Đại hội Viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ châu Âu được chia lại sau Hội nghị Vienna

Hội nghị Vienna (tiếng Đức: Wiener Kongress) là một hội nghị với sự tham gia của đại sứ tất cả các quốc gia châu Âu dưới sự chủ trì của chính khách người Áo Klemens Wenzel von Metternich, và diễn ra tại Vienna từ tháng 11 năm 1814 đến tháng 6 năm 1815, mặc dù các đại biểu đã có mặt đầy đủ và bắt đầu quá trình đàm phán ngay từ cuối tháng 9 năm 1814. Mục tiêu của Đại hội là tìm cách lập lại một nền hòa bình lâu dài cho châu Âu bằng cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ Chiến tranh Cách mạng PhápChiến tranh Napoleon. Mục tiêu không chỉ đơn giản là khôi phục lại cương giới cũ mà còn thay đổi lãnh địa của các cường quốc để tạo thế cân bằng và duy trì hòa bình. Các nhà lãnh đạo bảo thủ không ủng hộ chủ nghĩa cộng hòa hay cách mạng, những thứ đang gây ra mối đe dọa đối với trật tự phong kiến châu Âu. Pháp mất tất cả những lãnh thổ họ chinh phạt được trong những năm gần đó, trong khi Áo, PhổNga giành được nhiều vùng đất béo bở. Phổ giành được những thành bang nhỏ hơn ở miền tây, Pomerania thuộc Thụy Điển và 40% Vương quốc Saxony; Áo giành lại Venice và phần lớn miền bắc Ý. Nga chiếm được một phần của Ba Lan. Vương quốc Hà Lan mới được thành lập mấy tháng trước, bao gồm một số lãnh địa cũ của Áo mà năm 1830 trở thành Bỉ.

Tập tin:Berlin.Gendarmenmarkt.Deutscher Dom 010.jpg
Trang đầu của Chứng thư về Hội nghị Vienna

Tình hình trước mắt là Napoleon của Pháp bị đánh bại rồi đầu hàng vào tháng 5 năm 1814, kết thúc 20 năm chiến tranh liên miên. Cuộc đàm phán vẫn tiếp tục bất chấp việc Napoleon trốn thoát khỏi nơi lưu đày và nắm lại quyền lực ở Pháp, tức Vương triều 100 ngày từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1815. Đạo luật cuối cùng của Đại hội được ký 9 ngày trước khi ông ta bị đánh bại hoàn toàn tại Waterloo ngày 18 tháng 6 năm 1815.

Hội nghị thường bị chỉ trích vì gây ra làn sóng đàn áp phong trào quốc gia và phong trào tự do, và nó được xem là một phong trào phản động phục vụ cho lợi ích của chế độ quân chủ truyền thống. Tuy nhiên, nhiều người khen ngợi nó vì nó tạo ra một thời kì ổn định, hòa bình tương đối lâu dài cho phần lớn châu Âu.

Theo nghĩa chuyên môn, "Hội nghị Vienna" không hẳn là một hội nghị: nó không bao giờ họp trong một phiên họp toàn thể, và hầu hết các cuộc thảo luận diễn ra không chính thức, mặt đối mặt, hội nghị giữa các cường quốc Áo, Anh, Pháp, Nga và đôi khi có Phổ, hạn chế hoặc không có sự tham gia của các đại biểu khác. Mặt khác, Đại hội là dịp đầu tiên trong lịch sử, trên quy mô lục địa, đại diện các quốc gia hội họp với nhau để đi đến một quyết nghị, thay vì chủ yếu dựa vào thư tín từ các thủ đô. Đại hội Vienna đã hình thành nên khuôn khổ cho trật tự chính trị châu Âu cho đến trước khi Đại chiến thế giới thứ nhất nổ ra năm 1914, dù cho có nhiều thay đổi sau đó.

Mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp ước Chaumont năm 1814 đã một lần nữa xác nhận những quyết định mà chúng sẽ được phê chuẩn bởi đại hội quan trọng hơn ở Vienna 1814 - 15. Bao gồm việc thành lập Liên minh Đức, sự chia cắt nước Ý thành các nước nhỏ, sự trung hưng của hoàng triều Bourbon ở Tây Ban Nha, và sự mở rộng cho Hà Lan những vùng đất mà năm 1830 phát triển thành Bỉ. Hiệp ước Chaumont trở thành nền tảng của Liên minh các nước châu Âu và hình thành cán cân quyền lực trong nhiều thập kỉ.[1] Những sự dàn xếp khác diễn ra tại Hiệp ước Paris giữa PhápLiên minh thứ sáu, và Hiệp ước Kiel trong đó bao gồm các vấn đề liên quan đến Scandinavia. Hiệp ước Paris xác định rằng một "tổng đại hội" nên được tổ chức tại Vienna, và gửi lời mời đến "tất cả các cường quốc tham gia vào một trong hai phía của cuộc chiến hiện nay."[2] Việc khai mạc được lên kế hoạch từ tháng 7 năm 1814.[3]

Thành phần tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội trên danh nghĩa là những cuộc gặp gỡ chánh thức của các nhóm chính trị gia và thực hiện chức năng ngoại giao; tuy nhiên, phần lớn thời gian hội nghị được tiến hành tại các salons, tiệc chiêu đãi, và những chuyện bên lề.

Bốn cường quốc và Bourbon Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn Cường quốc trước kia đã hình thành cốt lõi của Đệ lục liên minh. Trong bối cảnh Napoleon sắp bị đánh bại họ đã cùng nhau nên lên quan điểm chung của họ tại Hiệp ước Chaumont (tháng 3 năm 1814), và cuộc đàm phán tại Hiệp ước Paris (1814) với nhà Bourbon trong công cuộc trung hưng:

Những đại diện khác của Hiệp ước Paris, 1814[sửa | sửa mã nguồn]

Các bên không tham gia vào Hiệp ước Chaumont, nhưng tham gia vào Hiệp ước Paris (1814):

Những người khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu như tất cả các quốc gia châu Âu đều có một phái đoàn đến Vienna – hơn 200 thành bang và hoàng tộc cử đại diện tới Đại hội.[15] Thêm vào đó, có cả đại diện của các thành phố, tập đoàn, tổ chức tôn giáo, (như tu viện) và các nhóm đặc biệt, chẳng hạn như một phái đoàn đại diện cho các nhà xuất bản ở Đức, đến để đòi luật bản quyền và tự do ngôn luận.[16] Đại hội không hề thiếu những trò giải trí, dạ tiệc, vũ hội xa hoa.[17]

Vai trò của Talleyrand[sửa | sửa mã nguồn]

oil painting of Tallyrand, the French ambassador
Talleyrand chứng tỏ ông là một nhà thương thuyết có năng lực để bảo vệ cho nước Pháp vừa bại trận.

Ban đàu, đại diện bốn cường quốc muốn loại bỏ người Pháp ra khỏi bàn đàm phán, nhưng sự khéo léo của Talleyrand khiến ông được có tên trong hội đồng trong những tuần đầu tiên của cuộc đàm phán. Ông đã liên kết với Hội đồng Tám cường quốc nhỏ (bao gồm Tây Ban Nha, Thụy ĐiểnBồ Đào Nha) để kiểm soát cuộc đàm phán. Khi Talleyrand dựa vào ủy ban này để được tự tham gia vào hội nghị, ông liền rời bỏ nó,[18] một lần nữa bỏ rơi đồng minh của mình.

Những do dự của phe liên minh về việc tiến hành các quyết nghị của họ mà không vấp phải sự phản kháng từ các cường quốc hạng hai dẫn đến lời kêu gọi về một cuộc họp sơ bộ, ở đó có sự tham gia của Talleyrand và Hầu tước Labrador, đại diện Tây Ban Nha, vào ngày 30 tháng 9 năm 1814.[19]

Chủ tịch Đại hội Friedrich von Gentz báo cáo, "Sự can thiệp của Talleyrand và Labrador đã đánh đổ hết hi vọng về kế hoạch của chúng mình. Talleyrand phản đối những thủ tục mà chúng mình đã thông qua và hoàn toàn phản bội chúng ta trong hai giờ. Đó là một cảnh mà tôi không bao giờ quên."[20]. Chính sách của Talleyrand, bị nhiều quốc gia coi đó là tham vọng cá nhân, đòi hỏi sự gần gũi nhưng không phải là thân tình trong mối quan hệ của ông và Labrador, người Talleyrand nhìn với thái độ khinh thị.[21] Labrador bị Talleyrand nhận xét như sau: "thằng què đó, thật không may, lại đi đến Vienna."[22] Talleyrand bổ sung vào những đề nghị của Labrador: ông không có ý định bàn giao 12,000 người afrancesados – những người Tây Ban Nha đã đào tẩu, họ ngưỡng mộ nước Pháp và đã tuyên bố trung thành với Joseph Bonaparte, cũng không nộp lại số lượng lớn các tài liệu, tranh, mảnh mỹ nghệ, và sách vở đã bị đánh cắp từ các kho lưu trữ, cung điện, nhà thờ của Tây Ban Nha.[23]

Khủng hoảng Ba Lan - Saxon[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tranh luận sôi nổi nhất tại Hội nghị là Cuộc khủng hoảng Ba Lan - Saxon. Nga muốn sở hữu Ba Lan, còn Phổ muốn có toàn bộ Saxon, quân vương đương nhiệm của những vùng đất này từng liên minh với Napoleon. Sa hoàng được tấn phong làm Vua của Ba Lan.[24] Áo lo sợ rằng sự kiện này sẽ khiến Nga trở nên quá mạnh mẽ, và Anh cũng đồng tình quan điểm đó. Mọi chuyện đã bế tắc, và Talleyrand đề nghị một giải pháp: Hãy đưa Pháp vào bàn đàm phán, và Pháp sẽ ủng hộ Áo và Anh. Ba nước này bí mật ký hiệp ước ngày 3 tháng 1 năm 1815, sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh chống lại Nga và Phổ, nếu cần thiết, để ngăn chặn Nga-Phổ bành trướng thế lực.[19]

Khi Sa hoàng được tin về hiệp ước bí mật đó ông đã đồng ý một thỏa hiệp dung hòa quyền lợi của tất cả các bên vào ngày 24 tháng 10 năm 1815. Nga nhận hầu hết Công quốc Warsaw của Napoleon, trên danh nghĩa nó sẽ được coi là "Vương quốc Ba Lan" – với Sa hoàng là quốc vương cai trị nó độc lập với Nga. Tuy nhiên, Nga sẽ không nhận tỉnh Posen (Poznań), nơi này được giao cho Phổ, gọi là Đại Công quốc Posen, cũng như Kraków, nơi này trở thành thành phố tự do. Hơn thế nữa, Sa hoàng không thể thống nhất các miền đất mới này với các phần của Ba Lan sáp nhận vào Nga những năm 1790. Phổ nhận được 40% đất Saxon - sau này được gọi là tỉnh Saxony, phần còn lại được trao trả cho nhà vua Friedrich August I với tư cách Vương quốc Saxony.

Đạo luật cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Màu hồng, là những vùng lãnh địa vẫn phụ thuộc vào Pháp năm 1814 nhưng bị mất đi sau Vương triều 100 ngày.

Đạo luật cuối cùng, tổng hợp tất cả các thỏa thuận riêng rẽ, được ký ngày 9 tháng 6 năm 1815 (vài ngày trước Trận Waterloo). Các điều khoản bao gồm:

Đạo luật cuối cùng được ký giữa đại diện các nước Áo, Pháp, Bồ, Phổ, Nga, Thụy Điển-Na Uy, và Anh. Tây Ban Nha không ký hiệp định này nhưng công nhận nó vào năm 1817.

Những thay đổi khác[sửa | sửa mã nguồn]

The Tsar mounted on his horse
Aleksandr I của Nga (1812) tự coi mình là người bảo hộ cho hòa bình ở Âu châu.

Những kết quả chính của Hội nghị, ngoài việc giải quyết những phần lãnh thổ bị Pháp chiếm trong giai đoạn 1795 - 1810, vốn được giải quyết ngay từ hiệp ước Paris, là sự mở rộng của Nga, (giảnh được phần lớn Công quốc Warsaw) và Phổ, họ mua được các huyện Poznań, Pomerania thuộc Thụy Điển, Westphalia và miền bắc Rhineland. Việc hợp nhất Đức quốc từ gần 300 thành bang của Đế quốc La Mã Thần thánh (giải thể năm 1806 trở nên đơn giản hơn với việc chỉ còn 39 thành ban (4 trong số đó là các thành phố tự do). Các thành bang này thành lập Liên minh Đức, một tổ chức khả lỏng lẻo dưới sự lãnh đạo của ÁoPhổ.

Các đại diện của Hội nghị đã đồng ý với rất nhiều sự thay đổi khác. Bởi Hiệp ước Kiel, Na Uy được chuyển từ nhà vua Đan Mạch-Na Uy cho nhà vua Thụy Điển. Điều này làm dấy lên phong trào dân tộc mãnh mẽ dẫn đến sự thành lập Vương quốc Na Uy ngày 17 tháng 5 năm 1814 và liên minh cá nhân với Thụy Điển. Áo giành lại Lombardy-Venetia ở miền bắc Ý, trong khi phần lớn miền bắc và trung Italia nằm dưới sự kiểm soát của nhà Harsburg như Đại Công quốc Tuscany, Công quốc Modena, Công quốc Parma).[26]

Lãnh địa Giáo hoàng trả lại cho Giáo hoàng. Vương quốc Piedmont-Sardinia phục hồi đất cũ, và cũng giành quyền kiểm soát Cộng hòa Genoa. Ở miền nam Ý, em rể của Napoleon, Joachim Murat, ban đầu được phép giữ lại ngôi vua ở Vương quốc Napoli, nhưng vì ông ta ủng hộ Napoleon trong Vương triều Một trăm ngày dẫn đến việc ông bị truất ngôi và ngai vàng giao lại về nhà Ferdinand IV nhà Bourbon.[26]

Vương quốc Liên hiệp Hà Lan rộng lớn được lập ra dưới triều Orange, bao gồm Các tỉnh liên kết và phần đất cũ thuộc Áo ở Nam Hà Lan. Ít quan trọng hơn, Vương quốc Hanover được mở rộng đáng kể (giành được Đông Frisia từ Phổ và nhiều lãnh thổ khác ở Bắc Đức) và Bavaria (giành được the Rhenish Palatinate và các lãnh thổ Franconia). Công quốc Lauenburg được chuyển từ Hanover sang Đan Mạch, và Phổ chiếm được Pomerania thuộc Thụy Điển. Thụy Sĩ được mở rộng, và tính trung lập của nó được đảm bảo. Lính đánh thuê của Thụy Sĩ nắm vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tranh châu Âu trong mấy trăm năm trước: đại hội đã chấm dứt thời kì đó.

Trong chiến tranh, Bồ Đào Nha bị mất thị trấn Olivença về tay Tây Ban Nha và nay được khôi phục trở lại. Bồ Đào Nha là đồng minh lâu đời của Âu, và với sự ủng hộ của người Anh họ đã thành công trong việc tái sáp nhập Olivença theo quy định của Đạo luật cuối cùng, theo đó Đại hội "hiểu rằng việc chiếm đóng Olivença là bất hợp pháp và công nhận quyền lợi của người Bồ". Bồ Đào Nha phê chuẩn Văn kiện cuối cùng song Tây Ban Nha không ký. Cuối cùng, quyết định rằng trở thành một phần của châu Âu tốt hơn là đứng một mình, Tây Ban Nha đã công nhận Hiệp ước này 7 tháng 5 năm 1817; tuy nhiên, Olivença và các vùng xung quanh không bao giờ được trao về cho Bồ Đào Nha và vấn đề này vẫn chưa được giải quyết.[27][cần câu trích dẫn để xác minh] Đại Anh nhận một phần Tây Ấn từ Hà LanTây Ban Nha cùng các thuộc địa cũ của Hà LanCeylonCape Colony cũng như MaltaHeligoland. Theo Hiệp ước Paris, Anh nằm quyền bảo hộ ở Liên bang Ionian IslandsSeychelles. Mặc dù Đại hội Vienna cân bằng được cán cân quyền lực ở châu Âu, nó lại không thể kiểm soát sự lan rộng của phong trào cách mạng hơn 30 năm sau đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liêu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Frederick B. Artz, Reaction & Revolution: 1814–1832 (1934) tr 110
  2. ^ Article XXXII. See Harold Nicolson, The Congress of Vienna, chap. 9.
  3. ^ King, David (2008). Vienna 1814: How the Conquerors of Napoleon Made Love, War, and Peace at the Congress of Vienna. Crown Publishing Group. tr. 334. ISBN 978-0-307-33716-0. 
  4. ^ Nicolson, Harold (1946). The Congress of Vienna; a Study in Allied Unity, 1812–1822. Constable & co. ltd. tr. 158. 
  5. ^ Malettke, Klaus (2009). Die Bourbonen 3. Von Ludwig XVIII. bis zu den Grafen von Paris (1814–1848) (bằng tiếng Đức) 3. Kohlhammer. tr. 66. ISBN 3-17-020584-6. 
  6. ^ Treaty between Great Britain and Portugal, January 22, 1815. 5 George IV. London: His Majesty's Statute and Law Printers. 1824. tr. 650. 
  7. ^ Freksa, Frederick. A peace congress of intrigue. trans. Harry Hansen (1919). New York: The Century Co. tr. 116. 
  8. ^ Zamoyski, Adam (2007). Rites of Peace; the Fall of Napoleon and the Congress of Vienna. HarperCollins Publishers. tr. 297. ISBN 978-0-06-077518-6. : "[...] the Danish plenipotentiary Count Rosenkrantz."
  9. ^ Couvée, D.H.; G. Pikkemaat (1963). 1813–15, ons koninkrijk geboren. Alphen aan den Rijn: N. Samsom nv. tr. 123–124. 
  10. ^ "[Castlereagh, during his stay in The Hague, in January 1813] induced the Dutch to leave their interests entirely in British hands." On page 65 of Nicolson (1946).
  11. ^ Nicolson, Harold (1946). The Congress of Vienna; a Study in Allied Unity, 1812–1822. Constable & co. ltd. tr. 197. : "Baron von Gagern – one of the two plenipotentiaries for the Netherlands."
  12. ^ Page 195 of Nicolson (1946).
  13. ^ Zamoyski, Adam (2007). Rites of Peace; the Fall of Napoleon and the Congress of Vienna. HarperCollins Publishers. tr. 257. ISBN 978-0-06-077518-6. : "The Pope's envoy to Vienna, Cardinal Consalvi [...]"
  14. ^ Fritz Apian-Bennewitz: Leopold von Plessen und die Verfassungspolitik der deutschen Kleinstaaten auf dem Wiener Kongress 1814/15. Eutin: Ivens 1933; Hochschulschrift: Rostock, Univ., Diss., 1933
  15. ^ Page 2 of King (2008)
  16. ^ Zamoyski, Adam (2007). Rites of Peace; the Fall of Napoleon and the Congress of Vienna. HarperCollins Publishers. tr. 258, 295. ISBN 978-0-06-077518-6. 
  17. ^ According to King (2008), it was Prince de Ligne, an attendee at the conference, who wryly quipped, “the congress does not move forward, it dances.” ("Le congrès danse beaucoup, mais il ne marche pas.")
  18. ^ William, Sir Ward Adolphus (2009). The Period of Congresses, BiblioLife, p. 13. ISBN 1-113-44924-1
  19. ^ a ă Nicolson, Sir Harold (2001). The Congress of Vienna: A Study in Allied Unity: 1812–1822 Grove Press; Rep. Ed. pp. 140–164. ISBN 0-8021-3744-X
  20. ^ Susan Mary Alsop (1984). The Congress Dances. New York: Harper & Row, Publishers. tr. 120. 
  21. ^ Wenceslao Ramírez de Villa-Urrutia, Marqués de Villa-Urrutia, España en el Congreso de Viena según la correspondencia de D. Pedro Gómez Labrador, Marqués de Labrador. Segunda Edición Corregida y Aumentada (Madrid: Francisco Beltrán, 1928), 13.
  22. ^ Antonio Rodríguez-Moñino (ed.), Cartas Políticas (Badajoz: Imprenta Provincial, 1959), 14 (Letter IV, 10 July 1814). Labrador's letters are full of such pungent remarks, and include his opinions on bad diplomats, the state of the postal system, the weather, and his non-existent salary and coach and accompanying livery for the Congress.
  23. ^ Villa-Urrutia, España en el Congreso de Viena, 61–2. Joseph had left Madrid with a huge baggage train containing pieces of art, tapestries, and mirrors. The most rapacious of the French was Marshal Nicolas Soult, who left Spain with entire collections, which disappeared to unknown, separate locations around the world. According to Juan Antonio Gaya Nuño, at least "[the paintings] have come to spread the prestige of Spanish art around the whole word."
  24. ^ W.H. Zawadzki, "Russia and the Re-Opening of the Polish Question, 1801-1814," International History Review (1985) 7#1 tr 19-44.
  25. ^ Couvée, D.H.; G. Pikkemaat (1963). 1813–15, ons koninkrijk geboren. Alphen aan den Rijn: N. Samsom nv. tr. 127–130. 
  26. ^ a ă Stearns, Peter N. – Langer, William Leonard (2001). The Encyclopedia of world history: ancient, medieval, and modern, Houghton Mifflin Harcourt; 6th ed. p. 440. ISBN 0-395-65237-5
  27. ^ Hammond, Richard James (1966). Portugal and Africa, 1815–1910: a study in uneconomic imperialism (Study in Tropical Development), Stanford Univ Press. p. 2. ISBN 0-8047-0296-9

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chapman, Tim. The Congress of Vienna 1814-1815 (Routledge, 1998)
  • Dakin, Douglas. "The Congress of Vienna, 1814–1815 and its Antecedents" in Alan Sked, ed., Europe's Balance of Power 1815–1848 (London: Macmillan, 1979), pp. 14–33.
  • Ferraro, Guglielmo. The Reconstruction of Europe; Talleyrand and the Congress of Vienna, 1814–1815 (1941)
  • Gulick, E. V. "The final coalition and the Congress of Vienna, 1813-15" in C. W. Crawley, ed., The New Cambridge Modern History, vol 9, 1793-1830 (1965) pp 639–67.
  • Jarrett, Mark (2013). The Congress of Vienna and its Legacy: War and Great Power Diplomacy after Napoleon. London: I. B. Tauris & Company, Ltd. ISBN 978-1780761169.  online review
  • King, David (2008). Vienna 1814; How the Conquerors of Napoleon Made Love, War, and Peace at the Congress of Vienna. Random House Inc. ISBN 978-0-307-33716-0. 
  • Kissinger, Henry A. "The Congress of Vienna: A Reappraisal," World Politics (1956) 8#2 pp. 264–280 in JSTOR
  • Kissinger, Henry (1957). A World Restored; Metternich, Castlereagh and the Problems of Peace, 1812–22. Boston: Houghton Mifflin. 
  • Kraehe, Enno E. Metternich's German Policy. Vol. 2: The Congress of Vienna, 1814–1815 (1984) 443 pp
  • Oaks, Augustus; R. B. Mowat (1918). The Great European Treaties of the Nineteenth Century. Oxford: Clarendon Press.  ("Chapter II The restoration of Europe")
  • Nicolson, Harold (1946). The Congress of Vienna: A Study in Allied Unity, 1812–1822. Constable & co. ltd. 
  • Spiel, Hilde (1968). The Congress of Vienna; an Eyewitness Account. Philadelphia: Chilton Book Co. 
  • Schroeder, Paul W. "Did the Vienna settlement rest on a balance of power?" American Historical Review (1992) 97#3 pp 683–706. in JSTOR
  • Schroeder, Paul W. The Transformation of European Politics, 1763–1848 (1996), pp 517–82 advanced diplomatic history online
  • Vick, Brian. The Congress of Vienna. Power and Politics after Napoleon. Harvard University Press, 2014. ISBN 978-0-674-72971-1.
  • Webster, C.K. "The pacification of Europe" in A.W. Ward and G.P. Gooch, eds. The Cambridge history of British foreign policy, 1783-1919, (1922) Volume 1 ch IV online pp 392–521
    • also published as Webster, Charles. The Congress of Vienna, 1814–1815 (1919), a British perspective
  • Webster, C.K. The Foreign Policy of Castlereagh, 1812–1815, Britain and the Reconstruction of Europe (1931) 618pp online
  • Zamoyski, Adam (2007). Rites of Peace; the Fall of Napoleon and the Congress of Vienna. HarperCollins Publishers. ISBN 978-0-06-077518-6. 

Nguồn chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • British diplomacy, 1813–1815: Select Documents Dealing with the Reconstruction of Europe (1921); 409pp

Nguồn khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ghervas, Stella (2008). Réinventer la tradition. Alexandre Stourdza et l'Europe de la Sainte-Alliance. Paris: Honoré Champion. ISBN 978-2-7453-1669-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tọa độ: 48°12′30″B 16°22′23″Đ / 48,20833°B 16,37306°Đ / 48.20833; 16.37306