Vương quốc Lập hiến Ba Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Królestwo Polskie (tiếng Ba Lan)
Царство Польское (tiếng Nga)
Kongresówka.JPG
Quốc kỳ
Hành chính
Chính phủ Constitutional monarchy
Lập pháp Sejm
Thủ đô Warszawa
52°14′B, 21°1′Đ

Vương quốc Lập hiến Ba Lan (tiếng Ba Lan: Kongresówka) hay Vương quốc Ba Lan (tiếng Ba Lan: Królestwo Polskie; tiếng Nga: Царство Польское, Tsarstvo Polskoye)[1] là một nhà nước bù nhìn[2][3] dưới sự cai trị của Đế quốc Nga từ năm 1815 đến 1915, ở trong liên hiệp pháp nhân về mặt hiến pháp. Nó cũng được gọi không chính thức là Ba Lan thuộc Nga.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Lập hiến Ba Lan đã được thành lập từ Công quốc Warszawa tại Hội nghị Wien năm 1815, khi các quốc gia châu Âu tổ chức lại châu Âu sau các cuộc chiến tranh Napoléon. Tầm quan trọng của Hội nghị đã cho đưa đến tên gọi cho quốc gia này[4][5] Trong khi vương quốc này mất tư cách là một quốc gia bán độc lập năm 1831 và kể từ đó ngày càng hợp nhất gần hơn với Nga, tổ chức hành chính của nó đủ riêng biệt về tên gọi để vẫn được sử dụng chính thức ở Nga, dù các năm cuối thuộc cai trị của Nga, nó thường bị thay thế, dẫu không chính thức[6], with the Vistulan Country (Russian: Privislyansky Krai), after all of its separate institutions and administrative arrangements were abolished as part of increased Russification attempts after the defeat of the November Uprising. Tuy nhiên, ngay cả sau cuộc thôn tín chính thức hóa này, lãnh thổ này vẫn giữ được mức độ riêng biệt bên trong Đế quốc Nga và đã tiếp tục được gọi không chính thức là Vương quốc Lập hiến Ba Lan cho đến khi sự cai trị của Nga ở đây đã chấm dứt do quân đội của Các cường quốc Trung tâm tiến vào năm 1915 trong Thế chiến thứ nhất.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Although Kingdom of Poland là tên chính thức một nhà nước, để phân biệt với các vương quốc Ba Lan, nó thường được gọi là Vương quốc Lập hiến Ba Lan. Suốt thế kỷ 19, thuật ngữ Vương quốc Lập hiến Ba Lan tiếp tục được sử dụng liên hệ tới các lãnh thổ này, dù thực thể chính trị mà chúng có mối liên hệ đã không còn tồn tại. Thuật ngữ Kongresówka hiện được sử dụng trong tiếng Ba Lan như là một thuật ngữ hơi xúc phạm đối với các cư dân sống ở miền trung Ba lan, những người được một số cư dân của Galicia của Áo trước đây coi là thô lỗ, vô học và man rợ.[cần dẫn nguồn]
  2. ^ Harold Nicolson, The Congress of Vienna: A Study in Allied Unity: 1812–1822, Grove Press, 2001, ISBN 0-802-13744-X, p171
  3. ^ Alan Warwick Palmer, Twilight of the Habsburgs: The Life and Times of Emperor Francis Joseph, Atlantic Monthly Press, 1997, ISBN 0-871-13665-1, p7
  4. ^ Czesław Miłosz, [1] The history of a Polish literature], University of California, 1983, ISBN 0520044770, p196]
  5. ^ Harold Nicolson, The Congress of Vienna: A Study in Allied Unity: 1812–1822, Grove Press, 2001, ISBN 0-802-13744-X, pp179–180]
  6. ^ “Kingdom of Poland”. The Brockhaus and Efron Encyclopedia (1890–1906). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2006.