã Thần thánh.[44] Trong một lá thư từ từ thành phố Hamburg gửi Nikolai vào năm 1769, nhà văn người Đức Lessing đã lên án chế độ quân chủ chuyên quyền và cho hay, nước Phổ là "quốc gia mù quáng nhất của châu Âu", và nhà vua chỉ áp dụng tự do chủ nghĩa qua việc cho phép thần dân văng tục chửi thề tôn giáo truyền thống.[200]

Mặc khác, nhà vua nước Phổ, trong những lần đi bộ ngao du, thường thăm hỏi và nói chuyện thân mật với bà con nông dân.[128] Người ta gọi nước Phổ trong thời kỳ trị vì lâu dài của ông là một "chính thể quân chủ chuyên chế lập hiến".[8] Friedrich II còn tự tấn phong làm "Đức Vua của Phổ" sau khi chiếm được vùng Prusy Królewskie (Tây Phổ, ngoại trừ vùng Gdańsk) vào những năm 1770 – 1772,[140][201] chứ không còn là "Đức Vua Phổ" như trước nữa. Tước hiệu "Đức Vua Phổ" đã được dùng kể từ khi Friedrich I von Hohenzollern làm lễ đăng quang tại Königsberg năm 1701. Trong khi lãnh thổ Phổ trước kia rộng 119000 ki-lô-mét vuông, ông đã mở rộng đến 185.000 ki-lô-mét vuông.[202] Đến khi nhà vua qua đời vào năm 1786,à ngân khố quốc gia chứa đến 70 triệu thalers.[203]

Chính sách tự do tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với tôn giáo, Friedrich thực hiện chính sách tự do khoan hồng.[204][205] Sau khi Friedrich Wilhelm I qua đời, Friedrich II đã ân xá cho nhà triết học Christian Wolff - người từng bị trục xuất khỏi Phổ vì tội "vô thần".[206] riedrich II đã phủ nhận bất cứ một mối quan hệ nào giữa quốc gia và những tín điều giáo lý. Ngay từ khi lên ngôi, vào ngày 22 tháng 6 năm 1740, nghe lời than phiền rằng cộng đồng Công giáo Phổ đang tìm cách mở trường học để giảm số lượng tín đồ của Hội thánh Tin Lành,[207] ông đã lưu ý với Bộ Tôn giáo Phổ:[208][209]

Dưới triều đại ông, ở các xứ bị ông chinh phạt, tín đồ Công giáo được sinh sống tự do. Tại kinh đô Berlin, một giáo đường của người Công giáo được xây dựng.[190] Nhà vua dạy những thần dân Kháng Cách rằng, họ cũng có quyền hạn ngang với các tín đồ Công giáo Rôma, và không được ngược đãi tôn giáo này.[65] Nhà vua còn tuyên bố ông sẽ xây cất các nhà thờ Hồi giáo hay Thiên Chúa giáo nếu "bọn Thổ Nhĩ Kỳ và bọn ngoại giáo đến sinh sống ở nước ta".[210] Trong Tiểu luận về các hình thức Chính phủ (1777) của ông, nhà vua cho rằng: "Sự đàn áp là thứ gây ra những cuộc nội chiến, đẫm máu nhất, lâu dài nhất và huỷ diệt kinh khủng", và phủ nhận cả tư tưởng cấm đoán tôn giáo lẫn chính sách cấm đoán tôn giáo.[190] Phổ tự do tín ngưỡng đến mức không một nước nào ở Đức sánh bằng,[206] và trở thành một miền đất hứa, giống như Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ đối với dân nhập cư tìm kiếm tự do trong thế kỷ XIX sau này.[197] Triều đình Friedrich II cũng xuống chiếu mời những người ngoại quốc đến di cư ở các làng bản hoang tàn, góp phần tái thiết Vương quốc sau cuộc chiến tranh Bảy năm kinh hoàng.[49] Sau khi Giáo hoàng Clêmentê XIV giải thể Dòng Tên, ông vẫn cho phép các giáo sĩ Dòng Tên được giảng đạo tại vùng Silesia, Warmia, và quận Netze. Ông thích đem những tinh hoa khác nhau đến vương quốc của mình, từ các giáo sĩ Dòng Tên, những tín đồ Huguenot, hay những nhà buôn và chủ ngân hàng Do Thái, chủ yếu là từ Vương quốc Tây Ban Nha. Ông mong muốn phát triển tất cả các miền đất trên khắp đất nước, đặc biệt là tại những vùng đất mà ông cho là rất cần phải phát triển. Song, những cuộc cải cách của nhà vua tự do tư tưởng không hề gặp bất kỳ sự phản đối nào từ tầng lớp hạ lưu theo đạo Luther.[44] Cũng như vua cha đã gọi dân Do Thái là "những con châu chấu" trước kia, ông cũng không có thiện cảm với họ.[191] Dù ông gia tăng quyền lợi của cộng đồng Do Thái,[190] Testament politique của Friedrich II đã cho thấy ông là một vị vua có đầu óc thực tế và không hoàn toàn có lòng khoan dung. Trong Di chúc Chính trị có đoạn ngự bút của ông:

Ghế của vua tại Hoàng cung Sanssouci.

Do đó, người Do Thái tại biên giới Ba Lan được phép tự do buôn bán, đồng thời nhận được mọi sự bảo hộ và hỗ trợ từ nhà vua, cũng như những thần dân khác của nước Phổ. Dưới triều đại ông, cộng đồng Do Thái trở nên thịnh vượng. Thành công của việc trong việc hội nhập những người Do Thái vào xã hội những vùng đất tại biên giới Ba Lan do Friedrich thực hiện có thể thấy trong rất nhiều năm sau: một người Do Thái tên là Gerson von Bleichröder (1822 – 1893) đã hỗ trợ về tài chính cho công cuộc thiết lập Đế chế thứ hai của người Đức, lãnh đạo bởi Thủ tướng Otto von Bismarck (1815 – 1898).[212]

Dưới triều Friedrich II, người ta đã trồng trọt được nhiều vùng đất hoang, Vương quốc Phổ đã có dấu hiệu chuyển hóa thành một nước theo chủ nghĩa thực dân. Nhà vua nhấn mạnh rằng dân tộc và tôn giáo không phải là những vấn đề mà ông lo sợ.[41][139]

Nhà vua với văn hoá - nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà triết học Voltaire có nhận định về Vương quốc Phổ dưới triều đại lâu dài của Friedrich II:

Âm nhạc, triết học, văn học thời Friedrich II[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh The Flute Concert of Sanssouci của Adolph von Menzel, 1852, miêu tả cảnh Friedrich II thổi sáo trong phòng hoà nhạc tại cung điện Sanssouci.

Không những là một tướng lĩnh, Friedrich II còn là một nhà văn và nhà soạn nhạc khá tài hoa. Ông được xem là một trong những vị vua có văn hóa nhất, và có lẽ học rộng hơn bất kỳ một Quân vương nào khác trên toàn cõi châu Âu.[183] Thổi sáo là một sở thích của ông. Dù phải bận tâm với những vấn đề đại sự quốc gia, ông vẫn chơi sáo hằng ngày.[54] Chính ông đã sáng tác 100 bản xô-nát để thổi sáo, và bốn bản nhạc giao hưởng. Phần lớn những ngày của Triều đình Friedrich II thường bắt đầu vào 4 giờ sáng, rồi kết thúc với một bữa ăn tối, và một buổi hoà nhạc về đêm, khi ông chơi những bản công-xéc-tô sáo mà ông biết.[216] Ông còn ví von mình với Moses ở bán đảo Sinai, tức coi mình là vị vua dẫn dắt nền văn hóa đồ sộ của nước nhà trở nên tiến bộ hơn. Dưới triều đại ông diễn ra sự kiện querelle des bouffons: nền âm nhạc Ý vượt trội Pháp, tạo điều kiện cho Đức phát triển và vươn lên vượt trợi cả Ý sau này.[217]

Tương truyền rằng Friedrich II đã soạn bản "Hành khúc Hohenfriedberg" để kỷ niệm chiến thắng của ông tại Hohenfriedberg (1745).[218] Dưới triều đại lâu dài của ông, những nhạc sĩ cung đình Phổ bao gồm C. P. E. Bach, Johann Joachim Quantz, và Franz Benda. Johann Joachim Quantz là thầy dạy thổi sáo của ông trong vòng nhiều năm, làm nhạc sĩ cung đình cho đến qua đời vào năm 1773. Joachim Quantz đã viết cho Quốc vương 300 bản côngxéctô sáo.[54] Ngoài ra, năm 1747, ông vời nhạc sĩ Johann Sebastian Bach đến gặp ông tại thành phố Potsdam,[54] cuộc gặp gỡ này đã tạo cảm hứng để Sebastian Bach sáng tác bản "Musikalisches Opfer", còn được gọi là Das Musikalische Opfer. Ông cũng bỏ ra chút tiền để mời La Barberina (Barberina Campanini, 1721 – 1799) - một nghệ sĩ ba lê rất nổi tiếng người Ý đến kinh đô Berlin.[219] Barberina sinh sống tại thành Berlin từ năm 1744 đến năm 1748.[220]

Friedrich II là một trong những người mở ra thời kỳ Khai sáng tại Phổ.[191] Không những là một thành viên của Hội Tam Điểm mà ông còn là người giới thiệu hội này đến Vương quốc Phổ.[221] Vào ngày 14 tháng 8 năm 1738 (gần hai năm trước ông lên làm vua), ông bí mật tham gia Hội Tam Điểm tại Brunswick. Khi lên làm vua vào năm 1740, ông trở thành "Đại sư" của chi nhánh Hội Tam Điểm tại lâu đài Rheinsberg. Do đó, nhánh này có tên là "Chi nhánh thứ nhất", hay "Chi nhánh của Thánh thượng - vị Đại sư của chúng ta". Theo đề nghị của Quốc vương, vào ngày 13 tháng 9 năm 1740, một chi nhánh mới của Hội Tam Điểm được thiết lập ngay tại kinh thành Berlin, lấy tên là "Ba thế giới".[221] Ông có cùng quan điểm với triết học Khai sáng của Pháp, và rất ngưỡng mộ Voltaire - một nhà văn đồng thời là triết gia lừng danh của triết học Khai sáng. Là vị quân vương có tư tưởng tự do nhất châu Âu thời bấy giờ, ông và Voltaire trở thành đôi bạn thân thiết trong một thời gian lâu dài.[222] Có người nói: "Ông vua này đã cùng Voltaire trị vì chế độ quân chủ tiến bộ vào thế kỷ 18".[78] Trong thời gian chiến tranh, ông vẫn viết thư gửi cho Voltaire, theo đó nhà vua là "chàng hiệp sĩ Đôn Kihôtê của phương Bắc".[223][224] Vào tháng 7 năm 1750, Voltaire đến kinh đô Berlin, sau đó đến Postdam theo lời mời của Friedrich II. Quốc vương Phổ đã khuyến khích nhà triết học Pháp gửi gắm quan điểm của mình về đạo đức, tôn giáo và xã hội trong bộ Từ điển Triết học, tuy nhiên mãi đến năm 1764 Voltaire mới xuất bản tác phẩm này.[225] Họ bất hòa với nhau vào năm 1753 và nhà triết học trở về nước Pháp.[226] Trong Tân Hoàng cung của nhà vua ở Sanssouci, có một "căn phòng của Voltaire" - nơi Voltaire cư ngụ trong thời gian đại văn hào này sống tại Postdam từ năm 1750 đến năm 1753.[227] Trong những năm tháng chiến tranh, trong đại bản doanh tại thành phố Breslau, ông vẫn đọc những cuốn sử sách của De Thou và Fleury, hay những tập thơ của nhà triết học người La Mã là Lucretius. Ông từng nói với D'Alembert: "Khi ta phiền toái, ta đọc tập thơ thứ III của Lucretius và nỗi buồn của ta trôi qua: đây là một viên thuốc bổ, nhưng viên thuốc này chữa được những dịch bệnh mà không gì có thể chữa nổi!".[65]

Trong thời gian cầm quyền của Friedrich, nhân dân Phổ có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí hạn chế.[182] Vào năm 1741, ông sáng lập ra tiền thân của tờ báo "Schlesische Zeitung" tại thành phố Breslau thuộc Phổ, với tên gọi là "Schlesisch privillegierte Staats-, Krieg- un Friendenszeitung" (Báo Nhà nước, Chiến tranh và Hoà bình, được Hoàng gia bảo trợ).[228] Ngay từ khi lên ngôi vua, ông đã mong muốn Vương quốc mình sẽ là nơi quy tụ của nhiều nhà bác học kiệt xuất. Chính vì thế, tháng 7 năm 1741, ông đã triệu nhà toán học Leonhard Euler đến kinh đô Berlin. Nhà vua thiết lập Viện Hàn lâm Khoa học Berlin vào ba năm sau và bổ nhiệm một nhà toán học tên Pierre-Louis Moreau de Maupertuis làm Viện trưởng của Viện này.[229] Ông còn giao cho Euler phụ trách các ngành vật lý và toán học tại Viện Hàn lâm Khoa học Berlin. Bước sang thập niên 1760, Friedrich lại bất hòa với Leonhard Euler,[230] do một ý tưởng độc tài và những rắc rối nhỏ nhặt.[231] Ông bèn triệu nhà toán học, thiên văn học người Pháp là Joseph-Louis Lagrange đến thay Leonhard Euler phụ trách ngành toán học tại Viện Hàn lâm Khoa học Berlin.[232] Nhận lời mời: "Trẫm, Đức Vua vĩ đại nhất muốn gặp gỡ nhà toán học vĩ đại nhất trên toàn cõi Âu châu", Joseph-Louis Lagrange ở kinh đô Berlin trong suốt 20 năm, rời khỏi nước Phổ sau khi nhà vua bước vào cõi vĩnh hằng.[233] Nhà vua cũng viết cuốn "Discours de l'utilité des sciences et des arts dans un État" để phản hồi các tác phẩm "Discours" trong các năm 1750 và 1753, "Guy-li hay Nàng Hê-lô-i-dơ mới" (1760), "Contrat Social", và "Ê-min hay Về giáo dục" (cùng vào năm 1762) của nhà văn Jean-Jacques Rousseau, được đọc trước Viện Hàn lâm Khoa học Berlin vào ngày 27 tháng 1 năm 1772.[234] Tuy Friedrich cho phép các văn nghệ sĩ tha hồ chỉ trích tôn giáo truyền thống, ông không cho phép họ chỉ trích quân đội của ông.[199] Cuối triều đại ông, thấy tờ báo "Kölnische Zeitung" chỉ trích ông, vị vua già cho một thuộc hạ bỏ 100 đồng đu-ca ra thuê bọn côn đồ tới chất vấn tác giả của tờ báo ấy.[231][235]

Die Tafelrunde, tranh vẽ của Adolph von Menzel. Friedrich Đại đế đang tiếp khách tại Sanssouci, bao gồm những thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Phổ và Voltaire (ngồi, người thứ ba từ bên trái).

Tuy vậy, Vương quốc Triết học của Friedrich II đã lôi cuốn nhiều văn sĩ lớn, không những Pierre Louis Maupertuis mà còn có Francesco Algarotti, d'ArgensJulien Offray de La Mettrie.[236] Cũng trong thời gian cầm quyền của ế Friedrich II, nhà triết học nổi tiếng Immanuel Kant (1724 – 1804) đã xuất bản những tác phẩm viết về tôn giáo tại Berlin, tại châu Âu có nơi đã kiểm duyệt những tác phẩm này. Kinh đô Berlin trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật và nghiên cứu của lục địa Âu châu trong thời gian này.[237] Không những thế, ông cũng truyền lệnh cho Johann Christian Edelman - một người theo học thuyết Spi-nô-da tiến bộ - đến tị nạn tại kinh đô Berlin. Vào năm 1747, giới tăng lữ Calvin và Luther đã công kích Edelman, họ xem Edelman là một mối hiểm họa và là thành viên của một môn phái thù địch. Nhà vua cũng tỏ ra thiếu thiện ý với J. C. Edelman, do Edelman có tư tưởng chống đối chế độ quân chủ chuyên chế, và phê phán bài ca tụng việc lên nối ngôi của Friedrich II do Voltaire sáng tác. Nhưng Friedrich II không hề phản đối chủ nghĩa tự do đạo đức và chủ nghĩa hoài nghi tôn giáo của Edelman.[191]

Ngoài tiếng mẹ đẻ của ông là tiếng Đức, nhà vua còn nói được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nhatiếng Tây Ban Nha. Không những thế, ông cũng am hiểu tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp cổ và cận đại, và tiếng Hê-brơ. Nhà vua không có thiện cảm với người Đức, xem họ như "những tên tiện dân".[170] Nổi tiếng là một người có lòng yêu thích nền văn hóa Pháp, Friedrich thường xuyên nói và viết bằng tiếng Pháp, lại không yêu thích nền văn hóa, ngôn ngữ và văn học Đức. Ông chỉ dùng tiếng Đức để nói chuyện với con chiến mã của mình, đúng như lời tự bạch: "Ta chỉ là một tên đánh xe ngựa khi nói thứ tiếng Đức."[238] Vác viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Berlin thời Friedrich cũng được khuyến khích dùng tiếng Pháp hơn tiếng La Tinh và tiếng Đức.[239] Friedrich từng phê phán khuyết điểm của các nhà văn người Đức như sau:[240] "Ngoặc đơn chồng lên ngoặc kép, và thường sau khi đọc cả một trang giấy anh mới tìm thấy một động từ chứa đựng ý nghĩa của cả câu nói." Friedrich cũng khẳng định trong luận văn viết bằng tiếng Pháp "De la littérature allemande" (1780) rằng tiếng Đức chỉ là ngôn ngữ của những gã quê mùa.[175] Ông còn tỏ ra khinh miệt tầng lớp hạ lưu Đức do họ say mê những bản dịch tiếng Đức của Shakespeare ("Những tác phẩm ghê tởm của Shakespeare... đem cho những tên man rợ xứ Canada đọc đi là vừa"). Không những thế, ông còn nhận định tác phẩm "Götz von Berlichingen" của Johann Wolfgang von Goethe"thật đáng ghét, đây là sự làm theo những thí dụ tồi tệ đến từ Anh Quốc", và không hiểu sao bọn dân đen (le parterre) cứ thèm muốn học thuộc lòng "những thứ ngớ ngẩn" (ces dégoûtantes platitudes) ấy. Quốc vương đã chơi với những người mà ông cho là "cũng bộc trực như thế", nói cách khác là thẳng tay bỉ bác văn học Đức.[241]

Những tinh hoa của nền văn hóa Pháp không phải là lý do duy nhất khiến vua Phổ chê bai văn hóa Đức: thời bấy giờ có nhiều người ngoại quốc giữ vai trò quan trọng trong chính phủ Phổ, họ đều là những người chẳng ưa gì nền văn hóa Đức.[242] Khi nhà vua xuất bản một tập thơ bằng tiếng Pháp, nhà văn Moses Mendelssohn đã không ngần ngại phê phán việc ông không chịu viết tiếng Đức; hậu quả là nhà vua cấm đoán sách vở của Mendelssohn. Sau này, người ta tiến cử Moses Mendelssohn vào Viện Hàn lâm Khoa học Phổ, nhưng nhà vua giận dữ từ chối.[243] Đại thi haò Johann Wolfgang von Goethe cũng từng chỉ trích ông "bị trói buộc vào ảnh hưởng từ Voltaire".[244] Nhưng, Friedrich vẫn không phải là không bao giờ nghĩ đến quang vinh của văn hóa nước nhà: trong một bài tiểu luận vài năm trước khi về cõi vĩnh hẵng, ông, cũng như Moses, hy vọng sẽ tìm ra một Miền Đất Hứa, với hy vọng:[75]

Thấy ông chán gét văn học Đức, các văn nghệ sĩ người Đức đã cố gắng gây cho nhà vua ấn tượng trước những tác phẩm viết bằng tiếng Đức của họ, và khắc phục những nhược điểm của nền văn hóa Đức. Đường lối trị quốc của Friedrich II cũng ảnh hưởng đến nhiều chính khách - trong số đó có Nam tước Karl vom und zum Stein (1757 – 1831).[245][246] Thi hào Goethe cũng là người khen ngợi tài năng của Friedrich II và bộ máy chính quyền Phổ.[242] Trong chuyến viếng thăm Strasbourg (Strassburg), Goethe đã gửi gắm cảm nghĩ của mình về Friedrich qua mấy dòng văn sau:[247]

Friedrich còn xuống chiếu ân xá cho nhà thơ người Đức chống tôn giáo Christian Friedrich Daniel Schubart (theo Wikisource-logo.svg Schubart, Christian Friedrich Daniel”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). 1911.  là vào năm 1787), nên nhà thơ này ghi nhớ công ơn của ông. Bài thơ "Lịch sử cuộc đời tôi", "Về binh pháp" và "Lịch sử cuộc chiến tranh Bảy năm" được xem là những tác phẩm nổi tiếng nhất của Friedrich II.[187] Từ năm 1846 đến năm 1857, Chính phủ Phổ mới truyền lệnh cho Preuss và Viện Hàn lâm Khoa học Berlin tiến hành dịch các trước tác của Friedric, gồm 6 bài thơ, 7 quyển sử sách, 2 quyển triết lý, 3 quyển binh pháp và 12 lá thư.[175] Ông Macaulay đã nhận định về tác phẩm "Hồi ký" của Friedrich:[187]

Kiến trúc dưới triều Friedrich II[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Freundschaftstempel (A L Krüger 1780).jpg
Ngôi đền Tình Bạn tại quần thể kiến trúc Sanssouci.

Trong suốt thời kỳ cầm quyền của mình, Friedriich đã cho xây dựng nhiều công trình nổi tiếng ở kinh thành Berlin, phần lớn trong số đó còn tồn tại cho tới ngày nay, chẳng hạn Nhà hát Quốc gia Berlin, Thư viện Hoàng gia (ngày nay là Thư viện Quốc gia Berlin), Đại giáo đường Thánh Hedwig, và vương phủ thân vương Heinrich, được xây ở chỗ mà nay là Trường Đại học Humboldt. Ông tiếp tục công cuộc xây cất các quảng trường của Berlin.[239] Tuy nhiên, vào mùa hè nhà vua chỉ thích ngự ở thành phố Potsdam, nơi ông xây điện Sanssouci (còn gọi là Điện Vô Ưu hay Cung Tiêu Dao) - công trình nổi bật nhất của phong cách rococo miền Bắc Đức. Điện này được xây nên vào năm 1744 vào năm 1744. Cung điện này có một tầng, là nơi Friedrich cư trú và giải trí bằng những thứ khoái khẩu nhất của ông: triết học và âm nhạc.[198][227]

Mặt chính diện ở hướng nam (hoặc mặt chính diện công viên) và phần chính của cung điện Sanssouci.

Sanssouci, dịch từ tiếng Pháp có nghĩa là "thoát khỏi sự phiền muộn", trở thành nơi ẩn dật của Friedrich II. Tên tuổi của kiến trúc sư Georg Wenzeslaus von Knobelsdorff gắn liền với sự phát triển của phong cách kiến trúc "Rococo thời Friedrich". Tuy nhiên, vào năm 1746 do có bất hòa mà nhà vua sa thải Knobelsdorff, và giao phó cho Johann Boumann việc xây dựng Hoàng cung Sanssouci.[248] Sau khi cuộc chiến tranh Bảy năm kết thúc, vào năm 1763 ông hạ lệnh cho xây dựng tòa "Tân Hoàng cung" (tên tiếng Đức: Neues Palais) nguy nga theo phong cách Ba-rốc ở phía Đông công viên Sanssouci. Ông đã nghĩ đến việc xây dựng toà lâu đài to lớn này ngay từ năm 1750, nhưng sau cuộc chiến tranh Bảy năm ông mới bắt đầu xây cất nó - để kỷ niệm chiến thắng của Vương quốc Phổ trong cuộc chiến tranh ấy, chứng tỏ thực lực của Phổ đang trên đà lớn mạnh (1763).[227] Việc xây cất cung điện này hoàn thành vào năm 1769.[227]<

Từ năm 1754 cho đến năm 1764, nhà vua xây dựng "Ngôi nhà uống trà Trung Quốc" (Chinesisches Teehaus)[249] nổi tiếng tại công viên Sanssouci. Ở Lietzenburg (cung Charlottenburg), ông cũng có một Phòng tranh lớn và một căn phòng khác được trang hoàng theo kiểu Trung Hoa.[250] Mười năm sau cái chết của chị mình là Wilhelmina (1758), ông còn xây cất một công trình tưởng niệm bà ta ở các khu vườn Sanssouci - đó là Ngôi đền Tình Bạn (Freundschaftstempel).[251][252]

Đời tư của Friedrich II[sửa | sửa mã nguồn]

"Friedrich der Große auf Reisen" (Friedrich vi hành), hoạ phẩm của Adolph von Menzel (1815–1905).

Friedrich II từng tỏ ra thất vọng với căn bệnh sún răng của ông và em gái là Công chúa Brunswick (Charlotte).[253] Ông không phải là một nam giới ghét phụ nữ, vì, như đã nói ông là bạn thân của người chị mình, thậm chí ông còn có ít nhất là hai mối ái tình với nữ giới khi còn trẻ.[17] Tuy thế nhưng theo một số nhà sử học,[254] ông có lẽ là người đồng tính luyến ái hoặc lưỡng tính, thậm chí có khả năng là một người độc thân. Do ông thân mật đến mức lạ thường với người lính hầu Christoph Keith, vua cha Friedrich Wilhelm I đã truyền lệnh đày ải Keith. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục viết thư tình cho người vệ sĩ mới của mính là Trung tá Borcke (1728), theo đó "Chẳng ai yêu mến Ngươi bằng Ta đâu...", và đề nghị Borcke "đền đáp" tình yêu thương mà ông dành cho viên Trung tá.[255] Ông và Trung uý Hans Hermann von Katte (1704 – 1730) cũng bị nhiều quan viên trong Triều đình Phổ cho là có quan hệ đồng tính luyến ái.[256]

Sau khi Hermann von Katte bị Friedrich Wilhelm I hành hình, Friedrich bị buộc phải cưới Quận chúa Elisabeth Christine xứ Brunswick-Bevern. Sau khi vua cha Friedrich Wilhelm I qua đời năm 1740, ông sống tách biệt với vợ mình. Trong những năm sau đó, mỗi năm Friedrich chỉ đến thăm vợ một lần và không có con nối dõi.[257][258] Sau khi Katte chết, nhà vua có một người bạn mới: Fredersdorf. Sau này, ông đã phong Fredersdorf làm quan đại thần và gây sốc cho tầng lớp địa chủ Phổ bằng việc ban cho con trai của người nông dân trẻ tuổi một điền trang.[18] Ông còn có một người bạn khác, Keyserling, theo một nhà ngoại giao người Pháp, nhà vua chung sống với Keyserling trong vòng nhiều tiếng đồng hồ, và không cho Keyserling ra ngoài đường, vì "sợ thiên hạ dị nghị về ông ta".[18]

Friedrich năm 68 tuổi, qua nét vẽ của họa sĩ người Thụy Sĩ Anton Graff.

Friedrich II thường sinh sống tại điện Sanssouci, nơi mà ông yêu thích nhất tại thành phố Postdam. Đó là cung điện mà ông xây cất sau khi cuộc chiến tranh Silesia lần thứ hai kết thúc. Tương truyền khi ông đang thị sát vùng Postdam và nghỉ chân dưới bóng cây trên một ngọn đồi, ông đã nhìn thấy dòng sông Havel uốn lượn và một dãy núi xinh đẹp phía sau, đồng thời về phía xa còn có đồng ruộng bao la và mùi thơm lúa mạch đã làm nhà vua thấy hết sức dễ chịu, không còn vướng bận ưu phiền.[259] Thế là ông đã quyết định xây một cung điện mùa hè cho mình tại đây, đó chính là Cung điện Sanssouci. Chính tay nhà vua đã thiết kế cung điện này.[259] Sau khi khánh thành thì Cung điện Sanssouci lúc nào khách khứa cũng đông nghẹt, tuy nhiên các quan khách ít khi thấy nhà vua ở bên cạnh Hoàng hậu Elisabeth Christine. Thật vậy, Friedrich II thường lấy lý do bận việc nước để Hoàng hậu không "quấy rầy" mình. Chị gái của ông, Công chúa - Nữ Bá tước xứ Bayreuth Friederike Sophie Wilhelmine (1709 – 1758) từng than phiền như sau:

Vásự đồng tính luyến ái của Quốc vương cũng được thể hiện trong một bài thơ ca ngợi Sanssouci, khi ông dời về đây: "Trong vương cung được trang hoàng lộng lẫy này/Đôi ta hãy cùng tự do chung sống...".[18] Không những thế, Ngôi đền Tình Bạn tại Postdam cũng là nơi tán dương những mối tình đồng tính luyến ái trong thời kỳ Hy Lạp cổ điển, được trang hoàng với chân dung của OrestesPylades ở giữa những nhân vật khác.[261] Bản thân nhà vua gọi những nhân vật này là "các anh hùng của tình bạn". Ngôi đền được xây dựng dựa theo một bài thơ cùng tên do Voltaire viết vào năm 1732, được Friedrich vào tháng 9 năm 1737.[251]

Một trong những thượng khách đã được Friedrich II tiếp đón tại khu Sanssouci là chính nhà triết học người Pháp Voltaire. Vào tháng 7 năm 1750, Voltaire đến kinh thành Berlin. Là viên thị thần của ông, Voltaire được Friedrich chu cấp cho 20.000 quan Pháp và sống tại một trong những cung điện vua Phổ.[262] Friedrich và Voltaire đã làm bạn với nhau trong gần 50 năm, một tình bạn nổi tiếng trên khắp lục địa Âu châu. Có lần, Voltaire từng gửi tặng một bài thơ cho ông, ví ông như Julius Caesar - vị hoàng đế đồng tính luyến ái, đã cải cách hệ thống lịch thời kỳ La Mã cổ đại.[18] Không những thế, Voltaire từng ví von nhà vua với những thi sĩ Horace, Catullus, Maecenas, nhà triết học Sokrates, các Hoàng đế Augustus, Titus, Antoninus Pius, Flavius Claudius Julianus, "Hoàng đế Marcus Aurelius đời mới", "Ngôi sáng sao trên bầu trời phương Bắc" hay "Vua Solomon của phương Bắc".[263][264][265][266] Voltaire trở thành người thầy, nhà triết học và người bạn tận tuỵ nhất của Friedrich.[266]

Tượng nhà vua tại Lâu đài Hohenzollern.

Bên cạnh đó, hai người thường gây sự với nhau, vì Voltaire là người phản đối chủ nghĩa quân phiệt Phổ dưới thời Friedrich II. Voltaire đã kể cho nhà vua bài học về vua Thụy Điển Karl XII mang hoài bão quá lớn và thất bại trong Đại chiến Bắc Âu, đồng thời phê phán gay gắt ông vua quân phiệt nước Phổ trong tác phẩm "Candide, ou l'Optimisme" (Ngay thẳng, hay lạc quan).[267] Vào năm 1753, Voltaire phê phán dữ dội Viện trưởng Pierre-Louis Moreau de Maupertuis của Viện Hàn lâm Khoa học Berlin trong tác phẩm "Chỉ trích ông Tiến sĩ Akakia" (Histoire du Docteur Akakia et du Natif de St Malo). Thấy vậy, vua Friedrich II nổi giận, ông hạ lệnh cho đốt sách "Chỉ trích Tiến sĩ Akakia" và tống giam Voltaire vào một căn nhà. Một tác gia ẩn danh đã sáng tác cuốn "Cuộc sống riêng tư của vua Phổ" (The Private Life of the King of Prussia), theo một số người thì tác giả ẩn danh này chính là Voltaire sau khi rời khỏi nước Phổ. Tác phẩm này đã ghi nhận rằng Friedrich II là một vị vua đồng tính luyến ái. Hay tin, nhà vua nước Phổ không phủ nhận mà cũng không cho rằng nội dung quyển sách này là đúng, mà cũng không tố cáo Voltaire là người đã viết nó. Vài năm sau, ông và Voltaire lại trở thành bạn bè, nhưng sau này họ lại tố cáo lẫn nhau để rồi họ lại chia rẽ nhau như trước.[268] Song, Voltaire viết về trận xung đột với nhà vua nước Phổ như sau:[18]

Sự chia rẽ giữa ông và Voltaire cũng không cản trở việc nhà triết học Pháp ghi chép một cách thẳng thắn. Trong cuốn "Hồi ký" (tên tiếng Pháp: Mémoires, 1759) của Voltaire, nhà triết học này đã viết về sự đồng tính luyến ái của vua Friedrich II, bằng lối văn chương trào phúng thầm lặng. Theo ghi nhận của Voltaire, nhà vua ngủ theo kiểu Sparta trên một chiếc võng giản dị của Quân đội nước Phổ. Tuy nhiên:


Các nhà sử học khác thì không cho rằng Friedrich là một người đàn ông, họ cho rằng ông từng viết: ông chỉ là "một kẻ có ưu thế hơn những người phụ nữ" mà thôi. Tuy nhiên, giáo sư người Pháp là Dieudonné Thiébault cho rằng nhà vua đã yêu một cô gái tại Neuruppin.[271] Theo quan Ngự y nổi tiếng người Thụy Sĩ là Johann Georg Ritter von Zimmermann (1728 – 1795), ông muốn những lời đồn đồng tính luyến ái trở nên đúng, để cho dân chúng không nghĩ rằng cơ quan sinh dục của ông đã bị tổn thương trong một "ca mổ phẫu thuật hiểm nghèo" nhằm giúp ông thoát khỏi bệnh hoa liễu.[272] Zimmermann cũng cho biết, rất nhiều người Đức và Pháp (đều là kẻ thù hoặc bạn hữu của nhà vua) đã vu cáo nhà vua là người đồng tính luyến ái.[18] Theo kết luận của nhà sử học người ÚcChristopher Clark, tác giả cuốn Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947:

Friedrich II qua tranh sơn dầu trên vải bạt của Anna Dorothea Therbusch (1775).

Về cuối đời, nhà vua ngày càng trở nên cô độc ngay từ giữa cuộc chiến tranh Bảy năm.[274] Khi đại thần Michael Gabriel Fredersdorf muốn lấy vợ, nhà vua nói khôi hài: "Phải chăng đám cưới của khanh sẽ được tổ chức hôm nay thay vì ngày mai nếu nó mang lại cho khanh niềm vui sướng và thảnh thơi, hoặc nếu nó mang lại cho khanh một kẻ do thám và một tên tiểu đồng?"[18] Theo thời gian, những người bạn hữu của ông tại khu Sanssouci lần lượt qua đời mà không hề có người thay thế. Dù từng cãi lộn với Voltaire, khi Voltaire qua đời, Friedrich II vẫn không hề cắt đứt mối quan hệ với nhà triết học người Pháp: Ông gửi thư cho nhà toán học Jean le Rond D'Alembert vào ngày 22 tháng 6 năm 1780: "Cứ mỗi sáng ta đều cầu nguyện ông ấy. Ta nói: "Voltaire thiêng liêng...".[234] Friedrich trở nên độc đoán và hay chê bai các vị quan đại thần cùng Sĩ quan Quân đội Phổ, làm cho họ thất vọng. Khi ông trở về kinh đô sau những chuyến thăm các tỉnh hoặc những cuộc duyệt binh, dù nhân dân Berlin thường chào mừng nhà vua, nhưng ông không tỏ ra vui thú gì với thần dân, mà chỉ yêu quý thú cưng của mình - những con chó săn thỏ Ý.[275][276] Ông gọi một con chó là 'Hầu tước Pompadour', ví von nó với Nữ Hầu tước Pompadour.[277] Ông thương những chú chó của ông hơn cả con người do:[278]

Qua đời và vấn đề yên nghỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1785, nhà vua đi duyệt binh trong một ngày mưa tầm tã, nên ngã bệnh nặng.[234] Trong các tháng 5 - 6 năm 1786, bệnh tình của Friedrich ngày càng trở nên nghiêm trọng, khó có thể đi duyệt binh.[77] Vốn chỉ có chút niềm tin đối với tôn giáo, độ tin tưởng của ông đối với y học cũng tương tự. Tuy nhiên, có lẽ do sức khỏe của ông không được khá hơn, nhà vua đã triệu Ngự y Hoàng gia Johann Georg Ritter von Zimmermann đến chữa bệnh cho ông.[77][279][280] Vào ngày 22 tháng 6 năm ấy, Zimmermann đến khu Sans Souci. Ngự y ghi nhận[77]


Vua Friedrich Đại đế băng hà, hoạ phẩm của Bernhard Rode (1786/1787).

Vào ngày 4 tháng 7 năm 1786, ông cưỡi con ngựa xám dài tên là Condé chạy quanh những khu vườn Sanssouci với tốc độ cao. Về cung, Friedrich ngã quỵ xuống, và không bao giờ ra khỏi cung vua nữa.[77] Do căn bệnh phù, ông qua đời vào 2 giờ 20 phút buổi sáng ngày 17 tháng 8 năm 1786, hưởng thọ 74 tuổi. Cháu trai ông, vua Friedrich Wilhelm II (1744 - 1797) lên nối ngôi. Trước kia, cha của vị vua này là Thái đệ August Wilhelm đã mất vào năm 1758, nên Friedrich II chỉ định Friedrich Wilhelm II làm vị vua tương lai của Vương triều Brandenburg.[281][282]

Napoléon I viếng mộ Friedrich II.

Sinh thời, Friedrich II trăng trối rằng, ông muốn được chôn tại một vườn nho trên sân thượng của cung điện Sanssouci. Tuy nhiên, tân vương Friedrich Wilhelm II đã hạ lệnh cho chôn Friedrich II bên cạnh cha ông là Friedrich Wilhelm I trong một Nhà thờ Công sự tại Postdam (bị phá hủy năm 1945).[170] Đến Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), người ta đã chuyển quan tài chứa vua cha Friedrich Wilhelm I và Friedrich II tới một cái hầm dưới lòng đất, sau đó lại chuyển đến một cái giếng mỏ gần thị trấn Bernrode để bảo vệ cho thi hài các vị vua không bị phá hoại trong chiến tranh. Vào ngày 27 tháng 4 năm 1945, Quân đội Hoa Kỳ đã phát hiện ra linh cữu của ba nhà quân phiệt vĩ đại nhất của nước Đức: bao gồm cha con vua Friedrich II và cố Tổng thống Von Hindenburg, thậm chí có cả phu nhân của ông Hindenburg, và chuyển thi hài của họ đến Lâu đài Marburg, nhằm sưu tập và tìm kiếm "kho báu" của Đức Quốc xã. Như một phần của dự án bí mật mang tên "Chiến dịch Bodysnatch",[283] [284] quân Mỹ chuyển thi hài hai vị vua đến Nhà thờ Elisabeth tại thành phố Marburg, sau đó lại chuyển đến Lâu đài Hohenzollern gần thị trấn Hechingen. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ và nước Cộng hoà Liên bang Đức được thống nhất, thi hài Friedrich Wilhelm I được chôn cất trong Lăng Hoàng đế Friedrich III ở Nhà thờ Hòa Bình (Friedenskirche), tại Sanssouci.

Mộ của Friedrich II tại Sanssouci.

Ngoài ra, sau khi bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9 tháng 11 năm 1989,[285] ước muốn của Friedrich cuối cùng cũng trở thành hiện thực.[227] Ngày 17 tháng 8 năm 1991 chính là ngày kỷ niệm 205 năm ngày nhà vua nước Phổ bước vào cõi vĩnh hằng. Vào hôm đó, chiếc quan tài chứa ông được đặt tại sân trước của cung điện Sanssouci và được hộ tống bởi một đội vệ binh danh dự Bundeswehr. Cùng ngày, vào buổi tối ông được chôn cất trong ngôi mộ trên nền đất cao nhất của khu vườn nho. Ngay từ năm 1744, ông đã mong muốn được yên nghỉ tại nơi đây, khi đó ông nói: "Một ngày nào đó ta sẽ ở đây! Đến lúc đó, ta sẽ trở thành một kẻ vô tư lự." (Nguyên văn: Quand je serai là, je serai sans souci.)[286].

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Friedrich II ở Neurebbin, Brandenburg (nước Đức). Đây là bản sao năm 1997 của bức tượng được tạc vào năm 1904, nhưng bị phá hủy sau đó.

NTrong sách Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới của Kha Xuân Kiều - Hà Nhân Học, phần "Friedrich: Ông vua sáng suốt" có nhận định tổng quát như sau:[287] "Friedrich Đại Đế được coi là ông vua vĩ đại nhất của nước Phổ. Friedrich đã thể hiện tài năng nhiều mặt về chính trị, quân sự, ngoại giao. Là một nhà chính trị, ông thực hành nền chuyên chế quân chủ tiến bộ, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao sức mạnh tổng hợp của nước Phổ. Là một nhà ngoại giao, ông biết cách khóet sâu mâu thuẫn giữa các cường quốc, tách họ ra hoặc đẩy họ gần nhau nhằm tạo cho nước Phổ một điều kiện phát triển tương đối thuận lợi....Ông ngồi trên ngai vàng trong thời gian kéo dài đến 46 năm. Trong khoảng thời gian này, ông đã mở rộng lãnh thổ lên gấp đôi. Những chính sách về nội chính, ngoại giao và quân sự mà ông đã áp dụng ở nước Phổ sau này có ảnh hưởng rất lớn, đặt nền móng vững chắc cho chủ nghĩa dân tộcchủ nghĩa quân phiệt Phổ."

Không những là nhà bảo trợ khoa học và văn hóa nghệ thuật, Friedrich còn được xem là nhà chính trị kiệt xuất nhất trong thời đại của ông.[288][289] Ý tướng "nhà vua là công bộc của nhân dân", chính sách tự do tôn giáo hay công cuộc cải tổ Chính phủ và Luật pháp Phổ cận đại, v.v... chính là những khía cạnh của một tư tưởng mới về chế độ quân chủ chuyên quyền.[290] Tuy nhiên, Friedrich II không có khả năng phổ biến tư tưởng Khai sáng vào quần chúng nhân dân. Họ vẫn còn dốt nát, nghèo khổ, và cô lập ở miền thôn quê. Do đó, nước Phổ không thể phát triển một bộ luật dân sự vững mạnh trong 10 năm sau khi ông từ giã cõi đời. Trong khi đó, tầng lớp địa chủ - quý tộc Junker vẫn đóng vai trò thống trị trong xã hội phong kiến Phổ,[20] Quốc gia Phổ chỉ đơn thuần là một cỗ máy.[291] Bên cạnh đó, dù được nhiều nhà quân phiệt phát xít khâm phục, và dù tham chiến hai cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên lục địa Âu châu thời bấy giờ, ông quan tâm đến việc xây dựng nước Phổ giàu mạnh bằng đường lối hòa bình, đúng như ông từng gửi thư cho Voltaire:[170]

Năng lực quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Friedrich II tại Berlin.

Friedrich II thường được xem là một nhà cầm quân tài ba.[292] Có được những lời khen ngợi này chủ yếu là do ông thường áp dụng phương pháp đội hình nghieng nổi tiếng[63]. Dù lối đánh này có lẽ đã được vua Ba Tư Cyrus áp dụng trong trận Thymbra vào năm 548 TCN, nhưng Friedrich là người thực hiện thành công nhất nhất của lối đánh này ở thế kỷ thứ XVIII, và cho đến ngày nay tên tuổi của ông vẫn luôn luôn gắn liền với lối đánh này.[293] Nếu trận Kolin (1757) là một thất bại của chiến thuật đội hình nghiêng, trận Leuthen vài tháng sau thường được xem là thắng lợi kinh điển của chiến thuật này.[117][294][295] Không những thế, một yếu tố quan trọng nữa là khả năng chỉ huy các cuộc hành quân của ông, thể hiện qua việc ngăn chặn không cho các kẻ thù của mình tập hợp liên quân lại thành số đông và luôn biết chọn đúng thời điểm và địa điểm để đẩy lùi đối phương khỏi lãnh thổ Phổ. Trong lá thư gửi người mẹ Maria Theresia, Hoàng đế La Mã Thần thánh Joseph II có viết về Friedrich II:


Đài kỷ niệm Friedrich tại Marienburg. Dưới chân tượng đài có các Hiệp sĩ Teuton.

Theo tài liệu "Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới" của Kha Xuân Kiều - Hà Nhân Học, "Ông mạnh dạn áp dụng phương án chủ động ra tay trước để áp đảo đối phương; tập trung binh lực, tiêu diệt dứt điểm từng đối thủ một; ông luôn quán triệt tư tưởng tấn công đến cùng, không bao giờ buông lõng quyền chủ động tấn công".[85] Ngay cả nhà chinh phục nổi tiếng người Pháp Napoléon Bonaparte (1769–1821) đã nghiên cứu về những cuộc chinh phạt của Friedrich. Napoléon cũng công nhận ông là nhà cầm quân đánh hay nhất thời hiện đại[297] và đặt một tượng nhỏ hình vị vua nước Phổ trong phòng riêng của mình.[298][299] Sau khi đánh bại quân đội Phổ vào năm 1807, đích thân Napoléon đã thăm mộ Friedrich II ở Potsdam và tuyên bố các tướng Pháp:

Trong cuộc chiến tranh Bảy năm, Friedrich dẫn dắt quân Phổ giành hai thắng lợi lớn ở Rossbach và Leuthen chỉ trong vòng một tháng, "điều đó thể hiện một cách hùng hồn nghệ thuật chỉ huy siêu việt cũng như kỹ xảo dụng binh nhuần nhuyễn của Friedrich" - theo hai tác giả Kha Xuân Kiều và Hà Nhân Học.[98] Napoléon cho rằng chỉ riêng trận Leuthen cũng đủ cho "tên tuổi của Friedrich lưu danh thiên cổ và đứng vào hàng ngũ các danh tướng vĩ đại nhất trên thế giới"[98]. Bên cạnh đó, nhà sử học quân sự và chính trị người Đức là Hans Delbrück (1848 – 1929) đã phê phán "chiến tranh tiêu hao" trong tác phẩm Die Strategie des Perikles, điều này đồng nghĩa với việc Hans Delbrück xem Friedrich một quân nhân kém phẩm chất.[301] Delbrück cho biết Friedrich và Perikles là những người thực hành tiêu biểu "chiến tranh tiêu hao", một thể loại chiến tranh tốn kém và phung phí.[302]

Friedrich II trong văn hóa cận - hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đức Quốc xã đã làm nhiều bộ phim về Friedrich nhưng không nói về ông như một ông vua triết học thời Khai sáng, mà là người đã đem lại vinh quang cho dân tộc Đức. Năm 1933 họcho ra mắt bộ phim đầu tiên nói về Friedrich: "Der Choral von Leuthen" (Bài thánh ca vùng Leuthen), kể về chiến thắng của Friedrich đánh bại hơn 6 vạn quân Áo trong trận Leuthen.[303].Sau đó, năm 1935, bộ phim "Vị vua già và vị vua trẻ" (Der alte und der junge Konig) được phát hành ở Đức, nói về mối quan hệ giữa Friedrich và vua chaFriedrich Wilhelm I.[304] Năm sau (1936), Johannes Meyer sáng tác phim "Đức Vua Fredericus" xoay quanh cuộc chiến giữa Friedrich và liên minh Ánh-Nga. Nội dung này lại được lặp lại trong phim "Đức Vua vĩ đại" (Der große König) của Veit Harlan, với trọng tâm xoáy vào các trận Leuthen và Kunersdorf.[303]

Tượng Friedrich II tại Sanssouci (thành phố Potsdam).

Trong bộ phim "Der Untergang" (Sự sụp đổ) do Đức sản xuất năm 2004, Adolf Hitler ngồi trong một căn phòng tối và nhìn chằm chằm vào bức tranh vẽ Friedrich II. Có lẽ đoạn phim này chứng tỏ niềm ao ước của nhà độc tài Đức Quốc xã về một phép lạ khác của Nhà Brandenburg. Ít lâu sau đó Adolf Hitler tự sát.

Trong bộ phim Patton sản xuất năm 1970, Tướng Hoa Kỳ George S. Patton đã trích dẫn sai rằng Friedrich II nói: "L'audace, l'audace, toujours l'audace!" ("Táo bạo, táo bạo — thường xuyên táo bạo!").

King of Prussia, Pennsylvania, được theo tên quán King of Prussia. Bản thân quán này cũng được đặt tên là "King of Prussia" (Nhà vua nước Phổ) để tôn vinh Friedrich II.[305]

Đường Phổ Quốc ("Prussia Street") tại thủ đô Dublin, Ireland được theo tên của vua Friedrich II.[306]

Friedrich xuất hiện trong loạt game vi tính Civilization, các game vi tính Age of Empires III, Empire Earth II, Empire: Total War. Ông cũng là nhân vật trong các board game Friedrich và "Soldier Kings" (Những vị vua chiến binh).

Ngoài ra, nhà vua nước Phổ còn là nhân vật chính trong truyện đọc trực tuyến trên Internet (webcomic) Frederick the Great: A Most Lamentable Comedy Breaching Space and Time.

Trong manga Hetalia: Axis Powers, Friedrich II được gọi là "Cụ già Fritz" - ông chủ của nhân vật Gilbert Beillschmidt (Phổ).

Không những thế, ông còn được đề cập đến vài lần trong bộ phim Barry Lyndon do Stanley Kubrick sản xuất năm 1975. Trong phim này, ông được gọi là "vua Frederick vĩ đại và lừng lẫy". Quân đội Phổ dưới triều đại ông vừa được khen ngợi vừa bị chỉ trích. Điều này thể hiện qua một đoạn trích trong phim:


Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Friedrich Wilhelm
Tuyển hầu tước xứ Brandenburg
 
Louise Henriette xứ Orange-Nassau
 
 
Ernest Augustus
Tuyển hầu tước xứ Brunswick-Lüneburg
 
Sophia
Quận chúa vùng Rhine
 
 
George William
Vương công xứ Brunswick-Lüneburg
 
Eleonore d'Esmier d'Olbreuse
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Friedrich I
của Phổ
 
 
 
Sophia Charlotte
xứ Hanover
 
 
 
George I
của Anh
 
 
 
Sophia Dorothea
xứ Celle
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Friedrich Wilhelm I của Phổ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Sophia Dorothea xứ Hanover
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Friedrich II của Phổ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Friedrich II Đại đế là vị vua thứ ba và cuối cùng ở Phổ. Bắt đầu từ năm 1772, ông đã sử dụng vương hiệu là "Đức Vua của Phổ".
  2. ^ Scott, H.M. (ed.), Enlightened Absolutism: Reform and Reformers in Later Eighteenth-Century Europe, (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1990), p. 265ff
  3. ^ C B Brackenbury,C. B. Brackenbury, "Frederick the Great", trang 19
  4. ^ Elizabeth Harriot Hudson, The Life and Times of Louisa, Queen of Prussia - With an Introductory Sketch of Prussian History, Tập 1, trang 90, trang 147: "..victory at Rossbach"
  5. ^ Thẩm Kiên, trang 241
  6. ^ Norwood Young, "The Life of Frederick the Great", trang 14-15
  7. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 21, trang 351, trang 548.
  8. ^ a ă â b Miles E. Campbell, M. W. Campbell, Niles R. Holt, William T. Walker, sách đã dẫn, trang 55
  9. ^ MacDonogh, p. 37
  10. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 242
  11. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 243
  12. ^ MacDonogh, p. 35
  13. ^ Crompton
  14. ^ a ă â b c Thẩm Kiên, trang 244
  15. ^ Reiners, p. 33
  16. ^ Reiners, p. 63
  17. ^ a ă â Robert Aldrich, Garry Wotherspoon, "Who's who in gay and lesbian history: from antiquity to World War II", Tập 1, Routledge, 2002, trang 198
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g Louis Crompton, "Homosexuality & Civilization", trang 504, nguyên văn bài thơ trong trang 505, trang 508, trang 515.
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên duqua
  20. ^ a ă â David W. Del Testa, Florence Lemoine, John Strickland, Government leaders, military rulers, and political activists, trang 64
  21. ^ William Darrach Halsey, Emanuel Friedman, Collier's encyclopedia: with bibliography and index, Volume 10, Macmillan Educational Co., 1984, trang 348
  22. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 245
  23. ^ Reiners, p. 52
  24. ^ a ă Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, các trang xxi-xxii, trang 36.
  25. ^ W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, các trang 42-44.
  26. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên boy
  27. ^ Reiners, p. 69
  28. ^ Reiners, p. 71
  29. ^ Mary Kittredge, Frederick the Great, trang 42
  30. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 246
  31. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 247
  32. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 254
  33. ^ S. Andrews, "Eighteenth Century Europe, the 1680s to 1815", Luân Đôn, Longman, 1965, trang 119
  34. ^ a ă Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 255
  35. ^ MacDonogh, p. 125
  36. ^ Archer Jones, "The art of war in the Western world", University of Illinois Press, 2001, các trang 294-296, trang 304: "Kunersdorf".
  37. ^ Allen Horstman, William H. Burnside, "The Essentials of European History: 1648 to 1789, Bourbon, Baroque, and Enlightenment", trang 8, trang 54.
  38. ^ Elite military formations in war and peace, A. Hamish Ion, Keith Neilson, Greenwood Publishing Group, 1996, trang 18
  39. ^ a ă â LIFE, 22 tháng 11 năm 1943, trang 94. LIFE, 5 Tháng Mười 1942, trang 110.
  40. ^ Minna Regina Falk, "History of Germany: from the Reformation to the present day", Philosophical Library, 1957, trg. 62
  41. ^ a ă R. Van Bergen, The Story of Russia, trang 141
  42. ^ a ă â b c d đ Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 323-324
  43. ^ H. M. Cottinger, Elements of Universal History for Higher Institutes in Republics and for Self-Intruction, trang 199
  44. ^ a ă â Heinrich August Winkler, Alexander Sager, Germany: the long road west, Tập 2, Oxford University Press, 2006, các trang 28-29.
  45. ^ A. Hillard Atteridge, The German Army in War, BiblioBazaar, LLC, 2008, trang 36
  46. ^ Thomas Hammont Cooper, The military cabinet: being a collection of extracts from the best authors, both ancient and modern, Tập 3, trang 276
  47. ^ Museum of foreign literature, science and art, Tập 42, trang 495
  48. ^ M. Evan Brooks, Military history's most wanted: the top 10 book of improbable victories, unlikely heroes, and other martial oddities, trang 10
  49. ^ a ă â b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 1902en500
  50. ^ Peter Hofschröer, Prussian reserve, militia & irregular troops 1806-15, trang 24
  51. ^ René Chartrand, Napoleon's guns, 1792-1815: Field artillery, Tập 1
  52. ^ Jeremy Back, Cambridge illustrated atlas, warfare: Renaissance to revolution, 1492-1792, trang 132, trang 123: "...Charles XII of Sweden"...
  53. ^ a ă Adrian Gilbert, <The encyclopedia of warfare: from earliest time to the present day, trang 113
  54. ^ a ă â b George Jellinek, History through the opera glass: from the rise of Caesar to the fall of Napoleon, trang 255
  55. ^ Marshall Dill, Jr., Germany: A Modern History (1970) p. 39.
  56. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pouwels344
  57. ^ John Scholte Nollen, Prinz Friedrich Von Homburg, trang 1
  58. ^ Koch, A History of Prussia, trang 105.
  59. ^ W. Sanford Ramey, sách đã dẫn, trang 170, trang 234.
  60. ^ a ă â b The new American cyclopaedia: a popular dictionary of general knowledge, Tập 7, các trang 727-728.
  61. ^ George Madison Priest, Germany Since 1740, các trang 12-13, các trang 33-34 về những sự kiện cuối đời vua Friedrich II. Trang 99 về hồi kết của 'dualism'...
  62. ^ a ă Peter N. Stearns, William Leonard Langer, sách đã dẫn, các trang 317-318.
  63. ^ a ă Jeremy Black, Cambridge illustrated atlas, warfare: Renaissance to revolution, 1492-1792, trang 119, trang 126
  64. ^ LIFE, 22 Tháng 4 1940, 22 Tháng 4 1940, Tập 8, Số 17, Mã số ISSN 0024-3019, Xuất bản bởi Time Inc, trang 24
  65. ^ a ă â Frederick II (King of Prussia), Frederick the Great, his court and times, Tập 1, trang VI, các trang 200, 275-276, 327-400.
  66. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 90, các trang 122-129, các trang 139-140.
  67. ^ Arthur Hassall, The Making of the British Empire (A.D. 1714-1832), trang 18
  68. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 250
  69. ^ William Young, German Diplomatic Relations 1871-1945: The Wilhelmstrasse and the Formulation of Foreign Policy, các trang 4-5.
  70. ^ Frederick William Longman, Frederick the Great and the Seven Years' War, các trang 60-61.
  71. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 132-136.
  72. ^ a ă John Keegan, Andrew Wheatcroft, Who's who in military history: from 1453 to the present day, trang 95, trang 102.
  73. ^ All statistics taken from Chandler, The Art of Warfare in the Age of Marlborough, p.306.
  74. ^ a ă â b W. F. Reddaway, "Frederick the Great and the Rise of Prussia", các trang 148-153, trang 274, trang 288, trang 336, trang 344.
  75. ^ a ă Heinrich Von Treitschke, George Haven Putna, Confessions of Frederick the Great and the Life of Frederick the Great, các trang 19-22. Trang 202: "...Moses..."
  76. ^ a ă John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, các trang 371-373.
  77. ^ a ă â b c Christopher Duffy, Frederick the Great: a military life, các trang 74-76, các trang 279-281.
  78. ^ a ă Philip Van Ness Myers, General History for Colleges and High Schools, các trang 399-403.
  79. ^ a ă Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 251
  80. ^ a ă Derek Edward Dawson Beales, Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780, các trang 104-105.
  81. ^ Derek Edward Dawson Beales, Joseph II: In the shadow of Maria Theresa, 1741-1780, trang 117
  82. ^ Walter Alfred Peter Phillips, The tragedy of Nazi Germany, trang 17
  83. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: A Historical Profile, các trang 91-92, trang 95: "...Empress Elizabeth"...
  84. ^ Thẩm Kiên, "10 đại hoàng đế thế giới", trang 258
  85. ^ a ă â b Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 325
  86. ^ Tony. Jaques, Dictionary of Battles and Sieges, Greenwood Publishing Group, trang 800
  87. ^ Gordon Tullock, Autocracy, Springer Science & Business, 1987, trang 50. ISBN 90-247-3398-7
  88. ^ Simon Millar, Adam Hook, Zorndorf 1758: Frederick Faces Holy Mother Russia, trang 11
  89. ^ Szabo, sách đã dẫn, trang 45-46
  90. ^ Monro MacCloskey, The infamous wall of Berlin, trang 19
  91. ^ William Leist Redwin Cates, A dictionary of general biography: with a classified and chronological index of the principal names..., các trang 391-392.
  92. ^ Simon Millar, Adam Hook, Kolin 1757: Frederick the Great's first defeat , trang 31, trang 85.
  93. ^ Perrett, Bryan (1992). The Battle Book. London, England: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-328-2.  p. 240.
  94. ^ Horace Walpole, Letters of Horace Walpole -, Volume 1, trang 119
  95. ^ a ă â Chambers's encyclopaedia: a dictionary of universal knowledge for the..., Tập 8, các trang 636-637.
  96. ^ a ă Dennis E. Showalter, William J. Astore, The early modern world, các trang XIII-XVIII, trang 88.
  97. ^ W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, trang 238, trang 264: "Augustus William"
  98. ^ a ă â b c d Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, các trang 326-330.
  99. ^ George Lillie Craik, Charles MacFarlane, Charles Knight, Harriet Martineau, The pictorial history of England: being a history of the people as well as a history of the kingdom, Tập 4, trang 570
  100. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tranthangzorndorf
  101. ^ Bradley Allen Fiske, The Art of Fighting; Its Evolution and Progress, with Illustrations from Campaigns of Great Commanders, trang 111
  102. ^ J. O. Lindsay, New Cambridge Modern History: The Old Regime, 1713-1763, Cambridge University Press, 1957, các trang 482-484. Trang 472: "Kunersdorf..."
  103. ^ John Childs, Armies and warfare in Europe, 1648-1789, Nhà xuất bản Đại học Manchester ND, 1982, trang 130
  104. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gerhard121
  105. ^ Philip Alexander Prince, Parallel history: being an outline of the history and biography of the world, contemporaneously arranged, Tập 2, trang 512
  106. ^ C B Brackenbury,C. B. Brackenbury, Frederick the Great, các trang 218-223.
  107. ^ George Richard Potter, The New Cambridge modern history: The Renaissance, 1493-1520, trang 477
  108. ^ Stacy Bergstrom Haldi, Why wars widen: a theory of predation and balancing, các trang 31-3.
  109. ^ Angus Konstam, Russian Army of the Seven Years War (2), Osprey Publishing, 1996, các trang 5-6.
  110. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sir
  111. ^ G. A. Henty, With Frederick the Great, trang 375, các trang 13-14: Lời mở đầu
  112. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 527
  113. ^ Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 261
  114. ^ Orville Theodore Murphy, Charles Gravier, Comte de Vergennes: French diplomacy in the age of revolution, 1719-1787, SUNY Press, 1982, trang 136
  115. ^ Hajo Holborn, A History of Modern Germany: 1648-1840, các trang 245-246, trang 248
  116. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich the Second called Frederick the Great, Tập 6, trang 192
  117. ^ a ă â C B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, các trang 241-245. Trang 181: "most perfect illustration of the attack in oblique order"...
  118. ^ Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 7
  119. ^ Russell Frank Weigley, The Age of Battles: The Quest for Decisive Warfare from Breitenfeld to Waterloo, 2004, trang 192
  120. ^ a ă Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, Taylor & Francis, 1978, trang 210-211.
  121. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 228
  122. ^ W. F. Reddaway, Frederick the Great and the Rise of Prussia, trang 298
  123. ^ Martin Windrow, Francis K. Mason, The World's Greatest Military Leaders: 200 Of the Most Significant Names in Land Warfare, from the 10th to 20th Century, trang 81
  124. ^ Jeremy Back, European warfare in a global context, 1660-1815, trang 36
  125. ^ G. W. Prothero, Stanley Leathes, Sir Adolphus William Ward, the cambridge modern history, các trang 299-301.
  126. ^ John Frost, Pictorial modern history: from the discovery of America by Columbus to the present time, trang 248
  127. ^ Joseph Towers, Memoirs of the life and reign of Frederick the Third, King of Prussia, Tập 2, Printed for C. Dilly, 1795, trang 260
  128. ^ a ă â Alice Birkhead, Heroes of Modern Europe, các trang 135-136.
  129. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 242
  130. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 346-347.
  131. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 219
  132. ^ a ă â William Young, German Diplomatic Relations 1871-1945: The Wilhelmstrasse and the Formulation of Foreign Policy], 2006, trang 6
  133. ^ Harper's magazine, Tập 32, Harper's Magazine Co., 1866, trang 25
  134. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 380
  135. ^ Lê Vinh Quốc, Lê Phụng Hoàng, Nguyễn Thị Thư, trang 89
  136. ^ MacDonogh, p. 78
  137. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cambwllpe
  138. ^ Poland, Partitions of. (2008). In Encyclopædia Britannica. Truy cập 28 tháng 4 năm 2008, from Encyclopædia Britannica Online: http://www.britannica.com/eb/article-9060581
  139. ^ a ă Frederick the Great: A Historical Profile Gerhard Ritter trang 180, trang 191. University of California Press, 1975
  140. ^ a ă Jerzy Jan Lerski, Piotr Wróbel, Richard J. Kozicki, Historical dictionary of Poland, 966-1945, Greenwood Publishing Group, 1996, trang 514
  141. ^ Reiners, p.250
  142. ^ a ă â Ritter, p. 192
  143. ^ Charles Arnold-Baker, The companion to British history, Routledge, 2001, trang 1037
  144. ^ a ă â Koch, p. 136
  145. ^ a ă David Blackbourn. "Conquests from Barbarism": Interpreting Land Reclamation in 18th Century Prussia. Harvard University. Truy cập 24 tháng 5 năm 2006.
  146. ^ Vejas G. Liulevicius, "The German myth of the East: 1800 to the present", Oxford University Press, 2009, trang 37
  147. ^ MacDonogh, p. 363
  148. ^ Norbert Finszch and Dietmar Schirmer. Identity and Intolerance: Nationalism, Racism, and Xenophobia in Germany and the United States. Cambridge University Press, 2006. ISBN 0-521-59158-9
  149. ^ a ă â Rosengarten J. G. (Joseph George), J. G., Frederick the Great and the United States: A Paper Read Before the Pennsylania-German Society at Th, trang 4-5
  150. ^ Henry Cabot Lodge, The history of nations, Volume 18, P. F. Collier & son, 1928, trang 345
  151. ^ Society of American Military Engineers, The Military engineer, Tập 23, trang 62, trang 66.
  152. ^ Miecislaus Haiman, Poland and the American revolutionary war, Printed by the Polish Union Daily, 1932, trang 2
  153. ^ Paul W. Schroeder, "The Transformation of European Politics 1763-1848", Oxford University Press, 1996, trang 25
  154. ^ David H. Olivier, "German naval strategy, 1856-1888: forerunners to Tirpitz", Routledge, 2004, trang 42
  155. ^ a ă â Rosengarten J. G. (Joseph George),J. G., Frederick the Great and the United States: A Paper Read Before the..., trang 7, trang 26: "There is no name so highly...", trang 27: "The King of Prussia has formally engaged by a letter from his Minister, who writes in the King s name, that the merchants of North America, who should come with their merchant vessels into the ports of his Majesty to trade there, in merchandise that is not prohibited, should have full liberty".
  156. ^ W. O. Henderson, Studies in the Economic Policy of Frederick the Great, trang 159
  157. ^ Don Higginbotham, George Washington: Uniting a Nation, trang 11
  158. ^ Merriam-Webster, Inc, Merriam-Webster's collegiate encyclopedia, trang 607
  159. ^ David Ewen, Frederic Ewen, Musical Vienna, trang 35, trang 10: "...star..."
  160. ^ a ă Wilhelm Zimmermann, A Popular History of Germany - From the Earliest Period to the Present Day, các trang 1617-1618.
  161. ^ a ă Thẩm Kiên, trang 269
  162. ^ From Utrecht to Waterloo, trang 153
  163. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cori
  164. ^ Theodore Dwight Woolsey, Introduction of the study of international law: designed as an aid in teaching, and in historical studies, C. Scribner, 1864, trang 392
  165. ^ André Corvisier, John Childs, A dictionary of military history and the art of war, trang 107, trang 287.
  166. ^ Henry Wheaton, "History of the law of nations in Europe and America: from the earliest times to the Treaty of Washington, 1842", Gould, Banks, 1845, trang 281-282.
  167. ^ Fürstenbund - Britannica Online Encyclopaedia
  168. ^ Thomas Laurence Kington-Oliphant, Rome and reform, Tập 2, trang 226
  169. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich the Second called Frederick the Great, Tập 6, trang 189, trang 294: "Catin du Nord", trang 495: this is the victory summit of Friedrich's Public History... Friedrich's last feat in the world.....
  170. ^ a ă â b c d đ e ê James, Barry: 200 Years Later, Frederick the Great Still Makes Trouble[liên kết hỏng], International Herald Tribune, ngày 15 tháng 8 năm 1991
  171. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: A Historical Profile, trang 172
  172. ^ David Blackbourn. "Conquests from Barbarism": Interpreting Land Reclamation in 18th Century Prussia. Harvard University. Truy cập 24 tháng 5 năm 2006.
  173. ^ William Otto Henderson, "Marx and Engels and the English workers: and other essays", Routledge, 1989, các trang 159-165.
  174. ^ William Harrison De Puy, "Encyclopaedia Britannica: a dictionary of arts, sciences, and general literature", Volume 9, R.S. Peale, 1891, trang 788
  175. ^ a ă â b c d đ e Frederick II (also known as: Frederick the Great) King of Prussia (1712-86)
  176. ^ Henderson, W.O. (1962) The Berlin Commercial Crisis of 1763. In: The Economic History Review, New Series, Vol. 15, No. 1, pp. 89-102.
  177. ^ Johann Ernst Gotzkowsky (German potter)
  178. ^ Charles Knight, The English Cyclopaedia: Geography, trang 236
  179. ^ W. O. Henderson. Studies in the economic policy of Frederick the Great. Cass. London, 1963.
  180. ^ Charles Knight (biên tập), The English cyclopædia: a new dictionary of universal knowledge, Tập 2, trang 1018
  181. ^ Jonathan Randall White, The Prussian Army, 1640-1871, trang 168
  182. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên duiker1
  183. ^ a ă Jackson J. Spielvogel, "Western Civilization: Volume B: 1300 to 1815", Tập 1.
  184. ^ a ă William Young, sách đã dẫn, trang 27
  185. ^ Brendan Simms, sách đã dẫn, trang 49
  186. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên meisisneri
  187. ^ a ă â Joseph Thomas, The Universal Dictionary of Biography and Mythology, trang cclxxxvii
  188. ^ Karl W. Schweizer, "England, Prussia, and the Seven Years War: studies in alliance policies and diplomacy", Edwin Mellen Press, 1989, trang 119. Sách này cho rằng Giáo sư R. Lodge đã không đọc được thư từ giữa Quốc vương và Thủ tướng nước Phổ.
  189. ^ a ă â Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, Roudlege, trang 148
  190. ^ a ă â b Paul Hyland, Olga Gomez, Francesca Greensides, The Enlightenment: a sourcebook and reader, Routledge, 2003, trang 63, trang 112
  191. ^ a ă â b c Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 253-259.
  192. ^ Edward Peters, "Torture", University of Pennsylvania Press, 1996, trang 90
  193. ^ Frederic M. Scherer, Quarter notes and bank notes: the economics of music composition in the eighteenth and nineteenth centuries, trang 24
  194. ^ Marcus G. Raskin, Liberalism: the genius of American ideals, trang 103
  195. ^ Ellwood P. Cubberley, The History Of Education, Kessinger Publishing, 2004, trang 297
  196. ^ Trường Đại Học Kỹ thuật BERLIN
  197. ^ a ă Clark, Iron Kingdom ch 7
  198. ^ a ă Cracking the AP European History Exam, 2004-2005 Edition, trang 103
  199. ^ a ă Marvin Perry, Myrna Chase, Margaret C. Jacob, James R. Jacob, Western Civilization: Ideas, Politics, and Society, trang 443
  200. ^ George Peabody Gooch, Germany and the French Revolution, Tập 1, trang 6
  201. ^ Helen Watanabe-O'Kelly, Anne Simon, "Festivals and ceremonies: a bibliography of works relating to court, civic, and religious festivals in Europe 1500-1800", Mansell, 2000, trang 37
  202. ^ Geoffrey Russell Richards Treasure, The making of modern Europe, 1648-1780, trang 449-451
  203. ^ Popular encyclopedia, The popular encyclopedia; or, 'Conversations Lexicon': [ed. by A. Whitelaw from the Encyclopedia Americana]., trang 318
  204. ^ Graham Bird, A Companion to Kant, John Wiley and Sons, 2009, trang 244
  205. ^ Sarolea Charles, German Problems and Personalities, trang 208
  206. ^ a ă Albert Henry Newman, A Manual of Church History, trang 534
  207. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, trang 189, trang 192.
  208. ^ Brian Nogay, "God Doesn't Have a Trophy Case", Xulon Press, 2006, trang 57
  209. ^ Positive Atheism's Big List of Quotations
  210. ^ Nadia Valman, Tony Kushner, Philosemitism, antisemitism and 'the Jews': perspectives from the middle ages to the twentieth century, trang 195
  211. ^ MacDonogh, p. 347
  212. ^ Stern, p. 19
  213. ^ Robert B. Asprey, "Frederick the Great: the magnificent enigma", trang 349, trang 558.
  214. ^ Peter Levine, Nietzsche and the modern crisis of the humanities, SUNY Press, 1995, trang 5
  215. ^ George Peabody Gooch, "Frederick the Great: the ruler, the writer, the man", Marboro Books, 1990, trang 31. Nguyên văn: "In the words of Voltaire, it was Sparta in the morning, Athena in the afternoon".
  216. ^ Nancy Bachus, Daniel Glover, The Classical Piano: The Influence of Society, Style and Musical Trends on the Great Piano Composers, Book & 2 CDs, Alfred Music Publishing, 2006, trang 22
  217. ^ Michael O'Loghlin, Frederick the Great and his musicians: the viola da gamba music of the Berlin school, trang 32
  218. ^ Christopher Duffy, The army of Frederick the Great, trang 141
  219. ^ Deborah Sadie Hertz, Jewish high society in Old Regime Berlin, trang 79
  220. ^ Giacomo Casanova, "History of my life", Tập 9-10, JHU Press, 1997, trang 541
  221. ^ a ă Bisbee, Look Homeward, Demon: A 1986 Prediction of Sars and Other Events., trang 38
  222. ^ Daniel N. Robinson, An intellectual history of psychology, Univ of Wisconsin Press, 1995 - Psychology, trang 261
  223. ^ Werner Hegemann, Napoleon: or, "Prostration before the hero", A.A. Knopf, 1931, trang 85
  224. ^ Georg Morris Cohen Brandes, "Voltaire", Ungar Pub. Co., 1964, trang 135
  225. ^ Louis Crompton, sách đã dẫn, trang 516
  226. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên vonte
  227. ^ a ă â b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên postdam52
  228. ^ M.H. Syed, Encyclopaedia of Modern Journalism and Mass Media, Anmol Publications PVT. LTD., 2005, trang 223
  229. ^ Leonhard Euler - Tạp chí hoạt động khoa học
  230. ^ Leonhard Euler - nhà toán học kiệt xuất. Bản in Đại học Quốc gia Hà Nội]
  231. ^ a ă Emil Ludwig, The Germans: Double History of a Nation, trang 203
  232. ^ Columbia Encyclopedia, 6th ed., 2005, "Lagrange, Joseph Louis."
  233. ^ Thomas Koshy, "Discrete mathematics with applications", Academic Press, 2004, trang 159
  234. ^ a ă â Norwood Young, The Life of Frederick the Great, các trang 369-370, trang 411.
  235. ^ Carl Brinitzer, German Versus Hun, READ BOOKS, 2006, trang 84
  236. ^ John S. C. Abbott, History of Frederick the Second, Called Frederick the Great, các trang 532-540, trang 568, trang 572: "After having restored peace to my kingdom..."
  237. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sandler295
  238. ^ Daniel R. Melamed, Bach Studies 2, Cambridge University Press, 2006, trang 89
  239. ^ a ă Ellen Judy Wilson, Peter Hanns Reill, Encyclopedia of the Enlightenment, trang 52
  240. ^ MacDonogh, p. 370
  241. ^ Saïd Amir Arjomand, Edward A. Tiryakian, Rethinking civilizational analysis, SAGE, 2004, trang 76
  242. ^ a ă Friedrich Meinecke, "The Age of German Liberation, 1795-1815", tr. 5
  243. ^ George E. Berkley, Jews, Branden Books, 1997, trang 150
  244. ^ Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, trang 204
  245. ^ Paul G. Partington, Who's who on the postage stamps of Eastern Europe, Scarecrow Press, 1979, trang 393
  246. ^ Leonard A. Montefiore, Essays and Letters, BiblioBazaar, LLC, 2008, trang 230. ISBN 0-559-45964-5.
  247. ^ Koch, p. 138
  248. ^ David Watkin, Tilman Mellinghoff, German architecture and the classical ideal, MIT Press, 1987, trang 19
  249. ^ Chinesisches Haus (Chinese House) - Oekonomieweg / Park Sanssouci
  250. ^ George Steinmetz, "The devil's handwriting: precoloniality and the German colonial state in Qingdao, Samoa, and Southwest Africa", University of Chicago Press, 2007, trang 383
  251. ^ a ă Michael Camille, Adrian Rifkin, "Other objects of desire: collectors and collecting queerly", Wiley-Blackwell, 2001, trang 81
  252. ^ W D Howells, "Their Silver Wedding Journey", BiblioBazaar, LLC, 2009, trang 311
  253. ^ Alan R. Rushton, Royal Maladies: Inherited Diseases in the Royal Houses of Europe, các trang 134-136.
  254. ^ Mitford, Reiners, Steakley, Henderson
  255. ^ Louis Crompton, Homosexuality & Civilization, trang 507
  256. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ReferenceA
  257. ^ L. Reiners, Frederick the Great, New York, 1960
  258. ^ James J. Sheehan, "German history, 1770-1866", Oxford University Press US, 1993, tr. 292
  259. ^ a ă Thẩm Kiên, 10 đại hoàng đế thế giới, trang 252
  260. ^ Thẩm Kiên, trang 253
  261. ^ J.D. Steakley, Sodomy in Enlightenment Prussia, Journal of Homosexuality, 16, 1/2 (1988): 163-175
  262. ^ Press Company Frontier Press Company, Masters of Achievement: The World's Greatest Leaders in Literature, Art, Religion, Philosophy, Science, Politics and Industry Part One, các trang 64-65.
  263. ^ S. G. Tallentyre, The Life of Voltaire, Volume 1, READ BOOKS, 2008, các trang 144-160, Volume 2.
  264. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên dokigae
  265. ^ Candide: Francois Voltaire Biography
  266. ^ a ă Voltaire, Candide, Wildside Press LLC, 2007, trang 13
  267. ^ Armstrong Starkey, War in the Age of Enlightenment, 1700-1789, các trang 3-4: "...gave him the gout..", trang 47
  268. ^ S.W. Henderson, Frederick the Great of Prussia: A Homophile Perspective, Gai Saber,1,1 (1977): 46-54.
  269. ^ Louis Crompton, sách đã dẫn, nguyên văn trang 516: "...when His Majesty was dressed and booted, the Stoic gave some moments to the sect of Epicurus; he had two or three favorites come, either lieutenants of his regiment, or pages, or haidouks, or young cadets. They took coffee. He to whom the handkerchief was thrown stayed another quarter of an hour in privacy."
  270. ^ Isaac Kimber, Edward Kimber, The London magazine, or, Gentleman's monthly intelligencer, Tập 2-3, Printed for R. Baldwin, 1784, tr. 30
  271. ^ Mes souvenirs de vingt ans de séjour à Berlin, Paris, 1804,.5 vol.
  272. ^ Snyder, trang 132-136
  273. ^ Clark, p. 188
  274. ^ John Holmes Agnew, Walter Hilliard Bidwell, The Eclectic magazine: foreign literature, Tập 38, các trang 551-552.
  275. ^ Ritter, sách đã dẫn, trang 200
  276. ^ A. H. Trapman, The Dog: Man's Best Friend. a Book for All Dog Lovers, READ BOOKS, 2002, trang 70
  277. ^ MacDonogh, sách đã dẫn, trang 366
  278. ^ Hendrik Willem van Loon, "The Story of Mankind", trang 269
  279. ^ Roy Porter, Mikuláš Teich, "Romanticism in national context", Cambridge University Press, 1988, trang 142
  280. ^ Albert Bernhardt Faust, "Oberon: a poetical romance in twelve books", F.S. Crofts & co., 1940, trang IVIII
  281. ^ Charles Knight (biên tập), The English cyclopædia: a new dictionary of universal knowledge, Tập 2, trang 1022
  282. ^ Price Collier, "Germany and the Germans from an American Point of Viewz", 2007, trang 24
  283. ^ The Case of the Distinguised Corpses, Will Lang, Life Magazine, Mar 6, 1950
  284. ^ Nazi Plunder: Great Treasure Stories of World War II, Kenneth D. Alford, 2000, De Capo Press, page 101
  285. ^ Người Đức kỷ niệm ngày bức tường Berlin sụp đổ
  286. ^ Kunst- und Ausstellungshalle der Bundesrepublik Deutschland: Filmreihe: Schätze der Welt – Erbe der Menschheit, p. 11 (German, PDF)
  287. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên kha320
  288. ^ Ethelbert Ma1/4ller, "Donaustauf and Walhalla", BiblioBazaar, LLC, 2008, tr. 64
  289. ^ American Historical Association, National Board for Historical Service, National Council for the Social Studies, "Historical outlook: a journal for readers, students and teachers of history", Volume 9, McKinley Publishing Company, 1918 - Social Science, trang 457
  290. ^ W. O. Henderson, Studies in the Economic Policy of Frederick the Great, trang ix
  291. ^ George Peabody Gooch, History and Historians in the Nineteenth Century, General Books LLC, 2009, trang 111
  292. ^ Robin Cross, Warfare: A Chronological History, Wellfleet Press, 1991, trang 144: FREDERICK II OF PRUSSIA (Frederick the Great) was undisputedly the greatest commander of his generation...
  293. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Jayluvva
  294. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên oggw
  295. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên russel437
  296. ^ Reiners, trang 247-248
  297. ^ Koch, p. 126
  298. ^ Christopher M. Clark, "Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947", tr. 307
  299. ^ Owen Connelly, On War and Leadership: The Words of Combat Commanders from Frederick the Great to Norman Schwarzkopf, trang 11
  300. ^ Koch, p. 160
  301. ^ Kelly Boyd, "Encyclopedia of historians and historical writing", Tập 1, Taylor & Francis, 1999, tr. 295
  302. ^ William C. Martel, "Victory in war: foundations of modern military policy", Cambridge University Press, 2007, trang 48
  303. ^ a ă Jeffrey Richards, Visions of yesterday, Routledge, 1973, các trang 312-313.
  304. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 660
  305. ^ "Historic Reeseville, Early King of Prussia, Pennsylvania". Truy cập 24 tháng 5 năm 2006.
  306. ^ Irish-architecture.com[liên kết hỏng]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

, Musical Vienna, Whittlesey House, McGraw-Hill, 1939.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]