Scandinavia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Scandinavia
Scandinavia.svg
Diện tích 928.057 km2 (358.325 sq mi)
Dân số ~21 triệu (2016)
Mật độ dân số 22/km2 (57/sq mi)
Người dân Người Scandinavia
Quốc gia  Đan Mạch
 Na Uy
 Thụy Điển
Đôi khi gồm cả:[1]
 Phần Lan
 Iceland
 Quần đảo Faroe
 Quần đảo Åland
Ngôn ngữ

Ngôn ngữ vùng miền:

Múi giờ UTC+1
UTC+2 (DST)
Tên miền Internet
Scandinavia

Scandinavia (tiếng Việt: Xcan-đi-na-vi hoặc Xcăng-đi-na-vi được phiên âm từ tiếng Pháp: Scandinavie) là khái niệm chỉ một phần hay toàn bộ vùng Bắc Âu. Trong địa lý, bán đảo Scandinavia là bán đảo với xương sống là dãy núi Scandinavia, được bao bọc bởi biển Baltic, biển Bắc, biển Na Uy của Đại Tây Dươngbiển Barents của Bắc Băng Dương. Bán đảo Scandinavia tương đương lãnh thổ đất liền hiện nay của Na Uy, Thụy Điển và một phần miền bắc Phần Lan. Trong lĩnh vực văn hoá, lịch sử và ngôn ngữ, Scandinavia được hiểu bao gồm Đan Mạch, Na UyThuỵ Điển.

Bắc Âu còn bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ khác như Phần Lan, Iceland; đảo Greenland, quần đảo Faroe (thuộc Đan Mạch). Ở các vùng này tiếng Đan Mạchtiếng Thuỵ Điển được coi là ngôn ngữ thiểu số hay ngoại ngữ. Tất cả các nước Bắc Âu là thành viên của Hội đồng Bắc Âu.

Trong một số tài liệu, dựa trên tiêu chí ngôn ngữ, người ta cũng xếp Phần Lan vào khu vực Scandinavia. Số khác cho rằng Phần Lan và Scandinavia là hai khu vực phân biệt, chúng được xếp chung vào một vùng có tên là Fenno-Scandinavia. Trong lịch sử, Phần Lan đã từng là một phần của Thuỵ Điển trong suốt hơn một trăm năm. Ngày nay vẫn còn một bộ phận người thiểu số Thuỵ Điển sống ở Phần Lan. Tiếng Thuỵ Điển cũng là ngôn ngữ chính thứ hai của đất nước này. Tuy nhiên tiếng Phần Lan lại không có mấy điểm tương đồng với ngôn ngữ hàng xóm của họ. Nó cũng không nằm trong nhóm ngôn ngữ German của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu mà thuộc nhóm ngôn ngữ Phần Lan-Ugri của hệ ngôn ngữ Ural. Do lịch sử nhiều năm bị phụ thuộc mà một số người Phần Lan không thích xếp đất nước họ và Thuỵ Điển chung vào một nhóm.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Scandinavia bắt nguồn từ phiên âm Latinh Skathinawjö của một khái niệm viết bằng ngôn ngữ Thuỵ Điển cổ. Ở đây Skathi- có nghĩa là "nguy hiểm" hoặc "thiệt hại", còn –awjö là "đảo" hoặc "bán đảo". Gộp lại, Scandinavia có thể mang nghĩa là "bán đảo nguy hiểm". "Nguy hiểm" ở đây có lẽ chỉ các dòng hải lưu bao quanh bán đảo Scandinavia. Cụm từ Scandinavia ít nhiều có quan hệ ngữ nguyên với các từ như Skåne hay Skanör (tên một vùng đất phía nam Thuỵ Điển). Cũng có người cho rằng sự "nguy hiểm" bên trên chỉ đến các bờ cát tại vùng Skanör rất nguy hiểm cho giao thông đường biển. Một số người lại cho rằng nguồn gốc của Scandinavia liên quan đến tên gọi của nữ thần Skadi (Skade) của người Bắc Âu.

Thuật ngữ "người Scandinavia" cũng dùng để chỉ các dân tộc Bắc German, những người nói ngôn ngữ Scandinavia có nguồn gốc Bắc Âu cổ.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Galdhøpiggen là nơi cao nhất tại Scandinavia, và là một phần của Dãy núi Scandinavia

Địa lý của Scandinavia rất đa dạng. Nổi bật là các vịh hẹp Na Uy, Dãy núi Scandinavia, vùng phẳng, thấp ở Đan Mạch, và các quần đảo của Thụy Điển và Na Uy. Thụy Điển có nhiều hồ và băng tích, còn sót lại từ thời băng hà.

Khí hậu thay đổi từ bắc đến nam và từ tây sang đông; với khí hậu bờ tây hải dương (Cfb) điển hình của Tây Âu tại Đan Mạch, phần xa nhất về phía nam của Thụy Điển và dọc bờ tây của Na Uy cho tới 65°B, với hiện tượng nâng sơn làm tăng giáng thủy (<5000 mm) tại một số vùng ở tây Na Uy. Vùng trung – từ Oslo đến Stockholm – có khí hậu lục địa ẩm (Dfb), và thường chuyển thành khí hậu cận Bắc cực (Dfc) xa hơn về phía nam và khí hậu bờ tây lạnh (Cfc) dọc theo bờ tây bắc. Có một vùng nó dọc bờ bắc phía đông Mũi Bắc có khí hậu lãnh nguyên (Et) do thiếu mùa hè ấm. Dãy núi Scandinavia chặn khí ôn hòa và ẩm từ phía tây nam, do đó bắc Thụy Điển và cao nguyên Finnmarksvidda ở Na Uy có ít giáng thủy và mùa đông lạnh. Có nhiều vùng lớn ở dãy núi Scandinavia có khí hậu lãnh nguyên núi cao.

Nhiệt độ ấm nhất tường được lưu lại ở Scandinavia là 38,0 °C tại Målilla (Thụy Điển).[2] Nhiệt độ lạnh nhất từng được ghi lại là −52,6 °C tại Vuoggatjålme (Thụy Điển).[3] Tháng lạnh nhất là tháng 2 năm 1985 tại Vittangi (Thụy Điển) với nhiệt độ trung bình −27,2 °C.[3]

Gió tây nam sau đó được làm ấm bởi gió foehn có thể tạo ra nhiệt độ ấm tại các vịnh hẹp Na Uy vào mùa đông; Tafjord đã đo được 17,9 °C vào tháng 1 và Sunndal 18,9 °C vào tháng 2.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

historical map of the Swedish Empire
Phạm vi lớn nhất của Đế quốc Thụy Điển (1561–1721)

Trong quá trình Công giáo hóa và lập quốc giữa thế kỷ thứ 10 và 13, các tiểu quốc Germanvà thủ lĩnh được thống nhất thành ba quốc gia:

Liên minh Kalmar năm 1400.

Ba quốc gia Scandinavia năm 1387 tham gia vào Liên minh Kalmar dưới quyền nữ hoàng Margaret I của Đan Mạch. Thụy Điển rời liên minh năm 1523 dưới quyền vua Gustav Vasa. Hậu quả của việc ly khai khỏi liên minh Kalmar của Thụy Điển là nội chiến nổ ra tại Đan Mạch và Na Uy. Tiếp theo đó là cuộc cải cách Tin Lành. Khi mọi thứ đã ổn định, Viện cơ mật Na Uy bị phá bỏ-nó được tập hợp lần cuối vào năm 1537. Một liên minh cá nhân, tham gia bởi các vương quốc Đan Mạch và Na Uy năm 1536, kéo dài đến năm. Ba nước thừa kế độc lập sau đó đươc thành lập từ liên minh không bình đẳng này: Đan Mạch, Na Uy và Iceland.

Biên giới giữa ba nước có hình dạng như bây giờ kể từ giữa thế kỷ 17: Năm 1645 Hiệp ước Brömsebro, Đan Mạch–Na Uy nhượng các tỉnh của Na Uy gồm Jämtland, Härjedalen và Idre & Särna, cũng như các đảo tại biển Baltic Sea gồm Gotland và Ösel (Estonia) cho Thụy Điển. Hiệp ước Roskilde, được ký vào năm 1658, bắt Đan Mạch–Na Uy nhượng các tỉn của Đan Mạch gồm Scania, Blekinge, Halland, Bornholm và các tỉnh của Na Uy gồm BåhuslenTrøndelag cho Thụy Điển. Hòa ước Copenhagen bắt Thụy Điển trả Bornholm và Trøndelag cho Đan Mạch–Na Uy, và từ bỏ yêu sách nhận chủ quyền hòn đảo Funen.[5]

Ở phía đông, Phần Lan, từng là một phần được sáp nhật hoàn toàn vào Thụy Điển từ thời Trung cổ cho tới chiến tranh Napoleon, khi nó nhượng lại cho Nga. Mặt dù có nhiều cuộc chiến kể từ khi ba quốc gia thành lập, Scandinavia đã luôn đóng cửa về mặt chính trị và văn hóa.

Sự tương đồng trong quốc kỳ các nước Scandinavia[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm đặc biệt đáng ghi chú là các cờ đều có chung hình thập tự gọi là thập tự Scandinavia, bắt nguồn từ quốc kỳ của nước Đan Mạch.

Đan Mạch (Danmark)
Flagge Dänemarks Quốc kỳ Đan Mạch có tên là Dannebrog, là biểu hiệu của quân thập tự vào thời Trung cổ. Đây là lá cờ chính quyền cổ xưa nhất còn được dùng đến ngày nay.
Thuỵ Điển (Sverige)
Flagge Schwedens Quốc kỳ Thụy Điển có màu nền xuất phát từ màu của huy hiệu hoàng gia, tương tự nguồn gốc màu của lá cờ Đan Mạch
Na Uy (Norge/Noreg)
Flagge Norwegens Quốc kỳ Na Uy chỉ dựa một phần vào màu của huy hiệu gia đình nhà vua. Nó dựa vào lá cờ của Đan Mạch. Từ năm 1380 cho tới 1814, Na Uy thuộc Liên minh Đan Mạch-Na Uy, coi như là một phần của Đan Mạch. Màu xanh ở đây biểu tượng cho màu xanh đậm của Fjord và không khí trong lành.
Phần Lan (Suomi/Finland)
Flagge Finnlands
Quốc kỳ Phần Lan được gọi là Siniristilippu ("cờ chữ thập xanh"). Những màu sắc trên lá cờ biểu hiện các đặc điểm thiên nhiên của đất nước này. Màu xanh lam tượng trưng cho bầu trời và sông hồ, còn màu trắng tượng trưng cho tuyết và những đêm trắng, một hiện tượng thiên nhiên thường thấy vào mùa hè tại Phần Lan.
Iceland (Ísland)
Nationalflagge Islands Quốc kỳ Iceland gồm nền cờ màu lam, trên có chữ thập màu trắng và màu đỏ. Màu lam biểu thị cho đại dương, màu trắng biểu thị tuyết trắng, hai màu này là quốc sắc của Iceland. Thập tự đỏ phản ánh lịch sử Iceland từng thuộc nước Đan Mạch. Cho tới 1944 Iceland là một phần của Đan Mạch.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Scandinavia

Dãy núi Scandinavia

Bắc Âu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Definition of Scandinavia in English”. Oxford Dictionaries. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ Högsta uppmätta temperatur i Sverige Lưu trữ 26 August 2010 tại Wayback Machine.
  3. ^ a ă Lägsta uppmätta temperatur i Sverige Lưu trữ 28 December 2008 tại Wayback Machine.
  4. ^ Oskar Bandle (2002). The Nordic languages: an international handbook of the history of the North Germanic languages. Mouton De Gruyter. ISBN 978-3-11-014876-3. 
  5. ^ "Treaty of Copenhagen" (2006). In Encyclopædia Britannica. Retrieved 9 November 2006, from Encyclopædia Britannica Online.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]