George III của Liên hiệp Anh và Ireland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ George III của Anh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
George III
Allan Ramsay - King George III in coronation robes - Google Art Project.jpg
Chân dung được vẽ bởi Allan Ramsay, 1762
Vua của Anh và Ireland
Tuyển hầu tước tiếp đó là Vua của Hannover(more...)
Tại vị 25 tháng 10 năm 1760
29 tháng 1 năm 1820
Đăng quang 22 tháng 9 năm 1761
Tiền nhiệm George II
Nhiếp chính George, Hoàng tử Nhiếp chính (1811–20)
Kế nhiệm George IV
Thủ tướng
Thông tin chung
Hậu duệ George IV của Anh
Hoàng tử Frederick, Công tước xứ York
William IV của Anh
Charlotte, Công chúa Hoàng gia, Hoàng hậu Württemberg
Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn
Công chúa Augusta Sophia
Công chúa Elizabeth, Lãnh chúa Hesse-Homburg
Ernest Augustus I của Hannover
Hoàng tử Augustus Frederick, Công tước xứ Sussex
Hoàng tử Adolphus, Công tước xứ Cambridge
Công chúa Mary, Công nương xứ Gloucester
Công chúa Sophia
Hoàng tử Octavius
Hoàng tử Alfred
Công chúa Amelia
Hoàng tộc Nhà Hannover
Hoàng gia ca God Save the King
Thân phụ Frederick, Hoàng tử xứ Wales
Thân mẫu Augusta của Saxe-Gotha
Sinh 4 tháng 6 năm 1738 [N.S.][a]
Norfolk House, Quảng trường St. James, Luân Đôn, Anh
Mất 29 tháng 1 năm 1820
Lâu đài Windsor, Windsor, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland
An táng 16 tháng 2 năm 1820St George's Chapel, Lâu đài Windsor
Chữ ký của George III

George III (tên thật: George William Frederick; 4 tháng 6, 1738[a]29 tháng 1, 1820) là Vua của AnhIreland từ 25 tháng 10, 1760 đến ngày kí kết Đạo luật sáp nhập hai quốc gia năm 1800 vào 1 tháng 1, 1801, sau đó ông là Vua của Nước Anh thống nhất đến khi qua đời. Ngoài ra ông còn Công tước và Vương công - Tuyển hầu của Braunschweig-Lüneburg ("Hannover") trong Thánh chế La Mã cho tới khi được phong làm Vua của Hannover ngày 12 tháng 10 năm 1814. Ông là vị vua Anh thứ 3 thuộc Nhà Hannover, nhưng không như hai người tiền nhiệm, ông được sinh ra ở Anh, nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ,[1] và không bao giờ đến thăm Hannover.[2]

Cuộc đời và thời gian cai trị của ông dài hơn bất kì người tiền nhiệm nào, và đã được đánh dấu bởi một loạt các xung đột quân sự liên quan đến vương quốc Anh, nhiều vùng lãnh thổ khác tại châu Âu và lan đến cả châu Phi, châu Mỹchâu Á. Đầu triều George III, nước Anh đánh bại nước Pháp trong chiến tranh Bảy năm và vươn lên địa vị đế quốc châu Âu nắm quyền thống trị Bắc MỹẤn Độ. Tuy nhiên nhiều thuộc địa của Anh tại Bắc Mỹ đã li khai sau Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ. Sau đó quân Anh tham gia cuộc chiến chống lại Cách mạng Phápquân đội Napoleon từ năm 1793 cho đến thất bại của Napoleon tại trận Waterloo năm 1815.

Trong giai đoạn cuối của cuộc đời, tâm bệnh của George III tái phát, cuối cùng thì ông bị bệnh tâm thần vĩnh viễn. Mặc dù có suy đoán cho rằng ông mắc phải chứng porphyria, tuy nhiên đến nay vẫn chưa chính thức xác định nguyên nhân căn bệnh của ông. Cuối cùng vào năm 1810, Đạo luật nhiếp chính đã được thông qua, và con trai trưởng của nhà vua, George, Hoàng tử xứ Wales, cai trị với danh hiệu Hoàng tử Nhiếp chính. Sau cái chết của George III, Hoàng tử nhiếp chính nối ngôi cha và trở thành vua George IV.

Các phân tích lịch sử về cuộc đời của George III qua các giai đoạn là "kính vạn hoa của sự thay đổi nhận xét" ("kaleidoscope of changing views") phụ thuộc nhiều vào những định kiến của người viết tiểu sử và những nguồn tài liệu mà họ có được[3] Đến khi người ta đánh giá lại thành quả của ông vào nửa cuối thế kỉ XIX, thì ông bị xem như là một quân vương bạo chúa ở Hoa Kỳ và ở Anh ông là "vật tế thần cho sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc".[4].

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Mô tả ngắn: Ayscough mặc trang phục màu đen với cổ áo giáo sĩ bên cạnh một chiếc ghế trường kỉ có hai cậu bé ngồi, một mặc trang phục màu xám còn cậu bé còn lại mặc đồ xanh. Ông đang cầm một xấp tài liệu, còn hai cậu bé cầm một quyển sách.
George (bên phải) cùng em trai của ông Hoàng tử Edward, Công tước xứ York và Albany, và gia sư của họ, Francis Ayscough, về sau là Trưởng Tu viện Bristol, c. 1749

George chào đời ở kinh thành Luân Đôn, cụ thể là Norfolk House. Ông là cháu đích tôn của vua George II, và con trai trưởng của Frederick, Hoàng tử xứ Wales, với Augusta của Saxe-Gotha. Hoàng tử George, trong hai tháng đầu đời rất yếu ớt đến nỗi người ta cho rằng ông khó có thể tiếp tục sống, ông được rửa tội trong cùng ngày bởi Thomas Secker, Hiệu trưởng của trường St James's và là Giám mục của Oxford.[5]

Pastel Tranh vẽ George khi còn là Hoàng tử xứ Wales bởi Jean-Étienne Liotard, 1754.

Một tháng sau, ông được rửa tội một lần nữa tại Norfolk House, cũng bởi Secker. Những người đỡ đầu của ông bao gồm Vua của Thụy Điển (thông qua đại diện là Lord Baltimore), cậu của ông, Công tước Saxe-Gotha (thông qua đại diện là Lord Carnarvon) và bà cô Hoàng hậu Sophia cuar Phổ quốc (thông qua đại diện là Lady Charlotte Edwin).[6]

George lớn lên một cách khỏe mạnh nhưng là một đứa trẻ và nhút nhát. Gia đình ông đã chuyển đến Quảng trường Leicester, nơi George và em trai ông Hoàng tử Edward, Công tước xứ York và Albany, được đi giáo dục bởi cùng một gia sư. Những thư từ trong gia đình cho thấy rằng ông có thể đọc và viết tiếng Anh lẫn tiếng Đức, cũng như bình luận về các sự kiện chính trị đương thời, khi vừa mới lên 8.[7] Ông là vị vua Anh đầu tiên được giáo dục khoa học một cách có hệ thống. Ngoài Vật lýHóa học, trong chương trình giảng dạy dành cho hoàng tử còn có Thiên văn học, Toán học, tiếng Pháp, tiếng Latin, Lịch sử, Âm nhạc, Địa lý, Thương mại, Nông nghiệp và Hiến pháp, cùng với đó là các môn thể thao và một số thứ nghiêng về xã hội như khiêu vũ, đánh kiếm, cưỡi ngựa... Tôn giáo mà ông được hướng đến là Anh giáo.[8].

Ông nội của George, Vua George II, mâu thuẫn với Hoàng tử xứ Wales và không mấy quan tâm đến người cháu trưởng. Tuy nhiên vào năm 1751 khi Hoàng tử xứ Wales đột ngột qua đời vì áp xe phổi, George đã trở thành người đứng đầu danh sách thừa kế ngai vàng. Ông thừa kế danh hiệu của phụ thân và trở thành Công tước xứ Edinburgh. Từ bấy giờ nhà vua quan tâm nhiều hơn đến cháu nội mình; ba tuần sau ông phong George làm Hoàng tử xứ Wales[9] (danh hiệu dành cho người thừa kế nam, không tự động truyền lại).

Vào mùa xuân năm 1756, gần đến ngày sinh nhật thứ 18 của George, nhà vua ban cho ông nơi ở tại Cung điện St James, song George từ chối theo lời khuyên của mẫu thân và người bạn thân của ông, Lord Bute, người về sau trở thành Thủ tướng.[10] Mẹ của George, bấy giờ là Góa phụ công nương xứ Wales, muốn giữ George thường xuyên ở nhà, nơi và có thể giáo dục con trai bằng những chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt.[11][12]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1759, George say mê Lady Sarah Lennox, chị của Công tước Richmond, nhưng Lord Bute lại phản đối chuyện này và George buộc phải thay đổi quyết tâm kết hôn với người mình yêu. "Tôi được sinh ra vì sự hạnh phúc hoặc là đau khổ của một quốc gia," ông viết "và vì vậy thường phải hành động trái với đam mê của tôi."[13]. Tuy nhiên, dự định của nhà vua về cuộc hôn nhân của George với Công chúa Sophie Caroline của Brunswick-Wolfenbüttel bị phản đối bởi ông và Góa phụ công nương xứ Wales;[14] Thay vào đó Sophie kết hôn với Bá tước Bayreuth.[15]

Năm sau, khi bước sang tuổi 22, George đăng quang ngôi vua khi ông nội của ông, George II đột ngột qua đời vào ngày 25 tháng 10, 1760, hai tuần trước sinh nhật lần thứ 77 của mình. Cuộc tìm kiếm cho tân vương một người vợ thích hợp được tiến hành khẩn trương. Ngày 8 tháng 9 năm 1761 tại Nhà nguyện Hoàng gial, Cung điện St James, Nhà vua kết hôn cùng công chúa Charlotte của Mecklenburg-Strelitz, người mà ông chỉ được gặp lần đầu vào ngay ngày cưới.[b]. Mấy tuần sau, cả hai được cử hành lễ gia miện tại Tu viện Westminster. George được ca ngợi vì không có bất kì tình nhân nào bên ngoài (trái ngược hẳn với ông nộicon trai ông), và cặp vợ chồng đã có một cuộc hôn nhân rất là hạnh phúc.[1][17] Họ có với nhau 15 đứa con: 9 trai 6 gái. Năm 1762, George mua lại Buckingham House (ở nơi mà nay gọi là Cung điện Buckingham) sử dụng như một nơi riêng tư cho gia đình ông.[18] Những nơi ở khác của ông bao gồm KewLâu đài Windsor. Cung điện St James Palace được giữ lại để chính thức sử dụng. Ông không đi du lịch nhiều nơi, và giành phần lớn cuộc đời mình ở miền nam đảo Anh. Trong những năm 1790, nhà vua và gia đình ông đã có một kì nghỉ lễ tại Weymouth, Dorset,[19] và nơi đây trở thành một trong những khu nghỉ mát đầu tiên tại Anh.[20]

Thời kì đầu cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Nước Anh trong Chiến tranh Bảy năm

George, trong bài phát biểu đầu tiên trước Quốc hội, đã tuyên bố: "Chào đời và được giáo dục tại đất nước này, Quả nhân cảm thấy vinh dự với cái tên Anh quốc".[21] Ông đưa những cụm từ này vào bài nói, được soạn thảo bởi Lord Hardwicke, nhằm để chứng tỏ mong muốn giữ khoảng cách với các tằng tổ phụ và tổ phụ, những vị vua được cho là quan tâm đến Hannover nhiều hơn là Anh quốc.[22]

Mặc dù việc đăng cơ của nhà vua ban đầu được chào đón bởi tất cả tất cả các chính khách của các đảng,[c] những năm đầu triều George III được đánh dấu bởi những bất ổn về chính trị, chủ yếu là do nguyên nhân từ sự bất đồng ý kiến giữa các phe trong quyết sách đối ngoại thời Chiến tranh Bảy năm.[24] George được coi là ủng hộ Đảng Tory, dẫn đến việc các thành viên Đảng Whigs chê trách ông là một vị vua chuyên quyền.[1] Khi ông lên ngôi, đất đai của hoàng gia thu được khá ít lợi tức bằng sản xuất, hầu hết doanh thu có được là do các loại thuế đặc biệt. George giao lại Động sản hoàng gia cho Quốc hội kiểm soái để đổi lấy một khoản tiền mỗi năm trợ cấp cho Hoàng gia và trang trải những chi phí cho chính phủ dân sự.[25] Có lời xác nhận rằng nhà vua đã đem số tiền ấy trao cho những người ủng hộ như món quà biếu xén và hối lộ[26] và vấn đề này đang bị các sử gia tuyên bố rằng: "còn lại trên không có gì nhưng sai lầm là bởi sự phản đối bất mãn".[27] Các khoản nợ lên tới £3  triệu trong suốt triều George III đã được Nghị viện chi trả, và tiền chu cấp cho Hoàng gia tăng lên theo từng năm.[28] Ông ủng hộ Viện Nghệ thuận Hoàng gia bằng các khoản tài trợ lớn rút ra từ tiền túi của ông,[29] và có thể ông đã quyên góp hơn một nửa tiền thu nhập cá nhân để làm từ thiện.[30] Trong bộ sưu tập của ông, có hai món hàng đáng chú ý là Johannes Vermeer Lady at the Virginals của Johannes Vermeer và một bộ Canaletto, nhưng đáng chú ý nhất vẫn là một bộ sưu tập sách của ông.[31] Thư viện của nhà vua được mở và các học giả được phép vào thăm. Đó là nền tảng của thư viện quốc gia kiểu mới.[32]

Tranh George III vẽ Allan Ramsay, 1762.

Tháng 5 năm 1762, chính phủ đương nhiệm đảng Whig do Công tước Newcastle lãnh đạo đã được thay thế bằng chính phủ được lãnh đạo bởi chính khách người Scotland, đảng Tory Lord Bute. Đối thủ của Bute đã hoạt động cực lực để chống lại ông ta bằng cách tuyên truyền vu khống rằng ông có quan hệ mờ ám với thân mẫu nhà vua, và khai thác định kiến kì thị người Scot của người Anh.[33] John Wilkes, một thành viên trong Nghị viện, đã xuất bản cuối The North Briton, nội dung chính là lên án và phỉ báng sự có mặc của Bute trong chính phủ. Wilkes cuối cùng bị bắt vì tội dấy loạn phỉ báng nhưng ông ta đã chạy sang Pháp để trốn tội, ông bị kết tội vắng mặt bởi Tòa án Hoàng gia với các tội báng bổ và bôi nhọ.[34] Năm 1763, sau khi kí kết Hiệp định hòa bình ở Paris nhằm kết thúc chiến tranh, Lord Bute từ chức, và đảng Whig giành lại quyền lực với Thủ tướng mới George Grenville.

Cuối năm đó, the Tuyên cáo Hoàng gia đặt ra một giới hạn về sự mở rộng về phía tây các thuộc địa ở châu Mỹ. Tuyên ngôn nhấn mạnh việc chuyển hướng mở rộng thuộc địa lên phía bắc (tới Nova Scotia) và xuống phía nam (Florida). Tuyên ngôn không nói nhiều đến đa số nông dân định cư trên đất Mỹ, nhưng nó đã khiến cho một bộ phận nhỏ quần chúng không hài lòng, trở thành một trong những mầm mống xung đột và người dân 13 thuộc địa Mỹ với chính phủ Đại Anh.[35] Với việc người dân Mỹ phải nộp nhiều lô thuế cho chính quốc, chính phủ Anh nghĩ rằng như vậy là thích hợp để đảm bảo không có các cuộc nổi dậy của người dân thuộc địa, và có chi phí chống trả các cuộc tấn công của người Pháp.[d] Vấn đề ở đây không phải số tiền thuế là bao nhiêu, mà là liệu người Mỹ có chấp thuận hay không, khi mà trong Nghị viện không có một ghế nào dành cho người Mỹ.[38] Người Mỹ phản đối, họ cho rằng giống như tất cả người Anh, họ có quyền "không đánh thuế nếu không có người đại diện". Năm 1765, Grenville đề xuất Đạo luật tem, theo đó sẽ ấn định lệ phí chứng từ trên mọi tài liệu trong các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ. Kể từ khi báo được in trên những mẫu giấy có dán tem, những nhà tư sản bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự ra đời của thứ thuế này, bắt đầu tuyên truyền việc chống thuế.[39] Trong khi đó, nhà vua trở nên bực tức với những chính sách của Grenville khi giảm bớt đặc quyền của quốc vương, và cố gắng nhưng không thành công khi thuyết phục William Pitt Già đồng ý nhận chức vụ Thủ tướng.[40] Sau một thời gian ngắn bị bệnh, có thể đã được dự đoán trước thời gian bệnh, George chọn Lord Rockingham thành lập chính phủ mới, và sa thải Grenville.[41]

Lord Rockingham, với sự đồng thuận của Pitt và nhà vua, bãi bỏ Đạo luật tem vốn không được số đông quần chúng tán thành, nhưng chính phủ của ông quá yếu kém và bị thay thế vào năm 1766 bởi Pitt, người được George phong làm Bá tước Chatham. Những hành động của Lord Chatham và George III bao gồm bãi bỏ Đạo luật rất được ưa chuộng ở Mỹ và bức tượng của hai người được dựng nên ở thành phố New York.[42] Lord Chatham bị bệnh vào năm 1767Công tước xứ Grafton lãnh đạo chính phủ, mặc dù ông ta không được phong làm Thủ tướng cho tới năm 1768. Năm đó, John Wilkes trở lại Anh, ra tranh cử vào Quốc hội; và dẫn đầu về số phiếu bầu ở Khu vực bầu cử Middlesex. Wilkes một lần nữa bị Quốc hội trục xuất. Sau đó Wilkes lại được bầu và hai lần nữa bị trục xuất, trước khi Hạ viện tuyên bố ông không có tư cách ứng cử và chiến thắng thuộc về người đứng thứ 2.[43] Chính phủ của Grafton giải thể năm 1770, cho phép đảng Tory dưới sử lãnh đạo của Lord North trở lại nắm quyền.[44]

Ba phần tư chiều dài của bức tranh miêu tả ông như một người đàn ông mày râu nhẵn nhụi, một khuôn mặt thịt, lông mày trắng và một mớ tóc giả.
Tranh vẽ bởi Johann Zoffany, 1771

George là một người vô cùng sùng đạo và dành nhiều thời gian để cầu nguyện,[45] nhưng lòng mộ đạo của ông không được anh em ông học theo. George cảm thấy kinh hoàng bởi những gì ông gọi là "nhân cách buông thả" của anh em mình. Năm 1770, em trai nhà vua, Hoàng tử Henry, Công tước xứ Cumberland và Strathearn, bị vạch trần có quan hệ lén lút với một phụ nữ đã có chồng. Năm sau, Cumberland kết hôn với một góa phụ trẻ, Anne Horton. Nhà vua cho rằng Công nương không phù hợp để trở thành một thành viên hoàng gia; bà đến từ một đẳng cấp quá thấp. George nhấn mạnh rằng nên có một đạo luật mới, cấm các thành viên trong hoàng gia kết hôn mà không có sự đồng ý của Quốc vương. Dự luật này không được sự ủng hộ trong Quốc hội, bao gồm cả những Bộ trưởng của George, song Đạo luật Hôn nhân hoàng gia 1772 đã được thông qua. Không bao lâu sau đó, một người em trai khác của nhà vua, Hoàng tử William Henry, Công tước xứ Gloucester và Edinburgh, thú nhận rằng ông có bí mật kết hôn với Maria, Nữ Bá tước Waldegrave, con ngoài giá thú của Sir Edward Walpole. Các tin tức khẳng định quan điểm của George rằng ông đã đúng khi ban hành đạo luật: Maria có liên hệ với những đối thủ chính trị của ông. Công nương đã không được hoàng gia thừa nhận.[46]

Chính phủ của Lord North rất lo lắng về sự bất mãn của người dân 13 thuộc địa. Để xoa dịu dư luận, phần lớn các thứ thuế đã bị bãi bỏ, trừ thuế trà ra; điều mà George gọi là "một thứ thuế cần để duy trì điều đúng đắn (đánh thuế)".[47] Năm 1773, tàu chở trà của người Anh neo tại Cảng Boston đã bị người dân thuộc địa đánh cướp và ném hết trà xuống biển; sự kiện này gọi là Tiệc trà Boston. Ở Anh, chính phủ bày tỏ thái độ cứng rắn, và Chatham đồng ý với North vụ cướp trà là "tội danh chắc chắn".[48] Với sự ủng hộ tích cực từ Nghị viện, Lord North ban hành các biện pháp mới, gọi là, which were called the Đạo luật Không thể chấp nhận, cảng Boston bị đóng cửa và đặc quyền tiểu bang Massachusetts đã được thay đổi khi những người đứng đầu cơ quan lập pháp sẽ được chỉ định bởi nhà vua thay vì Hạ viện.[49] Tính đến thời điểm đó, theo ý kiến của Giáo sư Peter Thomas, "niềm hy vọng của Thánh thượng được tập trung vào một giải pháp chính trị, và Ngài luôn luôn chấp thuận các ý kiến từ nội các ngay cả khi hoài nghi về thành công của chúng". Các bằng chứng chi tiết vào những năm 1763-1775 có xu hướng giải tội cho George III về tội ác thực sự đối với Cách mạng Mỹ."[50] Mặc dù người Mỹ vẫn xem ông như một quân vương bạo chúa, nhưng trong những năm đó, ông đã hành động như một vị vua lập hiến khi chỉ ủng hộ các chính sách từ các bộ trưởng.[51]

Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ là đỉnh điểm của xung đột chính trị và Trào lưu khai sáng ở Mỹ. Mang trong đầu sự bất mãn vì người Mỹ không có được một ghế nào trong quốc hội, họ xem đó là minh chứng cho sự phủ nhận quyền giống như người Anh và việc thường bị Quốc hội đánh thuế nặng mà không thông qua sự đồng ý của họ, họ bắt đầu nổi dậy chống lại ách thống trị của chính quốc sau sự kiện Tiệc trà Boston. Bằng cách thành lập các khu vực tự trị, họ phá vỡ bộ máy chính quyền của người Anh vào năm 1774. Xung đột vũ trang đầu tiên của quân đội Anh và người dân thuộc địa nổ ra tại Trận Lexington và Concord vào tháng 4, 1775. Sau khi đơn kiến nghị lên quốc vương cho sự tham gia vào Quốc hội bị bác bỏ, các nhà lãnh đạo quân nổi dậy bị nhà vua tuyên bố là những kẻ phản loạn và chiến tranh nổ ra sau đó. Các thuộc địa tuyên bố độc lập vào tháng 7 năm 1776, họ lập danh sách những người bất bình chống lại vua Anh và cơ quan lập pháp đồng thời yêu cầu sự giúp sức từ quần chúng. Trong danh sách tội danh của George, Tuyên ngôn buộc tội, "Ông ta đã từ bỏ quyền thống trị của mình ở đây ... Ông ta tước đoạt biển cả của chúng ta, tàn phá bờ biển của chúng ta, thiêu hủy thành thị của chúng ta, phá hoại cuộc sống của nhân dân ta." Bức tượng nhà vua George III cưỡi ngựa được mạ bằng vàng ở thành phố New York bị hạ xuống.[52] Người Anh bao vây thành phố năm 1776, nhưng bị mất Boston, và kế hoạch cho một chiến dịch lớn tấn công từ Canada và cắt đứt tuyến đường New England đã thất bại với sự đầu hàng của Trung tướng người Anh John Burgoyne tại Trận Saratoga.

George III thường bị cáo buộc là ngoan cố duy trì chiến tranh giữa chính phủ Anh với Cách mạng Mỹ, bất chấp những lời can ngăn từ các Bộ trưởng của ông. Theo như tác gia thời Victoria, George Trevelyan, Nhà vua tuyên bố "Không bao giờ thừa nhận sự độc lập của người Mỹ, và để trừng phạt cho sự vô lễ của chúng, Quả nhân sẽ kéo dài vô thời hạn một cuộc chiến tranh mà có thể sẽ là vĩnh viễn.[53] Quả nhân muốn để cho đám phiến quân đó tiếp tục quấy rối, lo lắng và ngày càng nghèo xơ xác, cho đến một ngày, sự bất mãn và hối hận kia sẽ biến thành sám hối và hối hận".[54] Tuy nhiên, nhiều nhà sử học gần đây bênh vực George bằng cách nói rằng trong hoàn cảnh như vậy, nhà vua khó có thể chấp nhận để mấy một vùng lãnh thổ lớn như vậy,[17][55] và những vi của ông ít tàn nhẫn hơn rất nhiều quân vương đương đại ở châu Âu.[56] Sau chiến dịch Saratoga, cả Nghị viện và người dân Anh đều ủng hộ chiến tranh; việc tuyển quân được tiến hành khẩn trương và mặc dù vẫn có một lượng chính khách chủ hòa, nhưng họ chỉ chiếm một bộ phận nhỏ.[17][57] Với những thất bại ở Mỹ, Thủ tướng Lord North yêu cầu chuyển giao quyền lực cho Lord Chatham, người mà ông cho rằng có năng lực hơn, nhưng George không phê chuẩn; thay vào đó ông đề xuất rằng Chatham sẽ phục vụ như một tướng dưới quyền Lord North, nhưng Chatham từ chối. Ông qua đời vào cuối năm đó.[58] Đầu năm 1778, nước Pháp (đối thủ chính của Anh) kí kết một hiệp định với Hoa Kỳ và cuộc xung đột leo thang. Hoa Kỳ và Pháp sớm thành lập một liên minh cùng Tây Ban NhaCộng hoà Hà Lan, trong khi Anh không có một đồng minh lớn nào. Lord GowerLord Weymouth đều rời khỏi chính phủ. Lord North một lần nữa đề nghị xin từ chức nhưng cuối cùng ông đã ở lại theo sự khẩn thiết lưu giữ của George III.[59] Nhằm phản đối việc chi phí tốn kém cho cuộc chiến tranh ngày càng tăng lên, tháng 6 năm 1780 một cuộc bạo động nổ ra ở Luân Đôn, được biết đến với tên gọi Gordon Riots.[60]

Mãi đến cuối Chiến dịch Charleston năm 1780, những người bảo hoàng vẫn tin vào một chiến thắng cuối cùng của họ, khi quân Anh đánh bại lực lượng kháng chiến ở trận Camdentrận Guilford Court House.[61] Cuối năm 1781, thông tin Lord Cornwallis đầu hàng tại Chiến dịch Yorktown khiến cả Luân Đôn chấn động; chính phủ của Lord North đã bị mất đi sự ủng hộ và ông từ chức vào năm tiếp theo. Nhà vua đã chuẩn bị sẵn một chiếu thư thoái vị, song ông đã không bao giờ công bố,[55][62] Cuối cùng ông phải chấp nhận thất bại ở Bắc Mỹ, và ủy quyền cho một cuộc đàm phán hòa bình. Hiệp ước Paris đã được kí kết giữa chính phủ Anh với các bang ở Bắc Mỹ, công nhận sự độc lập của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ và trả trả Florida cho người Tây Ban Nha, được kí kết vào năm 18821883.[63] Khi John Adams được bổ nhiêmk làm Đại sứ Mỹ đến Luân Đôn năm 1785, George phải nhẫn nhịn mà cải thiện lại quan hệ giữa nước Anh với các thuộc địa cũ. Ông nói với Adams, "Quả nhân là người cuối cùng chấp nhận sự chia tách; nhưng sự chia tách ấy là điều không thể tránh khỏi và nay đã thành sự thực; Quả nhân đã luôn nói, và bây giờ cũng nói, rằng quả nhân sẽ là người đầu tiên đáp ứng tình hữu nghị với Hoa Kỳ như là một thế lực độc lập."[64]

Đấu tranh Hiến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự thất thế của chính phủ Lord North năm 1782, Lord Rockingham, đảng Whig trở thành Thủ tướng lần thứ 2, nhưng ông ta chết sau đó có vài tháng. Nhà vua sau đó bổ nhiệm Lord Shelburne lên thay. Charles James Fox, tuy nhiên lại khồng muốn phục vụ dưới trướng Shelburne, và đề nghị nên bổ dụng Công tước Portland. Năm 1783, Hạ viện đã buộc Shelburne từ bỏ chức vị và giải tán chính phủ. Chính phủ giờ nằm trong tay liên minh Fox–North. Công tước xứ Portland trở thành Thủ tướng, còn Fox và Lord North, là Bộ trưởng ngoại giao và Bộ trưởng nội vụ.[17]

Nhà vua không thích Fox vì ông ta quá mạnh mẽ, ông cho rằng Fox bất lương và sẽ ảnh hưởng xấu đến Hoàng tử xứ Wales.[65] George III đã đau khổ vì phải bổ nhiệm các bộ trưởng không theo ý thích của mình, nhưng phe đảng của Portland nhanh chóng xây dựng thế đa số trong Viện Thứ dân và không thể đánh đổ dễ dàng. Ông càng thất vọng hơn khi chính phụ đề xuất Đạo luật Ấn Độ, theo đó cải cách tình trạng chính phủ Ấn Độ bằng cách chuyển giao quyền cai trị của Công ti Đông Ấn sang cho Nghị viện[66]. Mặc dù nhà vua ủng hộ để cho công ty tiếp tục cai quản Ấn Độ, song tất cả các ủy viên là đồng minh của Fox đều tuyên bố ủng hộ dự luật.[67] Ngay sau khi Hạ viện thông qua dự luật, George ủy quyền cho Lord Temple thông báo với Thượng viện rằng ông sẽ coi bất kì người nào ủng hộ dự luật trên là kẻ thù của mình. Bởi vậy dự luật bị bác bỏ ở Thượng viện, và 3 ngày sang đó, chính phủ Portland bị giải tán, và William Pitt trẻ trở thành Thủ tướng mới, và Temple là Ngoại trưởng. Ngày 17 tháng 12 năm 1783, Nghị viện bỏ phiếu lên án sự can thiệp của nhà vua lên Quốc hội là "tội lỗi lớn" và buộc Temple phải từ chức. Sự ra đi của Temple gây ra xáo trộn trong chính phủ, ba tháng sau đó chính phủ hiện tại mất đi đa số ghế và Quốc hội phải giải tán; tiếp đó Pitt giành thắng lợi lớn trong cuộc tuyển cử năm sau.[17]

William Pitt[sửa | sửa mã nguồn]

Ba công chúa con vua George III.
Ba người con gái nhỏ của vua George III, tranh vẽ bởi John Singleton Copley, c. 1785
Tập tin:GeorgeIIIGuinea.jpg
Gold guinea của George III, 1789

Đối với George III, việc Pitt lên nắm quyền là một thắng lợi lớn. Điều đó chứng minh rằng nhà vua có thể lựa chọn thủ tướng theo quan điểm của mình mà không cần phải dựa theo số đông trong Viện Thứ dân. Trong suốt nhiệm kì của Pitt, George đã ủng hộ nhiều mục tiêu chính trị của ông ta và phong cho khá nhiều người theo phe của Pitt vào Thượng viện.[68] Trong và sau thời Pitt nắm quyền, George III được người dân Anh ngưỡng mộ.[69] Người ta tán dương lòng mộ đạo của ông, và việc ông chung thủy với vợ mình.[70] Ông rất yêu thương con cái, và rơi vào khủng hoảng tâm lý bởi cái chết của hai cậu con trai vào các năm 17821783.[71] Tuy vậy, ông quản giáo các con với một chế độ cực kì nghiêm khắc. Họ được lên lịch là sẽ bắt đầu học một cách nghiêm túc từ 7 giờ sáng, "để sống một cuộc sống theo lễ nghi và đạo đức".[72] Khi các con không làm theo đúng những nguyên tắc mà ông đặt ra, ông mất tinh thần và thất vọng.[73]

Lúc này sức khỏe của nhà vua có chuyển biến xấu. Ông mắc bệnh thần kinh, và có triệu chứng rối loạn porphyria,[74] mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến nghi ngờ giả thuyết này.[75] Một nghiên cứu các mẫu tóc của nhà vua công bố vào năm 2005 cho thấy nồng độ asen, một chất gây bệnh, khá cao. Nguồn gốc của lượng asen này không được biết đến, nhưng có thể là từ các loại thuốc và mỹ phẩm mà nhà vua đã dùng.[76] Nhà vua có thể đã có một thời gian ngắn nhiễm bệnh năm 1765, nhưng bệnh tình tái phát vào mùa hạ năm 1788. Vào cuối phiên họp Quốc hội, ông đến Cheltenham Spa để chữa bệnh. Đó là nơi xa nhà nhất mà ông từng tới trong suốt cuộc đời, cách London 100 dặm (150 km)—nhưng bệnh tình của ông trở nên tồi tệ hơn worsened. Vào tháng 11 ông trở nên loạn trí, đôi khi nói chuyện trong nhiều giờ mà không ngừng lại, khiến cho miệng cạn hết nước bọt và giọng nói khàn khàn. Các bác sĩ của ông đã không thành công khi chẩn đoán tình trạng bệnh tình, những câu chuyện về tình hình bệnh của ông lan ra ngoài, ví dụ như có lời ngoa truyền rằng nhà vua bắt tay với một cái cây mà ông cho rằng đó là Nhà vua nước Phổ.[77] Cách điều trị bệnh cho nhà vua là nền tảng của phương pháp điều trị ngày nay, các bác sĩ của ông, bao gồm Francis Willis, điều trị cho vua bằng cách khống chế ông đến khi ông bình tĩnh hoặc hoặc áp dụng các thuốc đắp ăn da để vẽ ra "con quỷ dữ"".[78]

Vào ngày Quốc hội được triệu tập, Fox và Pitt tranh cãi quanh chuyện ai sẽ nhiếp chính cho nhà vua điên. Trong khi cả hai đều nhất trí rằng con trai lớn nhất của George là George, Hoàng tử xứ Wales, sẽ là nhiếp chính, Fox tính rằng Hoàng tử sẽ có toàn quyền thay mặt người cha bệnh tật quyết định tất cả công việc trong triều đình, còn Pitt phản đối Fox vì sợ rằng nếu hoàng tử xứ Wales nắm được đại quyền tuyệt đối thì ông sẽ bị cách chức, nên đề nghị Quốc hội giới hạn lại quyền nhiếp chính.[79] Vào tháng 2, 1789, Đạo luật nhiếp chính, ủy thác quyền hành cho Hoàng tử xứ Wales như là Nhiếp chính vương, được thông qua tại Hạ viện, nhưng trước khi nó được trình lên Thượng viện, George III bình phục.[80]

Cách mạng Pháp và những cuộc chiến tranh của Napoleon[sửa | sửa mã nguồn]

alt= George mặc chiếc áo khoác màu đỏ của một vị tướng quân đội Anh những năm 1800 với ngôi sao của Cấp tước Garter, quần ống chẽn màu trắng, ủng cao đến đầu gối màu đen, và một chiếc mũ đen. Đằng sau anh là một tẩy mã dắt một con ngựa.
Napoleon nhỏ bé đứng trên bàn tay của George III được vẽ như khổng lồ, nhìn Hoàng đế Pháp bằng một cái ống nhòm.
Tranh biếm họa vẽ bởi James Gillray, trong đó George cầm Napoleon trong lòng bàn tay, 1803

Sau khi George hồi phục, Pitt, tiếp tục gia tăng chi phí của Fox và Hoàng tử xứ Wales.[81] Cách đối xử khoan dung và đầy hiểu biết của ông đối với hai kẻ hành thích điên cuồng, Margaret Nicholson năm 1786John Frith năm 1790, càng làm tăng thêm uy tín của ông.[82] Âm mưu thất bại của James Hadfield nhằm hành thích nhà vua ở Drury Lane Theatre ngày 15 tháng 5 năm 1800 không xuất phát từ lý do chính trị mà là do những ảo tưởng khải huyền của Hadfield và Bannister Truelock. George dường như không bị ảnh hưởng nhiều vì sự cố đó, hơn thế ông còn ngủ thiếp đi trong một khoảng thời gian.[83]

Cách mạng Pháp nổ ra năm 1789, dẫn đến Chế độ quân chủ Pháp bị lật đổ, gây lo lắng cho nhiều lãnh chúa ở Anh. Pháp tuyên chiến với Anh năm 1793; trong một nỗ lực hỗ trợ chiến tranh, George cho phép Pitt tăng tiền thuế, chiêu mộ quân đội, và đình chỉ quyền của habeas corpus. Liên minh thứ nhất chống lại cách mạng Pháp với sự tham gia của Áo, Phổ, Tây Ban Nha tan vỡ vào năm 1795 khi PhổTây Ban Nha giảng hòa riêng với Pháp.[84] Liên minh thứ hai, bao gồm Áo, NgaĐế chế Ottoman, bị đánh bại năm 1800. Chỉ có Anh tiếp tục chiến đấu chống Napoleon Bonaparte, Tổng tài thứ nhất của the Cộng hòa Pháp.

Một giai đoạn hòa hoãn ngắn với Pháp cho phép Pitt hướng sự chú ý tới Ireland, nơi đã chứng kiến một cuộc nổi dậy và một âm mưu tấn công của người Pháp vào năm 1798.[85] Năm 1800, Quốc hội Đại Anh và Icreland thông qua Đạo luật liên minh có hiệu lực từ 1 tháng 1, 1801 hợp nhất Liên hiệp Anh (Great Britain gồm Anh, Wales, Scotland) và Ireland thành một quốc gia duy nhất với tên gọi Vương quốc Anh thống nhất (United Kingdom). George nhân cơ hội này bỏ đi danh hiệu "Vua của Pháp", Tuyên bố chủ quyền của người Anh đối với ngai vàng Pháp từ thời trị vì của Edward III chấm dứt.[86] Có đề nghị rằng George nên nhận danh hiệu "Hoàng đế của đảo Anh", nhưng ông từ chối.[17] Như một phần của chính sách đối với Ái Nhĩ Lan, Pitt lên kế hoạch giảm bớt một số ràng buộc khắc khe đối với Người công giáo. George III tuyên bố rằng giải phóng cho người Công giáo là vi phạm lời thề của Quốc vương khi mới lên ngôi là bảo vệ đạo Tin Lành.[87] Đối diện với cao trào chống chính sách cải cách tôn giáo từ cả nhà vua và dân chúng Anh, Pitt đe dọa là sẽ từ chức.[88] Vào khoảng thời gian đó, Nhà vua tái phát bệnh cũ, có lẽ là do lo lắng về vấn đề Công giáo.[89] Ngày 14 tháng 3, 1801, Pitt được thay thế bởi Người đứng đầu Hạ viện, Henry Addington. Addington phản đối dỡ bỏ ràng buộc đối với người Công giáo, bãi bỏ thuế thu nhập và bắt đầu chương trình giải trừ quân bị. Vào tháng 10, 1801, ông tìm kiếm hòa bình với Pháp, và sang 1802 thì kí Hiệp ước Amiens.[90]

George không coi việc nghị hòa với Pháp là thực; ông xem đó là "một cuộc thí nghiệm".[91] Năm 1803, chiến tranh tiếp tục nhưng quần chúng không tán thành để cho Addington lãnh đạo đất nước trong chiến tranh, và ủng hộ Pitt. Một cuộc xâm lược nước Anh của Napoleon có vẻ đang đến gần, và một phong trào tình nguyện lớn nổ ra nhằm ủng hộ nước Anh trong cuộc chiến với nước Pháp. George đã gặp 27.000 người tình nguyện tại Hyde Park, Luân Đôn, vào ngày 26 và 28 tháng 10 năm 1803 vào lúc cao trào của sự lo lắng về một chiến tranh, thu hút hơn 500.000 người xem mỗi ngày.[92] The Times nhận xét, "Sự nhiệt tình của đám đông là vượt quá tưởng tượng."[93] Một cận thần của nhà vua viết vào ngày 13 tháng 11 rằng, "Hoàng thượng thực sự đã chuẩn bị cho việc ra chiến trường trong trường hợp bị tấn công, tư trang của Ngài đã sẵn sàng và Ngài có thể di chuyển nhanh chóng sau khi được cảnh báo nửa giờ".[94] George viết cho bạn của ông là Giám mục Hurd, "Bây giờ chúng ta hằng ngày ở đây để chờ Bonaparte sẽ cố gắng xâm lược và đe dọa chúng ta ... Liệu quân đội của hắn có có đổ bộ xuống đảo, Quả nhân chắc chắn sẽ tự đặt mình lên đầu chiến tuyến, và các cánh quân khác của Quả nhân, sẽ đẩy lùi được bọn chúng."[95] Sau khi Đô đốc Lord Nelson giành được chiến thắng nổi tiếng tại Trận Trafalgar, nguy cơ xâm lược bị dập tắt.[96]

Nhà vua, với khuôn mặt bị một trụ đá che khuất, đang đuổi một nhóm các Bộ trưởng trong chính phủ.
In A Kick at the Broad-Bottoms! (1807), James Gillray biếm họa việc miễn nhiệm tất cả các Bộ trưởng tài năng của George.

Năm 1804, bệnh tật của George tái phát trở lại; sau khi ông bình phục, Addington từ chức và Pitt trở lại nắm quyền. Pitt tìm cách bổ nhiệm Fox vào chính phủ để cộng tác với mình, nhưng George III từ chối. Lord Grenville cảm thấy một sự đe dọa đến Fox, và từ chối tham gia chính phủ.[17] Pitt tham gia vào liên minh với Ba Lan, NgaThụy Điển. Đây chính là Liên minh chống Napoleon lần thứ 3, tuy nhiên, kết cục cũng giống như hai lần trước, tan rã vào năm 1805. Những thất bại trên chiến trường châu Âu ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của Pitt và ông sớm qua đời vào năm 1806, mở ra một dấu chấm hỏi lớn về người kế nhiệm chức tướng. Lord Grenville trở thành Thủ tướng, và his "Chính phủ của tất cả nhân tài" bao gồm Fox. Nhà vua hòa giải với Fox, sau khi bị ép buộc phải bổ dụng ông ta. Sau cái chết của Fox vào tháng 9, 1806, nhà vua và Chính phủ lại xung đột với nhau công khai. Để lấp những chỗ trống trong quân ngũ, Nghị viện đề xuất một dự luật vào tháng 2, 1807, theo đó những người Công giáo sẽ có thể được bổ dụng vào tất cả các cấp bậc trong lực lượng vũ trang. George không những bác bỏ dự luật mà còn cấm trong tương lai không một ai được đề xuất những dự luật như vậy nữa. Chính phủ đồng ý không thực thi dự luật song từ chối việc ràng buộc trong tương lai.[97] Họ đã bị giải tán và thay thế bởi một chính phủ của Thủ tướng là Công tước Portland, nhưng chỉ trên danh nghĩa, quyền lực thực tế thuộc về Bộ trưởng Tài chính, Spencer Perceval. Nghị viện bị giải tán và cuộc bầu cử tiếp theo, chứng kiến sự thắng thế của một bộ phận thế lực lớn trong Hạ viện. George III đã có những quyết định chính trị lớn hơn nữa trong triều đại của ông; Công tước xứ Portland bị thay thế bởi Perceval năm 1809 không có nhiều ý nghĩa thực tế.[98]

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Monochrome prcủaile của elderly George với một long white beard
Engraving bởi Henry Meyer của George III in later life

Cuối năm 1810, George đã ở trên đỉnh cao của sự nổi tiếng[99] nhưng ông gần như bị mù và đục thủy tinh thể cùng với những đau đớn từ căn bệnh thấp khớp, George III một lần nữa lâm bệnh nặng. Theo nhiều thông tin xác nhận bệnh tình của ông có sự tác động lớn từ cái chết của người con gái út mà ông thương yêu nhất, Công chúa Amelia.[100] Y tá của ông tường thuật rằng "Hoàng thượng đã đau khổ và khóc khóc mỗi ngày ... những ưu sầu khôn tả."[101] Ông cảm thấy cần thiết phải thông qua Đạo luật Nhiếp chính,[102] và Hoàng tử xứ Wales nắm quyền nhiếp chính trong 10 năm cuối triều George III. Mặc dù đã có dấu hiệu hồi phục vào tháng 5 năm 1811, cuối năm nay George đã mất trí nhớ vĩnh viễn và sống ẩn dật trong Lâu đài Windsoruntil cho đến khi băng hà.[103]

Thủ tướng Spencer Perceval bị ám sát vào năm 1812 và được thay thế bởi Lord Liverpool. Liverpool đã lãnh đạo Anh quốc giành chiến thắng sau cùng trước quân của Napoleon. Theo như kết quả của Hội nghị Vienna, lãnh địa Hannover được mở rộng đáng kể và từ một Tuyển hầu quốc đã trở thành vương quốc.

Trong khi đó, sức khỏe của nhà vua ngày càng tồi tệ. Bệnh mất trí nhớ ngày càng trầm trọng và nhà vua hoàn toàn mù và ngày càng điếc. Ông thậm chí không hiểu và không nhận thức được rằng ông đã được phong làm Vua của Hannover năm 1814 hoặc cái chết của vợ ông năm 1818.[104] Vào Giáng sinh năm 1819, ông nói những chuyện vô nghĩa suốt 58 giờ, và trong vài tuần cuối cùng của cuộc đời ông không thể đi lại được[105] Ông qua đời tại Lâu đài Windsor lúc 8:38 pm ngày 29 tháng 1 năm 1820, sáu ngày sau cái chết của người con trai thứ tư, Công tước xứ Kent. Người con trai mà ông thương yêu nhất, Frederick, Công tước xứ York, ở bên ông trong giờ phút cuối cùng.[106] George III được an táng vào ngày 16 tháng 2 tại Nhà thờ St George, Lâu đài Windsor.[107][108]

George được kế thừa bởi hai người con trai của ông, George IVWilliam IV, cả hai đều chết mà không có con hợp pháp để kế vị, để lại ngai vàng con người con gái duy nhất của Công tước xứ Kent, Victoria, quân chủ cuối cùng của vương triều Hannover.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Centre: George III, được phác họa là một người đàn ông bụng phệ cùng một cái túi phồng những đồng tiền vàng, nhận được một cái xe lấp đầy những tiền từ William Pitt, người trong túi cũng ngập với những đồng xu. Ở bên trái, một cựu quân chân bị liệt đang van xin giữa phố. Bên phải, George, Hoàng tử xứ Wales, được miêu tả là mặc một bộ đồ rách.
Trong Một cách mới để trả nợ Quốc gia (1786), James Gillray biếm họa nhà vua George III và Hoàng hậu Charlotte đang bù đầu với đống cổ phiếu để trang trải nợ của hoàng gia, và Pitt đưa cho họ một túi tiền.

George III đã sống trong 81 năm 239 ngày và trị vì 59 năm 96 ngày: cuộc đời và thời gian cai trị của ông dài hơn tất cả những người tiền nhiệm. Chỉ có VictoriaElizabeth II sống lâu hơntrị vì lâu hơn.

George III được mệnh danh là "Nông dân George" bởi những nhà thơ trào phúng, lúc đầu sự quan tâm của ông dành cho các vấn đề trần tục hơn là chính trị, nhưng sau đó tính cách giản dị và tiết kiệm của ông, đối lập với người con trai trưởng, khiến người ta gọi ông là con người của nhân dân.[109] Dưới thời George III, Cuộc Cách mạng Công nghiệp đạt đến đỉnh cao của nó và những tiến bộ trong khoa học, công nghệ đã được ghi nhận. Có một sự tăng trưởng chưa từng có trong dân cư nông thôn, nhờ đó cung cấp một lực lượng lap động khá lớn cho cuộc Cách mạng Công nghiệp.[110] Bộ sưu tập các dụng cụ toán học và khoa học của George hiện đang được trưng bào ở Bảo tàng khoa học, Luân Đôn; ông tài trợ công cuộc xây dựng và bảo trì công trình Kính thiên văn 40 dặm của William Herschel, công trình khoa học lớn nhất vào thời điểm đó.[111] Herschel phát hiện ra hành tinh Uranus, lúc đầu nó có tên là Georgium Sidus (sao George) theo tên của nhà vua, vào năm 1781.

George III hi vọng rằng "những lời nói ác ý có thể không thể hiện được những ý định của Quả nhân trong những màu sắc phu nhân ngưỡng mộ, cũng không phải là nịnh bợ cho những gì mà quả nhân không xứng đáng",[112] nhưng trong tâm thức của quần chúng, George III được ca ngợi và cả những ý kiến coi ông như quỷ dữ. Trong những năm đầu triều đại, George được lòng dân, nhưng giữa những năm 1770 mất đi sự trung thành từ người dân Bắc Mỹ từ sau cuộc Cách mạng,[113] mặc dù có ý kiến cho rằng vẫn có một nửa số dân thuộc địa trung thành với hoàng gia.[114] Những bất bình được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ được biểu thị là "nhắc đi nhắc lại những tổn thương và chiếm đoạt" rằng ông đã quyết tâm thành lập một "chính thể chuyên chế tuyệt đối" tại các thuộc địa. Những lời lẽ trong Bản Tuyên ngôn gây một cảm giác trong quần chúng Mỹ rằng George là một quân vương bạo chúa. Những lời bình luận hiện nay về cuộc đời của George III chia làm 2 luồng ý kiến: một là "thái độ chiếm ưu thế trong phần sau của triều đại, khi nhà vua đã trở thành một biểu tượng tôn kính của toàn quốc kháng chiến với những tham vọng của Pháp và thế lực của Pháp", trong khi luồng ý kiến còn lại "có nguồn gốc quan điểm của họ rằng thời đại của nhà vua tràn ngập xung đột phe phái quyết liệt của hai thập kỷ đầu tiên, và chúng tiếp tục thể hiện trong công trình của họ quan điểm của phe đối lập".[115]

Xây dựng trên hai luồng ý kiến đánh giá này, những nhà sử học Anh thế kỉ XIX và đầu XX, bao gồm TrevelyanErskine May, đẩy mạnh sự chống đối với cuộc đời của George. Tuy nhiên, vào giữa thế kỉ XX, tác phẩm của Lewis Namier, người cho rằng triều đại của George "bị nhiều sự vu khống", và bắt đầu đánh giá lại nhân cách và triều đại của ông.[116] Các học giả cuối thế kỉ XX, như Butterfield với Pares, Macalpine với Hunter,[117] có xu hướng thông cảm hơn với George, xem ông như một nạn nhân của hoàn cảnh và bệnh tật. Butterfield đã bác bỏ lập luận của bậc tiền bối thời Victorian với thái độ khinh thị: "Erskine có thể phải là ví dụ tốt về cách một sử gia có thể rơi vào lỗi qua có quá nhiều nét đẹp kín đáo. Khả năng tổng hợp của ông ấy, và khả năng của ông ấy lắp mộng đuôi én vào nhiều bộ phận của bằng chứng. Mang ông ấy vào nhiều soạn thảo sâu sắc và phức tạp của những sai sót hơn vài người tiền nhiệm không lý thú hơn của ông ấy... Ông ấy chèn học thuyết phần tử vào lịch sử của ông ấy, cấp quang sai ban đầu của anh ấy, nhằm sắp đặt hệ thống lỗi của ông ấy, mang công trình của ông ấy bên cạnh đó từ xu hướng ở trung tâm hoặc sự thật."[118] Đối với việc cố gắng duy trì chiến tranh với các thuộc địa Mỹ, George III tin rằng ông đã bảo vệ quyền của Nghị viện là thu tiền thuế, thay vì tìm cách mở rộng quyền lực hay đặc quyền của mình.[119] Theo quan điểm của các học giả hiện đại, dưới triều đại lâu dài của George III, chế độ quân chủ tiếp tục để mất quyền lực chính trị của mình, và dần trở thành một biểu tượng của giá trị đạo lý quốc gia.[17]

Danh hiệu và huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 4 tháng 6 1738 – 31 tháng 3 1751: His Royal Highness Hoàng tử George[120]
  • 31 tháng 3 1751 – 20 tháng 4 1751: His Royal Highness Công tước xứ Edinburgh
  • 20 tháng 4 1751 – 25 tháng 10 1760: His Royal Highness Hoàng tử xứ Wales
  • 25 tháng 10 1760 – 29 tháng 1 1820: His Majesty The King

Ở Anh, George III sử dụng danh hiệu chính thức "George đệ Tam, bởi Ân điển của chúa, Vua của Anh, Pháp, và Ireland, Người Bảo vệ Đức tin, Thủ lĩnh tối cao Giáo hội Anh". Năm 1801, khi danh hiệu Quốc vương của AnhIreland hợp nhất, ông từ bỏ danh xưng vua của Pháp, vốn được người Anh tuyên bố chủ quyền từ thời vua Edward III tự xưng vua Pháp vào thời Trung cổ.[86] Danh hiệu bấy giờ là "George đệ tam, Bởi Ân điển của Chúa, Vua của Vương quốc Anh và Icreland, Người Bảo vệ Đức tin."[121]

Đức, ông là "Công tước xứ BrunswickLüneburg, Archtreasurer và Vương công - Tuyển hầu của Thánh chế La Mã" cho đến khi sự kết thúc của đế chế năm 1806. Ông tiếp tục sử dụng danh hiệu Công tước cho đến khi Hội nghị Vienna phong cho ông làm "Vua của Hannover" năm 1814.[121]

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Coat of arms of George William Frederick, Duke of Edinburgh.svg
Coat of Arms of the Hanoverian Princes of Wales (1714-1760).svg
Coat of Arms of Great Britain (1714-1801).svg
Coat of Arms of the United Kingdom (1801-1816).svg
Coat of Arms of the United Kingdom (1816-1837).svg
Huy hiệu của hoàng tôn George từ 1749 đến 1751
Huy hiệu của George khi là Hoàng tử xứ Wales, từ 1751 đến 1760
Huy hiệu của George trong giai đoạn làm vua Liên hiệp Anh từ 1760 đến 1801
Huy hiệu của George khi là Vua của Vương quốc Anh thống nhất, 1801 - 1816
Huy hiệu của George từ năm 1816 đến khi ông mất, nó cũng được dùng như huy hiệu dành cho vua Hannover

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Name Birth Death Notes
George IV 12 tháng 8, 1762 26 tháng 6, 1830 kết hôn 1795, với Công chúa Caroline của Brunswick-Wolfenbüttel; có con
Hoàng tử Frederick, Công tước xứ York và Albany 16 tháng 8, 1763 5 tháng 1, 1827 kết hôn 1791, với Công chúa Frederica của Prussia; không có con
William IV 21 tháng 8, 1765 20 tháng 6, 1837 kết hôn năm 1818, với Công chúa Adelaide của Saxe-Meiningen; không có con sống sót nhưng có con ngoài giá thú với Dorothea Jordan; con cháu bao gồm David Cameron, Thủ tướng đương nhiệm của Anh quốc
Charlotte, Công chúa Royal 29 tháng 9, 1766 6 tháng 10, 1828 kết hôn năm 1797, với Nhà vua Frederick của Württemberg; không có con sống sót
Hoàng tử Edward, Công tước xứ Kent và Strathearn 2 tháng 11, 1767 23 tháng 1, 1820 kết hôn năm 1818, với Công chúa Victoria của Saxe-Coburg-Saalfeld; Nữ hoàng Victoria là con gái ông; hậu duệ bao gồm Elizabeth II, Felipe VI của Tây Ban Nha, Carl XVI Gustaf của Thụy Điển, Harald V của Na UyMargarethe II của Đan Mạch.
Công chúa Augusta Sophia 8 tháng 11, 1768 22 tháng 9, 1840 không bao giờ kết hôn, không có con
Công chúa Elizabeth 22 tháng 5, 1770 10 tháng 1, 1840 kết hôn năm 1818, với Frederick, Lãnh chúa Hesse-Homburg; không có con
Ernest Augustus I của Hannover 5 tháng 6, 1771 18 tháng 11, 1851 kết hôn 1815, với Công chúa Friederike của Mecklenburg-Strelitz; có con; trong đó hậu duệ bao gồm Konstantinos II của Hy LạpFelipe VI của Tây Ban Nha.
Hoàng tử Augustus Frederick, Công tước Sussex 27 tháng 1, 1773 21 tháng 4, 1843 (1) kết hôn trong bí mật trái với Đạo luật Hôn nhân Hoàng gia, 1772, với Lady Augusta Murray; có con; hôn nhân chấm dứt năm 1794
(2) kết hôn 1831, với Lady Cecilia Buggin (về sau là Nữ Công tước Inverness tước hiệu chính bà được hưởng, không thông qua chồng); không con
Hoàng tử Adolphus, Công tước xứ Cambridge 24 tháng 2, 1774 8 tháng 7, 1850 kết hôn 1818, với Công chúa Augusta của Hesse-Cassel; có con; hậu duệ bao gồm nữ hoàng Elizabeth II
Công chúa Mary, Công nương xứ Gloucester và Edinburgh 25 tháng 4, 1776 30 tháng 4, 1857 kết hôn 1816 với Hoàng tử William Frederick, Công tước xứ Gloucester và Edinburgh; không có con
Công chúa Sophia 3 tháng 11, 1777 27 tháng 5, 1848 không bao giờ kết hôn
Hoàng tử Octavius 23 tháng 2, 1779 3 tháng 5, 1783 mất khi còn nhỏ
Hoàng tử Alfred 22 tháng 9, 1780 20 tháng 8, 1782 mất khi còn nhỏ
Công chúa Amelia 7 tháng 8, 1783 2 tháng 11, 1810 không bao giờ kết hôn, không có con

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 24 tháng 5 theo Lịch cũ, Lịch Julian dùng ở Anh cho đến 1752.
  2. ^ George bị vu khống là đã kết hôn với một nữ tín đồ phái QuakersHannah Lightfoot ngày 17 tháng 4 năm 1759, trước khi cưới Charlotte, và đã có một người con với bà ta. Tuy nhiên Lightfoot đã kết hôn với Isaac Axford năm 1753 và mất trước hoặc trong năm 1759, do đó không thể có chuyện kết hôn và sinh con với George. Một ban hội thẩm vào năm 1866 được mở ra để thẩm vấn Lavinia Ryves, con gái của kẻ mạo danh Olivia Serres người tự xưng là "Công chúa Olive xứ Cumberland", nhất trí rằng một tờ giấy hôn thú được lập ra bởi Ryves là giả mạo.[16]
  3. ^ Ví dụ, những bức thư của Horace Walpole viết rằng vào thời điểm đó bảo vệ George nhưng hồi kí của Walpole sau đó lại ghi nhận sự chống đối.[23]
  4. ^ Một người công dân Mỹ phải trả số tiền thuế tối đa là 6 xu một năm, cao hơn mức trung bình 25 đồng shilling (nhiều hơn 50 lần) tại Anh.[36] Năm 1763, tổng số tiền chính phủ Anh thu từ Mỹ lên đến £1 800, trong khi chi phí dùng để trang bị cho quân đội ở Mỹ lên tới £225 000 và đến 1767 là £400 000.[37]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “George III”. Củaficial website của the British monarchy. Royal Household. Truy cập 18 tháng 4 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ Brooke, trang 314; Fraser, trang 277
  3. ^ Butterfield, trang 9
  4. ^ Brooke, trang 269
  5. ^ Hibbert, trang 8
  6. ^ Bản mẫu:Luân Đôn Gazette
  7. ^ Brooke, các trang 23–41
  8. ^ Brooke, các trang 42–44, 55
  9. ^ Hibbert, các trang 3–15
  10. ^ Brooke, các trang 51–52; Hibbert, các trang 24–25
  11. ^ Bullion, John L. (2004). "Augusta, Công chúa xứ Wales (1719–1772)". Oxford Dictionary của National Biography. Oxford University Press. doi:10.1093/ref:odnb/46829. Retrieved 17 tháng 9 2008 (Subscription required)
  12. ^ Ayling, trang 33
  13. ^ Ayling, trang 54; Brooke, các trang 71–72
  14. ^ Ayling, các trang 36–37; Brooke, trang 49; Hibbert, trang 31
  15. ^ Benjamin, trang 62
  16. ^ Documents relating to the case. The National Archives. Retrieved 14 tháng 10 2008.
  17. ^ a ă â b c d đ e Cannon, John (tháng 9 năm 2004). “George III (1738–1820)”. Oxford Dictionary của National Biography (Oxford University Press). Truy cập 29 tháng 10 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp) (Subscription required)
  18. ^ Ayling, các trang 85–87
  19. ^ Ayling, trang 378; Cannon và Griffiths, trang 518
  20. ^ Watson, trang 549
  21. ^ Brooke, trang 612
  22. ^ Brooke, trang 156; Simms và Riotte, trang 58
  23. ^ Butterfield, các trang 22, 115–117, 129–130
  24. ^ Hibbert, trang 86; Watson, các trang 67–79
  25. ^ The Crown Estate (2004). “Our history”. Truy cập 4 tháng 4 2015.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  26. ^ Kelso, Paul (6 tháng 3 2000). ssmargaret “The royal family and the public purse”. The Guardian. Truy cập 4 tháng 4 2015.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  27. ^ Watson, trang 88; cách nhìn này cũng được sự đồng thuận của Brooke (ví dụ xem trang 99).
  28. ^ Medley, trang 501
  29. ^ Ayling, trang 194; Brooke, các trang xv, 214, 301
  30. ^ Brooke, trang 215
  31. ^ Ayling, trang 195
  32. ^ Ayling, các trang 196–198
  33. ^ Brooke, trang 145; Carretta, các trang 59, 64 ff.; Watson, trang 93
  34. ^ Brooke, các trang 146–147
  35. ^ Watson, các trang 183–184
  36. ^ Cannon và Griffiths, trang 505; Hibbert, trang 122
  37. ^ Cannon và Griffiths, trang 505
  38. ^ Black, trang 82
  39. ^ Watson, các trang 184–185
  40. ^ Ayling, các trang 122–133; Hibbert, các trang 107–109; Watson, các trang 106–111
  41. ^ Ayling, các trang 122–133; Hibbert, các trang 111–113
  42. ^ Ayling, trang 137; Hibbert, trang 124
  43. ^ Ayling, các trang 154–160; Brooke, các trang 147–151
  44. ^ Ayling, các trang 167–168; Hibbert, trang 140
  45. ^ Brooke, trang 260; Fraser, trang 277
  46. ^ Brooke, các trang 272–282; Cannon và Griffiths, trang 498
  47. ^ Hibbert, trang 141
  48. ^ Hibbert, trang 143
  49. ^ Watson, trang 197
  50. ^ Thomas, trang 31
  51. ^ Ayling, trang 121
  52. ^ Carretta, các trang 97, 98, 367
  53. ^ Trevelyan, vol. 1 trang 4
  54. ^ Trevelyan, vol. 1 trang 5
  55. ^ a ă Cannon và Griffiths, các trang 510–511
  56. ^ Brooke, trang 183
  57. ^ Brooke, các trang 180–182, 192, 223
  58. ^ Hibbert, các trang 156–157
  59. ^ Ayling, các trang 275–276
  60. ^ Ayling, trang 284
  61. ^ The Oxford Illustrated History của the British Army (1994) trang 129
  62. ^ Brooke, trang 221
  63. ^ U.S. Department của State, Treaty của Paris, 1783, retrieved 5 tháng 7 2013
  64. ^ Adams, C.F. (editor) (1850–56), The works của John Adams, second president của the United States, vol. VIII, các trang 255–257, trích dẫn trong Ayling, trang 323 và Hibbert, trang 165
  65. ^ e.g. Ayling, trang 281
  66. ^ Hibbert, trang 243; Pares, trang 120
  67. ^ Brooke, các trang 250–251
  68. ^ Watson, các trang 272–279
  69. ^ Brooke, trang 316; Carretta, các trang 262, 297
  70. ^ Brooke, trang 259
  71. ^ Ayling, trang 218
  72. ^ Ayling, trang 220
  73. ^ Ayling, các trang 222–230, 366–376
  74. ^ Röhl, John C. G.; Warren, Martin; Hunt, David (1998). Purple Secret: Genes, "Madness" và the Royal Houses của Europe. London: Bantam Press. ISBN 0-593-04148-8.
  75. ^ Peters, Timothy J.; Wilkinson, D. (2010). “Nhà vuaGeorge III và porphyria: một clinical re-examination của the historical evidence”. History của Psychiatry 21 (1): 3–19. doi:10.1177/0957154X09102616. PMID 21877427. 
  76. ^ Cox, Timothy M.; Jack, N.; Lcủathouse, S.; Watling, J.; Haines, J.; Warren, M.J. (2005). “King George III and porphyria: an elemental hypothesis and investigation”. The Lancet 366 (9482): 332–335. doi:10.1016/S0140-6736(05)66991-7. PMID 16039338. 
  77. ^ Ayling, các trang 329–335; Brooke, các trang 322–328; Fraser, các trang 281–282; Hibbert, các trang 262–267
  78. ^ Ayling, các trang 334–343; Brooke, trang 332; Fraser, trang 282
  79. ^ Ayling, các trang 338–342; Hibbert, trang 273
  80. ^ Ayling, trang 345
  81. ^ Ayling, các trang 349–350; Carretta, trang 285; Fraser, trang 282; Hibbert, các trang 301–302; Watson, trang 323
  82. ^ Carretta, trang 275
  83. ^ Ayling, các trang 181–182; Fraser, trang 282
  84. ^ Ayling, các trang 395–396; Watson, các trang 360–377
  85. ^ Ayling, các trang 408–409
  86. ^ a ă Weir, trang 286
  87. ^ Ayling, trang 411
  88. ^ Hibbert, trang 313
  89. ^ Ayling, trang 414; Brooke, trang 374; Hibbert, trang 315
  90. ^ Watson, các trang 402–409
  91. ^ Ayling, trang 423
  92. ^ Colley, trang 225
  93. ^ The Times, 27 tháng 10 1803, trang 2
  94. ^ Brooke, trang 597
  95. ^ Lá thư viết ngày 30 tháng 11, 1803, trích dẫn trong Wheeler và Broadley, trang xiii
  96. ^ “Nelson, Trafalgar, và those who served”. National Archives. Truy cập 31 tháng 10 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  97. ^ Pares, trang 139
  98. ^ Ayling, các trang 441–442
  99. ^ Brooke, trang 381; Carretta, trang 340
  100. ^ Hibbert, trang 396
  101. ^ Hibbert, trang 394
  102. ^ Brooke, trang 383; Hibbert, các trang 397–398
  103. ^ Fraser, trang 285; Hibbert, các trang 399–402
  104. ^ Ayling, các trang 453–455; Brooke, các trang 384–385; Hibbert, trang 405
  105. ^ Hibbert, trang 408
  106. ^ Lá tư từ Công tước xứ York gửi đến George IV, trích dẫn trong Brooke, trang 386
  107. ^ “Royal Burials in the Chapel since 1805”. St George's Chapel, Windsor Castle. Dean và Canons của Windsor. Truy cập 9 tháng 11 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  108. ^ Brooke, trang 387
  109. ^ Carretta, các trang 92–93, 267–273, 302–305, 317
  110. ^ Watson, các trang 10–11
  111. ^ Ayling, trang 204
  112. ^ Brooke, trang 90
  113. ^ Carretta, các trang 99–101, 123–126
  114. ^ Ayling, trang 247
  115. ^ Reitan, trang VIII
  116. ^ Reitan, các trang xii–xiii
  117. ^ Macalpine, Ida; Hunter, Richard A. (1991) [1969]. George III và the Mad-Business. Pimlico. ISBN 978-0-7126-5279-7.
  118. ^ Butterfield, trang 152
  119. ^ Brooke, các trang 175–176
  120. ^ The London Gazette consistently refers to the young Hoàng tử as "His Royal Highness Hoàng tử George" London Gazette: số 8734, tr. 3, 5 tháng 4 1748. London Gazette: số 8735, tr. 2, 9 tháng 4 1748. London Gazette: số 8860, tr. 2, 20 tháng 6 1749. London Gazette: số 8898, tr. 3, 31 tháng 10 1749. London Gazette: số 8902, tr. 3, 17 tháng 11 1749. London Gazette: số 8963, tr. 1, 16 tháng 6 1750. London Gazette: số 8971, tr. 1, 14 tháng 7 1750.
  121. ^ a ă Brooke, trang 390

Bibliography

  • Ayling, Stanley (1972). George the Third. Luân Đôn: Collins. ISBN 0-00-211412-7.
  • Benjamin, Lewis Saul (1907). Farmer George. Pitman và Sons.
  • Black, Jeremy (2006). George III: America's Last King. New Haven: Yale University Press. ISBN 0-300-11732-9.
  • Brooke, John (1972). King George III. Luân Đôn: Constable. ISBN 0-09-456110-9.
  • Butterfield, Herbert (1957). George III và the Historians. Luân Đôn: Collins.
  • Cannon, John (2004). "George III (1738–1820)". Oxford Dictionary của National Biography. Oxford University Press.
  • Cannon, John; Griffiths, Ralph (1988). The Oxford Illustrated History of the British Monarchy. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-822786-8.
  • Carretta, Vincent (1990). George III and the Satirists from Hogarth to Byron. Athens, Georgia: The University của Georgia Press. ISBN 0-8203-1146-4.
  • Colley, Linda (1994). Britons: Forging the Nation 1707–1837. Yale University Press.
  • Fraser, Antonia (1975). The Lives of the King and Queen of England. Luân Đôn: Weidenfeld và Nicolson. ISBN 0-297-76911-1.
  • Hibbert, Christopher (1999). George III: A Personal History. Luân Đôn: Penguin Books. ISBN 0-14-025737-3.
  • Medley, Dudley Julius (1902). A Student's Manual of English Constitutional History.
  • Pares, Richard (1953). King George III and the Politicians. Oxford University Press.
  • Reitan, E. A. (editor) (1964). George III, Tyrant Or Constitutional Monarch?. Boston: D. C. Heath và Company. một compilation của essays encompassing the major assessments của George III up to 1964.
  • Röhl, John C. G.; Warren, Martin; Hunt, David (1998). Purple Secret: Genes, "Madness" and the Royal Houses của Europe. London: Bantam Press. ISBN 0-593-04148-8.
  • Sedgwick, Romney (ed.; 1903). Letters from George III to Lord Bute, 1756–1766. Macmillan.
  • Simms, Brendan; Riotte, Torsten (2007). The Hanoverian Dimension in British History, 1714–1837. Cambridge University Press.
  • Thomas, Peter D. G. (1985). “George III và the American Revolution”. History 70: 16–31. doi:10.1111/j.1468-229X.1985.tb02477.x.  Đã bỏ qua tham số không rõ |con= (trợ giúp)
  • Trevelyan, George (1912). George the Third và Charles Fox: The Concluding Part của the American Revolution. New York: Longmans, Green.
  • Watson, J. Steven (1960). The Reign of George III, 1760–1815. Luân Đôn: Oxford University Press.
  • Weir, Alison (1996). Britain's Royal Families: The Complete Genealogy, Revised edition. Luân Đôn: Random House. ISBN 0-7126-7448-9.
  • Wheeler, H. F. B.; Broadley, A. M. (1908). Napoleon and the Invasion of England. Volume I. Luân Đôn: John Lane The Bodley Head.

Xem thêm

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]