Lịch sử chế độ nô lệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Lịch sử chế độ nô lệ kéo dài qua nhiều nền văn hóa, quốc tịchtôn giáo từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, vị trí xã hội, kinh tế và pháp lý của các nô lệ đã khác nhau rất nhiều trong các hệ thống nô lệ khác nhau ở những thời điểm và địa điểm khác nhau.[1]

Chế độ nô lệ xảy ra tương đối hiếm khi giữa các quần thể thợ săn hái lượm [2] vì nó phát triển trong các điều kiện phân tầng xã hội.[3] Chế độ nô lệ hoạt động trong các nền văn minh đầu tiên (như SumerMesopotamia,[4] có từ năm 3500 TCN). Các đặc điểm nô lệ trong Bộ luật Lưỡng Hà của người Lưỡng Hà (khoảng năm 1860 TCN), trong đó đề cập đến nó như là một tổ chức được thành lập.[5] Chế độ nô lệ trở nên phổ biến ở hầu hết châu Âu trong thời kỳ đầu Trung cổ và nó tiếp tục trong các thế kỷ tiếp theo. Các cuộc chiến tranh Byzantine-Ottoman (1265-1479) và các cuộc chiến Ottoman ở châu Âu (thế kỷ 14 đến thế kỷ 20) đã dẫn đến việc bắt giữ một số lượng lớn nô lệ Kitô giáo. Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh và một số vương quốc Tây Phi đã đóng một vai trò nổi bật trong buôn bán nô lệ Đại Tây Dương, đặc biệt là sau năm 1600. Cộng hòa Ragusa trở thành quốc gia châu Âu đầu tiên cấm buôn bán nô lệ vào năm 1416. Trong thời hiện đại, Đan Mạch-Na Uy đã bãi bỏ việc buôn bán nô lệ vào năm 1802.

Mặc dù chế độ nô lệ không còn hợp pháp ở bất cứ nơi nào trên thế giới (ngoại trừ lao động hình sự),[6] nạn buôn người vẫn là một vấn đề quốc tế. Tính đến năm 2013 ước tính 25-40 triệu người đã bị bắt làm nô lệ, phần lớn ở châu Á.[7] Trong cuộc nội chiến Sudan lần thứ hai năm 1983, người dân đã bị bắt làm nô lệ.[8] Bằng chứng xuất hiện vào cuối những năm 1990 của chế độ nô lệ trẻ em có hệ thống và buôn bán người trên các đồn điền ca cao ở Tây Phi.[9]

Chế độ nô lệ trong thế kỷ 21 vẫn tiếp tục, với mười quốc gia hàng đầu có tỷ lệ phổ biến cao nhất theo Chỉ số nô lệ toàn cầu là Bắc Triều Tiên, Eritrea, Burundi, Cộng hòa Trung Phi, Afghanistan, Mauritania, Nam Sudan, Pakistan, Campuchia và Iran.[10] Mặc dù Mauritania đã hình sự hóa chế độ nô lệ vào tháng 8 năm 2007,[11] ước tính có khoảng 600.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em, 20% dân số Mauritania, hiện đang bị bắt làm nô lệ, nhiều người được sử dụng làm lao động để trả nợ.[12] Các tổ chức Hồi giáo như Nhà nước Hồi giáo Iraq và LevantBoko Haram đã bắt cóc và phụ nữ và trẻ em làm nô lệ (thường để làm nô lệ tình dục).[13][14]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Klein, Herbert S.; III, Ben Vinson (2007). African Slavery in Latin America and the Caribbean (ấn bản 2). New York [etc.]: Oxford University Press. ISBN 978-0195189421.
  2. ^ Smith, Eric Alden; Hill, Kim; Marlowe, Frank; Nolin, David; Wiessner, Polly; Gurven, Michael; Bowles, Samuel; Mulder, Monique Borgerhoff; Hertz, Tom (tháng 2 năm 2010). “Wealth Transmission and Inequality Among Hunter-Gatherers”. Current Anthropology. 51 (1): 19–34. doi:10.1086/648530. PMC 2999363. PMID 21151711. Summary characteristics of hunter-gatherer societies in the Standard Cross-Cultural Sample (SCSS). [...] Social stratification [:...] Hereditary slavery 24% [...].
  3. ^ Wanzola, Hamba (ngày 30 tháng 11 năm 2012). Rediscovering the Hidden World: The Changing Human Geography of Kongo. Xlibris Corporation. tr. 72. ISBN 978-1479751914. Slavery is rare among hunter-gatherer populations as slavery depends on a system of social stratification.
  4. ^ Tetlow, Elisabeth Meier (2004). “Sumer”. Women, Crime and Punishment in Ancient Law and Society: Volume 1: The Ancient Near East. Women, Crime, and Punishment in Ancient Law and Society. 1. New York: A&C Black. tr. 7. ISBN 9780826416285. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2019. In Sumer, as in most ancient societies, the institution of slavery existed as an integral part of the social and economic structure. Sumer was not, however, a slavery based economy.
  5. ^ “Mesopotamia: The Code of Hammurabi”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011. e.g. Prologue, "the shepherd of the oppressed and of the slaves" Code of Laws No. 307, "If any one buy from the son or the slave of another man".
  6. ^ “Anti-Slavery Society”. Anti-slaverysociety.addr.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2011.
  7. ^ “Inaugural Global Slavery Index Reveals more Than 29 Million people Living In Slavery”. Global Slavery Index 2013. ngày 4 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013.
  8. ^ “Slavery, Abduction and Forced Servitude in Sudan”. US Department of State. ngày 22 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2014.
  9. ^ 5 Minutes 10 Minutes. “West is master of slave trade guilt”. Theaustralian.news.com.au. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2011.
  10. ^ “10 countries with the highest prevalence of modern slavery”. Global Slavery Index (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  11. ^ “Mauritanian MPs pass slavery law”. BBC News. ngày 9 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2011.
  12. ^ “The Abolition season on BBC World Service”. BBC. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2011.
  13. ^ Spencer, Richard (ngày 14 tháng 10 năm 2014). “Monday ngày 20 tháng 10 năm 2014 Thousands of Yazidis sold as sex slaves, say Isil”. Irish Independent. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2014.
  14. ^ McPhee, Rod. “The schoolgirls stolen as sex slaves by Nigeria's anti-education jihadists Boko Haram”. Daily Mirror (ngày 3 tháng 5 năm 2014). Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2014.